undefined

Định mệnh có thật hay không? - Phần 28

Thứ tư 21/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản văn hóa thông tin

Nhưng với hình thức thể hiện bằng ngôn ngữ Hán đó, không phải là bằng chứng sắc sảo biện minh cho một nội dung đầy mơ hồ và mâu thuẫn. Bởi vậy, hoàn toàn có cơ sở hợp lý khi cho rằng: thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về một nền văn minh khác đã bị Hán hoá một cách không hoàn chỉnh và bị sai lệch. Điều này không chỉ giải thích sự mơ hồ và đầy mâu thuẫn trong văn bản chữ Hán. Nó còn có khả năng và phục hồi lại hệ thống lý thuyết và khả năng lý giải những vấn đề liên quan tới nó. Nền văn minh chủ nhân của học thuyết này chính là nền văn minh Lạc Việt. Chúng ta cũng biết rằng: Người Ai Cập hiện nay – với sự suy tàn của một nền văn minh cổ đại kỳ vĩ và khi người giáo sĩ cuối cùng của họ mất đi vào đầu thế kỷ trước – cũng không thể đọc được những ký tự ghi trong Kim Tự Tháp do chính tổ tiên của họ để lại. Sự giải mã những ký tự này thuộc về một nhà nghiên cứu Pháp. Ấy là lịch sử thăng trầm của người Ai Cập không thấy ghi nhận sự huỷ diệt văn hoá khốc liệt. Trong khi đó, với một đế chế Hán thống trị hàng ngàn năm, đường nhiên phải có sự thống nhất về văn tự và ngôn ngữ chính thống. Trong hàng ngàn năm đô hộ đó, việc chuyển đổi những bản văn khác chữ Hán sang văn tự chính thống được công nhận là điều dễ hiểu. Nếu như chúng ta có thể thắc mắc về những tên tuổi cụ thể của tác giả những bản văn đó như: Lã Bất Vi với Lã Thị Xuân Thu, Khổng Tử với Kinh Dịch... thì người viết xin được giải đáp là: Chính những tên tuổi cụ thể tồn tại hàng ngàn năm đó, đã tạo nên sự ô lý trong tương quan thời gian lịch sử tạo ra nó. Người ta không thể tạo ra một tri thức vũ trụ quan siêu việt vào thời tiền Trung cổ. Huống chi đây lại chỉ là những mảnh rời rạc của hệ thống tri thức đó. Điêù này giống như nói về một ông Smit nào đó, ở thế kỷ thứ X đã tìm ra thuyết tương đối rộng vậy. Nhưng ngay cả những hiện tượng nêu ra và chứng minh ở trên cũng không phải là luận cứ duy nhất.


Bởi vì, để có một siêu lý thuyết như vậy (Lý thuyết thống nhất), nó chỉ có thể xuất hiện trong một xã hội phát triển đều khắp về mọi mặt và có tính toàn cầu. Chiếc điện thoại di động là một thí dụ về hiện tượng này. Nền văn minh Hoa Hạ không thể là chủ nhân của học thuyết này vào thời tiền Trung Cổ trong lịch sử văn minh nhân loại hiện tại. Với luận điểm trên, vậy nền văn minh Lạc Việt có phải chủ nhân của học thuyết Âm Dương Ngũ hành với những phương pháp tiên tri siêu việt của nó hay không? Câu trả lời sẽ là “không”; nếu chúng ta không giới hạn sự phát triển lịch sử nền văn minh nhân loại trong giai đoạn nhận thức được hiện nay là khoảng 6 hoặc 10.000 năm. Vì vậy, với tính hợp lý vốn là một yêu cầu khắt khe cho một giả thuyết khoa học, chúng ta phải tìm một nền văn minh đã tồn tại trước giai đoạn lịch sử văn minh hiện nay.


