Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rở anh em thuận hoà
Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang
Hồ Chí Minh

Định mệnh có thật hay không? - Phần 17
Thứ ba 20/05/2008 12:00:00 (GMT +7)
Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản văn hóa thông tin
Từ ngữ Ngũ hành đã có trong một bản văn theo truyền thuyết được viết vào thế kỷ thứ XX tr. CN (xem kinh Thư phần II, quyển II, thiên I,3). Ta không thể chứng minh sự chân thực của văn bản ấy có cùng nghĩa với trong các bản văn khác, mà niên đại được định rõ hơn. Sự đề cập đầu tiên thật chính xác về Ngũ hành được thấy trong đoạn khác của Kinh Thư (phần V, quyển IV), dưới tên “Hồng Phạm”, nghĩa là “khuôn lớn”. Truyền thuyết cho biết rằng thiên “ Hồng Phạm” thuật lại lời cơ tử cáo với vua Vũ nhà Chu, cơ tử là một Vương hầu nhà Thương bị vua Vũ lật đổ vào cuối thế kỷ thứ XXII tr. CN. Trong bài Cáo, cơ tử cho những ý của mình là của vua Vũ, người sáng lập nhà Hạ, theo truyền thuyết sống vào thế kỷ thứ XXII tr. C.N. Chúng tôi nêu truyền thuyết này là coi như ví dụ về thể thức theo đó tác giả Kinh Thư đã thử mang lại sự trọng yếu của thuyết Ngũ hành. Về thời đại thật của thiên “Hồng Phạm”, thì khoa học hiện đại có ý đặt vào thế kỷ thứ IV hay III.(*)
* Chú thích: Đây là thời điểm văn minh Văn Lang sụp đổ. 258 Trước CN.
Trong thiên “Hồng phạm”, ta thấy bản “Cửu trù”, “Thứ nhất trong Cửu trù là Ngũ hành. Thứ nhất trong Ngũ hành là thuỷ, nhì là hoả, ba là mộc, tư là kim, năm là thổ. (Tính ) thuỷ là ướt và xuống, hoả là cháy và lên, mộc là cong và thẳng, kim là theo và đổi, thổ là để gieo mạ làm mùa.
Trong thiên “Hồng phạm”, ta thấy ý niệm Ngũ hành còn ở trong giai đoạn chưa hoàn thành. Tác giả đang còn tư tưởng bằng từ ngữ vật thể có thật như nước lửa.... thay vì tư tưởng bằng từ ngữ những lực trừu tượng mang các tên ấy như Ngũ hành được quan niệm về sau. Tác giả cũng cho ta biết rằng nhân gian và tạo vật có liên hệ với nhau, cách cai trị sai lầm của ông vua sẽ tạo ra những hiện tượng bất thường trong trời đất. Lý thuyết này được triển khai đầy đủ về sau bởi Âm dương gia, người ta gọi là thuyết “Thiên nhân tương dữ”.
Hai lý thuyết được đưa ra để giải thích lý do của sự hỗ tương ảnh hưởng nói trên. Thuyết thứ nhất thuộc về mục đích luận. Theo thuyết này, thì cách cư xử sai lầm của ông vua làm cho Trời nổi giận. Sự giận của Trời gây ra những hiện tượng bất thường trong tự nhiên, tức là Trời báo trước cho vua biết. Thuyết thứ hai thuộc về thuyết cơ giới. Theo thuyết này, thì cách cư xử sai lầm của vua sẽ tự nhiên gây rối loạn trong trời đất và do đó những hiện tượng bất thường cũng xẩy ra một cách máy móc. Toàn thể vũ trụ là một cơ giới. Khi một phần cơ giới ra khỏi trật tự, thì những phần khác cũng bị tổn thương. Thuyết này biểu thị cho tinh thần khoa học của Âm dương gia, còn thuyết thứ nhất phản ánh những nguồn gốc huyền bí.
Nguyệt lệnh
Sau thiên “Hồng phạm”, tài liệu trọng yếu nhất của Âm dương gia là thiên “Nguyệt lệnh”. Thiên này trước hết được thấy chép trong sách Lã thị xuân thu, tác phẩm vào cuối thế kỷ thứ III tr. C.N. Về sau, thiên ấy được đưa vào sách Lễ ký. “Nguyệt lệnh” có tên ấy, vì vốn là quyển sách lịch nhỏ trình bầy cho vua và mọi người nói chung, những bổn phận phải làm hàng tháng, để hợp với thời trời. Cách cấu tạo vũ trụ trong thiên này được diễn tả bằng từ ngữ của Âm dương gia. Cách cấu tạo này có tính chất vũ trụ, nghĩa là liên quan tới thời gian và không gian. Người Trung Quốc xưa ở về bắc bán cầu, tất phải coi phương nam là phương của sức nóng và phương Bắc là phương của khí lạnh. Vì lí do ấy, Âm dương gia đưa ra sự tương quan giữa bốn mùa và bốn phương. Mùa hè có tương quan với phương nam, mùa đông, phương bắc, mùa xuân phương đông, mùa thu phương tây, vì mặt trời ở phương tây. Phái này cũng coi sự thay đổi của ngày đêm như biểu thị sự thay đổi của bốn mùa trong năm, vào một tỉ lệ nhỏ. Cho nên buổi sáng là tượng trương cho mùa xuân, buổi trưa mùa hè, buổi chiều mùa thu, buổi tói mùa đông.