Trong trục Đông Tây của trái đất, những nhà khoa học đã tìm thấy những dấu tích của một nền văn minh kỳ vĩ gây ngạc nhiên cho trí thức khoa học hiện đại. Những Kim tự tháp từ Ai Cập đến trung Mỹ, tượng khổng lồ trên đảo Phục Sinh, những đài quan sát thiên văn bằng đá thuộc về nền văn minh Maya... Một điều rất đáng chú ý là: Hầu như tất cả đều chứng tỏ một trí thức thiên văn kỳ vĩ trong đó có cả trống đồng Lạc Việt... các nhà nghiên cứu đã xếp tất cả những di sản đó vào nền văn minh Cổ đại trong lịch sử phát triển của nền văn minh hiện nay. Đây là một sai lầm! Bởi vì, với cách sắp xếp như vậy, họ không thể nào giải thích được sự kỳ vĩ của những tri thức trong những di sản đó. Hay nói một cách khác: Cách sắp xếp này đã tạo ra một mâu thuẫn giữa một xã hội lạc hậu vào thời cổ đại với tri kiến kỳ vĩ thể hiện ở những di vật được gán cho thời cổ đại này.


Những điều đáng chú ý và liên quan đến vấn đề trình bầy ở đây là: tất cả những di vật cổ đại đó, đều là những di sản văn hóa vật thể, mà giá trị nội dung của nó, đôi khi phụ thuộc vào khả năng suy luận của tri thức. Nhưng những điều người viết sẽ trình bầy với bạn đọc ở dưới đây là những sản phẩm văn hoá phi vật thể, thuộc về những nền văn minh cổ, trong nhận thức lịch sử văn minh hiện tại.Những nền văn minh này không hề có sự liên hệ giao lưu văn hoá trong lịch sử, nhưng lại có sự trùng khớp kỳ lạ chứng tỏ tính nhất quán về tri thức và sự thống nhất về cội nguồn văn hoá.
Trước hết bạn đọc quán xét và so sánh hình dưới đây:

Hình chữ Vạn và Đường cong vận động biểu kiến của các Thiên hà trong vũ trụ

Qua hình trên, chúng ta có thể ý niệm được ngay một sự liên quan giữa hình chữ Vạn ngược và hình biểu kiến sự vận động của các Thiên Hà. Chữ Vạn là biểu tượng của Phật pháp thể hiện nội dung chính của Phật học là sự luân hồi nhân quả. Đó chính là biểu tượng cô đọng nhất sự vận động của vũ trụ và những quy luật của nó bao trùm lên cả kiếp người. Về nội dung và hình thức của hai biểu tượng này hoàn toàn trùng khớp.


Các nhà khoa học đã phát hiện những di vật mang hình chữ Vạn trong các cổ vật có niên đại từ 8/10.000 năm ở vùng Nam Á. Điều này chứng tỏ những tri kiến vũ trụ cao cấp đã tồn tại từ thời xa xưa trên trái đất, trước khi nền văn minh hiện tại phát hiện ra những đường cong vận động củA$vũ trụ hiện nay.


Điều đáng lưu ý là: Nền thiên văn vũ trụ hiện nay mới chỉ phát hiện những đường cong xoắn ốc là quỹ đạo cho sự vận động của các Thiên Hà và chưa hiểu hết nội dung của nó. Còn ở nền văn minh chủ nhân của chữ Vạn đã biểu tượng hoá những đường cong này và thể hiện trong cuộc sống thường nhật qua các di vật đã tìm được.


Hình chữ Vạn ngược chính là biểu tượng cho quỹ đạo vận động của các Thiên Hà. Hình chữ Vạn xuôi chính là biểu tượng cho sự tương tác của vũ trụ.


Có thể nói rằng: trong những di sản văn hoá phi vật thể thuộc về nền văn minh Lạc Việt còn rất nhiều biểu tượng liên quan đến tri kiến vũ trụ kỳ vĩ. Nhưng do giới hạn của chủ đề, người viết hy vọng sẽ tường trong một chủ đề khác. Chúng ta tiếp tục so sánh và quán xét di sản văn hoá phi vật thể Lạc Việt trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái (Lý thuyết thống nhất) với các di sản phi vật thể khác của các nền văn minh cổ sau đây:

1- Ngôi sao David của dân tộc Do Thái và Hậu thiên Bát quái Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn & Khôn)

Qua hình trên, quí vị cũng thấy sự trùng khớp về nội dung và hình thức cho hai biểu tượng. Ngôi sao David: Biểu tượng của sức mạnh vũ trụ cho sự phát triển và huỷ diệt. Cũng là nội dung cấu trúc biểu tượng của HTBQ. Âm dương tiêu trưởng và liên hệ với Địa Cầu. Chỉ có HTBQ đỗi chỗ Tốn và Khôn mới có thể kết hợp hai quái điên đảo dịch thành một cặp quái bất dịch, tạo thành 6 cực như ngôi sao David.

2- 64 quẻ Chu Dịch và 32 lá bài Tây huyền bí
Nếu quí vị sắp 64 quẻ Dịch thuộc hệ thống Hậu Thiên Bát quái thành 32 cặp quẻ có số thứ tự chẵn lẻ liên tiếp. Càn/1 & Khôn/2; Truân/3 & Mông/4.... đến hết 64 quẻ, chúng sẽ có tính chất sau đây:
* Khi sắp như vậy ta sẽ có 32 cặp quẻ hoàn toàn trùng khớp với một phương pháp bói bài tây dùng 32 lá.
* Các cặp quẻ đều có tính đối xứng Âm Dương và hình tượng. Điều này trùng khớp với 32 lá bài Tây cũng có tính đối xứng qua hình tượng mỗi lá bài.
* Trong bộ bài 52 lá, khi bói người ta bỏ tất cả các lá bài có số từ 2 đến 6. đây chính là số Cục của Tử Vi: Từ hoả Nhị cục đến Thuỷ Lục cục (Theo Lạc thư hoa giáp).
Xin xem hình dưới đây:

3- Hậu thiên bát quái Lạc Việt & Hà Đồ với 4 chất trong bộ bài Tây
Khi Hậu thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ, chúng ta quán xét so sánh với 4 chất Cơ/ Rô/ Chuồn/ Pic trong bài Tây lại có sự trùng khớp sau đây:
* Bích => Tính xui xẻo, hiểm độc cùng tính chất với quẻ Khảm /Thuỷ/ Bắc => thay quái Khảm/Thuỷ/ Bắc trên Hà đồ.
* Chuồn => Sự phát triển, cùng tính chất với Chấn/ Mộc/ Đông 154
=> Thay thế Quái/ Chấn/ Mộc/ Đông trên Hà Đồ.
* => Tình yêu, tình cảm, biểu tượng trái tim cùng với tính chất của quái Ly/ Quân Hoả: Trái Tim/ Nam, thay thế quái Ly/ Hoả/ Nam trên Hà Đồ.
* => Sự may mắn, hạnh phúc cùng tính chất với quái Đoài/ Kim/ Tây, Thay thế quái Đoài/ Kim/ Tây trên Hà Đồ.
Sự trùng hợp này còn thể hiện rõ hơn cho hiện tượng và vấn đề người viết đã tường ở trên: Thuỷ & Mộc thuộc Âm (Dùng độ số Âm trong Hoàng Đế nội kinh).
Hoả và Kim thuộc Dương (Dùng độ số Dương trong Hoàng Đế nội kinh). Khi đặt các lá bài trên cùng tính chất và hình tượng vào Hà Đồ, chúng cũng phân biệt thành hai màu rõ rệt: Đỏ (Dương) và Đen (Âm). Xin xem hình sau đây:

* Hai lá bài “Phăng” phải chăng là biểu tượng/ biểu kiến của hai số 5 /10 thuộc Thổ ở trung cung Hà Đồ: “Vạn vật qui ư Thổ”. Hai lá bài “Phăng” chấm dứt tất cả cuộc chi sát phạt của bộ bài Tây.