Phương Nam và mùa hè thì nóng, vì phương nam là phương các mùa hè là lúc mà hành hoả mạnh hơn cả. Phương Bắc và mùa đông thì lạnh, vì phương Bắc là phương và mùa đông là lúc mà hành thuỷ mạnh hơn cả, nước lại liên quan tới nước đá và tuyết và rất lạnh. Cũng vậy, mộc là hành mạnh ở phương Đông có liên quan tới mùa xuân, bởi vì mùa xuân là mùa mà cỏ bắt đầu mọc, và vì phương Đông có liên quan tới mùa xuân. Hành kim mạnh ở phương Tây và mùa thu, bởi vì kim khí được coi là cứng và thô, vì mùa thu là gió, cây cỏ hết mùa và vì phương Tây có liên quan tới mùa thu. Như vậy bốn năm hành được cắt nghĩa. Chỉ còn hành thổ là chưa có vị trí mùa. Nhưng theo thiên “Nguyệt lệnh”, thổ là hành chính của Ngũ hành, vì vậy nó được vị trí trung ương của bốn mùa. Lúc mà thổ mạnh là vào một khoảng ngắn giữa mùa hè và mùa thu.
Do lý thuyết vũ trụ ấy, Âm dương gia đã cố giải thích những hiện tượng tự nhiên bằng những từ ngữ vừa thời gian và không gian và còn chủ trương rằng những hiện tượng ấy có liên quan tới tâm tính con người.
Vì vậy, như đã nói ở trên, thiên “Nguyệt lệnh” đưa ra những điều qui định mà ông vua phải theo từng tháng, do đó mà có tên “Nguyệt lệnh”. Vì vậy, người ta nói: “Tháng giêng mùa xuân, gió thổi tan hơi lạnh. Sinh vật nằm im trong mùa đông bắt đầu vùng dậy... Đó là mùa khí trời toả xuống, khí đất dâng lên. Trời đất hoà hợp nhau, cây cỏ đâm trồi nẩy lộc.” (Lễ ký, thiên 4). Bởi vì cách cư xử của người phải hoà hợp
với đạo trời trong tháng đó, cho nên “(Vua) sai công khanh đại phu ban bố đạo đức, điều hoà mệnh lệnh để làm điều vui, thi ơn cho triều dân.... Cấm chặt cây, không được lật tổ.... Trong tháng đó, không thể dấy binh, dấy binh ắt bị hoạ Trời. Không dấy binh nghĩa là ta không khởi sự trước.” Nếu trong một tháng, ông vua không làm theo khuôn phép tháng đó, mà lại theo quy tắc ứng xử hợp với tháng khác, thì những hiện tượng bất thường ngoài tự nhiên sẽ xảy ra. “Tháng mạnh xuân mà thì hành mệnh lệnh muà hè, thì mưa không hợp thời, cây cỏ khô héo, quốc gia luôn có điều sợ. Nếu thi hành lệnh mùa thu, thì dân có bệnh dịch lớn. Gió dữ mưa mạnh sẽ tới... Nếu thi hành lệnh mùa đông, thì nước lụt sẽ làm hại, tuyết sương rơi nhiều.”
Trâu diễn
Trâu Diễn là một nhân vật trọng yếu của Âm dương gia vào thế kỷ thứ III tr. C.N. Theo bộ sách Sử ký của Tư MãThiên, thì Trâu Diễn là người nước Tề, ở vùng giữa tỉnh Sơn Đông bây giờ. “Viết sách trên mười vạn lời”.Thảy đều thất tán. Nhưng trong bộ Sử ký, Tư Mã Thiên thuật lại khá kỹ lý thuyết của Trâu Diễn.
Theo sách ấy (quyển 74), thì phương pháp của Trâu Diễn là “ trước hết thì nghiệm các vật nhỏ mà suy rộng ra cho tới vô hạn”. Hình như chủ điểm của ông là địa lý và sử ký.
Về địa lý, Tư MãThiên viết: “Trước hết sắp đặt danh sơn của Trung Quốc, sông lớn thung lũng đều nhau, cầm thú, sản vật của sông biển, món quý của vật loại, từ đó mà suy ra cho đến hải ngoại, ít người thấy được....Bảo rằng nho giả gọi là Trung Quốc thì chiếm một phần trong tám mươi một phần của thiên hạ. Gọi Trung Quốc là Xích huyện Thần Châu ấy họp thành khu. Quanh chín châu, có biển lớn bọc ngoài, tức là nơi trời đất giáp nhau”.