4- Văn minh Sumer (Irak) với Hậu Thiên Bát quái Lạc Việt.
Những bản văn bằng đất sét tìm thấy ở Sumer có niên đại ước tính từ 6 đến 8000 năm trước Cn có một trong những nội dung sau:

"Ai là kẻ thanh cao trên trời?
Chỉ có ba!
Ai là kẻ thanh cao dưới đất?
Chỉ có ba!"

Trong kinh Dịch - khi nói đến những hiện tượng sau khi vũ trụ đã hình thành - khái niệm Trời Đất thay thế cho Âm Dương trong sự miêu tả tương quan các vấn đề và hiện tượng cho sự tương tác này. Cấu trúc của Hậu thiên bát quái Lạc Việt cũng trùng khớp về nội dung và hình thức biểu tượng với câu trên. Xin bạn đọc xem hình dưới đây:

Qua hình trên thì Hậu Thiên Bát quái đổi chỗ Tốn và Khôn tạo thành 6 cực (Do sự kết hợp Tốn Đoài và Cấn Chấn tạo thành 2 cặp bất dịch) và phân làm hai phần:
* Phần Âm: Khảm/ Khôn/ Tốn & Đoài => Số hào Âm trội hơn hào Dương, dưới đất (Âm) chỉ có 3.
* Phần Dương: Càn/ Ly/Cấn & Chấn => Số hào Dương trội hơn hào Âm, trên trời (Dương) chỉ có 3.

Như vậy: Những nguyên lý khởi nguyên của vũ trụ và sự tương tác với Địa Cầu đã được thể hiện qua những giá trị văn hoá phi vật thể của các nền văn minh cổ có sự trùng hợp gần như hoàn toàn về nội dung và sự biểu kiến của nội dung qua hình tượng thể hiện với nền văn minh Lạc Việt (Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán/ HTBQ đổi chỗ Tốn Khôn liên hệ với Hà Đồ).

Những hiện tượng di sản văn hoá phi vật thể này thuộc về những nền văn minh cổ không hề có sự giao lưu văn hoá ở thời điểm những hiện tượng đó xuất hiện trong nhận thức lịch sử hiện đại. Như vậy, sự lý giải hợp lý cho tất cả những hiện tượng văn hóa vật thể và phi vật thể mà di sản còn để lại thuộc về những nền văn minh cổ đã trình bày ở trên sẽ là:
* Chúng phải có chung một cội nguồn văn hoá, xuất phát từ một nền văn minh cao cấp có tính toàn cầu. Thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ – đã hoàn chỉnh ở nền văn minh này và đã ứng dụng trên thực tế (tính tiên tri qua phương pháp bói bài Tây và bói Dịch...).Bởi vì, không thể có một nền văn minh cao cấp đạt đến trình độ siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ, lại chỉ có thể được phát hiện riêng rẽ và ứng dụng ở từng miền khác nhau trên trái Đất và không có giao lưu văn hoá (Vào thời cổ đại trong lịch sử văn minh hiện đại, theo nhận thức lịch sử hiện nay). Thực trạng xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay với sự trao đổi thông tin toàn cầu mà mới chỉ mơ ước tới một siêu lý thuyết và còn chưa biết nó có hiện hữu hay không, đã chứng tỏ điều này.
* Nền văn minh này đã bị huỷ diệt, chính những bộ phận nhân loại còn sống sót ở những vùng khác nhau trên trái đất đã lưu giữ trong ký ức của họ những biểu tượng của siêu lý thuyết này và loài người đã phải làm lại từ đầu để tạo dựng nên lịch sử văn minh hiện nay. Điều này giải thích khi các vùng văn minh khác nhau của nhân loại giao lưu, hội nhập thì chúng ta lại có sự trùng khớp những dấu ấn cổ xưa của một nền văn minh cao cấp mà các bộ phận khác nhau của nhân loại còn giữ được.
* Sự hợp lý của việc đổi chỗ Tốn và Khôn cũng như sự chứng minh Hậu Thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ, không chỉ dừng lại ở việc giải thích những luận đề bí ẩn trong các phương pháp ứng dụng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà còn chứng tỏ sự hợp lý trong việc tiếp tục phát triển và lý giải những hiện tượng xứng đáng với nội dung của nó: Lý thuyết thống nhất vũ trụ. Bởi vậy, chính những tên tuổi cụ thể được nhắc tới với tư cách là tác gia làm nên thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Hoa Hạ, chínhlà sự tự phản bác, bởi nội dung kỳ vĩ của học thuyết này hoàn toàn không phù hợp với nền văn minh tiền Trung cổ của lịch sử hiện đại.
* Từ những sự liên hệ trên và sự chứng minh liên quan đến nó: Đã chứng tỏ tổ tiên của người Lạc Việt chính là hậu duệ của nền văn minh kỳ vĩ đã tồn tại trên Địa cầu. Chính các ngài đã tạo dựng nên nước Văn Lang khởi nguồn của nền văn hiến trải gần 5000 năm của chúng ta hiện nay bằng những tri kiến của Tiên thánh và sức mạnh vũ trụ. Sức mạnh của Rồng. Thật tiếc thay! Trí tuệ siêu việt, nhưng lực bất tòng tâm. Nền văn minh Lạc Việt đã sụp đổ gần như cùng đồng thời với nền văn minh anh em của nó: Văn minh Kim Tự Tháp ở Ai Cập, thế kỷ thứ III tr.CN. Phải chăng, một định mệnh đã được an bài hay là sự thịnh suy theo vòng tuần hoàn của trời, đất?
Chính những nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng thừa nhận một nền văn minh đã tồn tại ở miền Nam sông Dương Tử và nền văn minh này đã biến mất một cách bí ẩn vào khoảng 2000 năm trước. Tức là tương đường thời điểm sụp đổ của văn minh Văn Lang. Xin bạn đọc xem đoạn trích dẫn dưới đây:

Phát hiện mộ cổ bí ẩn ở Trung Quốc
Các nhà khảo cổ nước này (Trung Quốc)vừa khai quật một ngôi mộ hơn 2.500 tuổi, có thể thuộc về một vị vua của triều đại Ba (Ba Kingdom) bí ẩn. Ngoài 500 đồ vật bằng đồng, trong mộ còn có bộ xương của 2 người đàn bà và một người đàn ông, mặt ngửa lên trời và hướng về phía đông.
Nhóm nghiên cứu cho rằng đó có thể là những tuỳ tùng hoặc chư hầu được chôn cùng vị vua. Nếu được xác nhận, đây sẽ là phát hiện khảo cổ quan trọng nhất liên quan tới triều đại Ba.
Ngôi mộ nằm ở Luo Jiaba, tỉnh Tứ Xuyên, mang đặc điểm điển hình của một ngôi mộ thuộc đẳng cấp cao nhất trong số các ngôi mộ thuộc triều đại Ba đã được tìm thấy. 31 ngôi mộ khác cũng đã được khai quật ở khu vực. Hầu hết các đồ đồng là vũ khí (như giáo, gươm, dao găm và rìu), hay các vật cúng tế tương ứng với vị trí tối cao của chủ nhân ngôi mộ.
Triều đại Ba bao trùm các vùng Tứ Xuyên, Hồ Nam và nhiều nơi khác ở miền nam Trung Quốc trước khi biến mất một cách bí ẩn khoảng 2.000 năm trước đây. Người dân thời đại này được miêu tả là những chiến binh hiếu chiến và gan dạ. Tuy vậy, nguồn gốc, cấu trúc xã hội và văn hoá của họ vẫn còn là một điều bí ẩn.

Minh Thi (theo Tân Hoa xã)
Trích VnExpress 1/7/2003

Cổ sử và truyền thuyết Việt Nam ghi nhận: Nước Văn Lang – cội nguồn của nền văn hiến trải gần 5000 của dân tộc Việt – Bắc giáp Động Đình hồ; Tây giáp Ba Thục; Đông giáp Đông Hải; Nam giáp Hồ Tôn. Tức là bao trùm “Các vùng Tứ Xuyên, Hồ Nam và nhiều nơi khác ở miền nam Trung Quốc”. Thời điểm: “Biến mất một cách bí ẩn khoảng 2000 năm trước đây” hoàn toàn trùng hợp với sự ghi nhận trong sách sử cũ và truyền thuyết Việt Nam về sự sụp đổ của nền văn minh Văn Lang (258 trước Cn). Qua sự kiện trên đây là một yếu tố minh chứng khoa học cho sự liên hệ giữa “Nước Ba” và Văn Lang. Do đó, việc cho rằng: Nước Văn Lang chỉ là “một nhà nước sơ khai” hay “thực chất chỉ là một liên minh bộ lạc” là hoàn toàn do sự suy luận chủ quan không hề có cơ sở khoa học. Nhưng ngay cả sự kiện này – do chính những nhà nghiên cứu Trung quốc phát hiện và thừa nhận về một quốc gia ở miền nam sông Dương Tử – cũng chỉ là một yếu tố sắc sảo làm sáng tỏ thêm những luận cứ khoa học, nhằm chứng minh cho cội nguồn gần 5000 văn hiến của dân tộc Việt.
Qua những hiện tượng và vấn đề nêu trên – thuộc những di sản văn hoá phi vật thể cổ – nhằm minh chứng cho cội nguồn của thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ của nhân loại đã bị huỷ diệt; và văn minh Lạc Việt là hậu duệ đích thực của một nền văn minh này. Nhưng đấy cũng không phải là phương pháp chứng minh duy nhất nhằm chứng tỏ một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ của nhân loại đã bị huỷ diệt. Xin bạn đọc xem tiếp những phần sau đây, chứng tỏ điều này.

 

Mời xem các phần khác:

  1. Định mệnh có thật hay không? - Lời bạch
  2. Định mệnh có thật hay không? - Phần 1
  3. Định mệnh có thật hay không? - Phần 2
  4. Định mệnh có thật hay không? - Phần 3
  5. Định mệnh có thật hay không? - Phần 4
  6. Định mệnh có thật hay không? - Phần 5
  7. Định mệnh có thật hay không? - Phần 6
  8. Định mệnh có thật hay không? - Phần 7
  9. Định mệnh có thật hay không? - Phần 8
  10. Định mệnh có thật hay không? - Phần 9
  11. Định mệnh có thật hay không? - Phần 10
  12. Định mệnh có thật hay không? - Phần 11
  13. Định mệnh có thật hay không? - Phần 12
  14. Định mệnh có thật hay không? - Phần 13
  15. Định mệnh có thật hay không? - Phần 14
  16. Định mệnh có thật hay không? - Phần 15
  17. Định mệnh có thật hay không? - Phần 16
  18. Định mệnh có thật hay không? - Phần 17
  19. Định mệnh có thật hay không? - Phần 18
  20. Định mệnh có thật hay không? - Phần 19
  21. Định mệnh có thật hay không? - Phần 20
  22. Định mệnh có thật hay không? - Phần 21
  23. Định mệnh có thật hay không? - Phần 22
  24. Định mệnh có thật hay không? - Phần 23
  25. Định mệnh có thật hay không? - Phần 24
  26. Định mệnh có thật hay không? - Phần 25
  27. Định mệnh có thật hay không? - Phần 26
  28. Định mệnh có thật hay không? - Phần 27
  29. Định mệnh có thật hay không? - Phần 29
  30. Định mệnh có thật hay không? - Thay phần kết