Về quan niệm của Trâu Diễn đối với Sử ký. Tư MãThiên viết: “Trước hết kể việc nay trở lên tới Hoàng Đế, học giả ai cũng thuật. Cùng theo thịnh suy của đời, mà chép điềm tốt xấu, chế độ, suy xa hơn, cho tới khi trời đất chưa sinh, tới chỗ tối tăm mờ mịt chưa có thể khaỏ tới gốc được... Cho đến khi trời đất phân, thì nói sự vận chuyển biến hoá của Ngũ hành, (những lề lối khác nhau của chính trị, mọi điềm ứng với mỗi hành)”.
*Đoạn trích dẫn tiếp theo đây, bạn đọc tham khảo về nguồn gốc của thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành qua tài liệu và nhận xét của ông Thiệu Vĩ Hoa trong cuốn “Dự đoán theo Tứ trụ”:
1- Khởi nguồn của học thuyết Âm dương:
Sự ra đời của học thuyết Âm dương, từ đời Hạ xa xưa đã hình thành. Điều đó có thể được chứng thực bằng sự xuất hiện hào Dương, hào Âm trong Bát quái của Kinh Dịch. Hào âm và hào Dương trong bát quái xuất hiện trong sách cổ “Liên sơn” của đời nhà Hạ Trung Quốc, cho nên trong “Sơn hải kinh” có câu: “Phục Hy được Hà đồ, người Hạ nhân đó nói là “Liên Sơn”, Hoàng đế được Hà đồ nên người Chu gọi là “Chu dịch”. Tức là nói ở đời Hạ đã có quyển sách về Bát quái liên sơn này, còn Bát quái lại do hai hào cơ bản nhất: Âm và dương cấu thành. Cho nên học thuyết Âm dương bắt nguồn từ nhà Hạ là điều tin được.
Nhân đây muốn nói thêm rằng: giới học thuật ngày nay đối với mối quan hệ của học thuyết Âm dương, Ngũ hành và Bát quái, cũng như sự khởi nguồn và quá trình diễn biến của nó, vẫn có những kiến giải khác nhau. Nhà sử học Bàng Phác trong bài “Nghiên cứu về nguồn gốc Âm dương Ngũ hành” (đăng ở mục “Bàn về lịch sử văn hoá cổ đại Trung Quốc”, do tạp chí Đại học Bắc Kinh xuất bản năm 1986) có nêu:
Nguồn gốc của quan niệm Ngũ hành là ở quy bốc của dân tộc Khương, nguồn gốc quan niệm Âm dương là mai bốc là của dân tộc Ngô Việt ở phương nam (tức ở trong “Sở từ” gọi là “Diên bạc”). Bát quái thì bắt nguồn ở Phệ chiêm của dân tộc Chu (tức là trong sách cổ có ghi là lục nhâm mà về sau phát triển thành sáu hào). Do đó ngài Bàng Phác đã căn cứ vào tích Thù Ty Mã ở trong sách cổ mà suy đoán, cho rằng các dân tộc ở phương Bắc và phương Nam thời kỳ cổ đại của Trung Quốc (chủ yếu là nhà Thương, nhà Chu và Việt Sở) do sự thâm nhập văn hoá mà thành, đến thời Chiến quốc do các nhà nho như Khổng Tử, Trâu Diễn đã hoà trộn ba nền văn hoá lớn với nhau. Đến đời Đồng Trọng Thư nhà Hán mới tập hợp thành học thuyết Âm Dương Ngũ hành và cùng với thuật số Bát quái của Chu Dịch kết hợp thành học thuyết Âm dương Ngũ hành và thành một công trình vĩ đại. Các bài viết của ngài Bàng Phác cách chứng minh chẽ, có giá trị là tác phẩm diễn giải độc đáo. Nhưng giới khảo cổ ngày nay và giới sử học đối với văn hoá cổ đại của đời nhà Hạ, với Liên Sơn, Quy tàng vẫn chưa có ý kiến nhất trí trong kết quả nghiên cứu của mình. Các tài liệu và chứng vật cũng không đầy đủ, do đó quyển sách này cũng chỉ có thể dựa theo cách nói truyền thống để xác định khởi nguồn của thuyết Âm dương vào thời kỳ nhà Hạ. Nếu sau này phát hiện được những chứng cứ mới đủ để bác bỏ cách nói truyền thống này, cho rằng khởi nguồn của học thuyết Âm dương ở thời đại về sau hơn thì chúng tôi cũng sẽ tuân theo chân lý mà không sửa đổi những luận điểm trong sách này”.
* Đoạn trích dẫn dưới đây trong sách Chu Dịch với dự đoán học (sách đã dẫn, trang 94). Bạn đọc tham khảo những ý kiến khác nhau về xuất xứ của thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành.
2.Khởi nguồn của học thuyết Ngũ hành
Sự ra đời của học thuyết Ngũ hành, trong giới học thuật vẫn còn là một vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Ba loại ý kiến rất đối lập nhau như sau:
Giới Dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết Âm dương. Nhưng giới sử học lại cho rằng người đầu tiên sáng lập ra học thuyết Ngũ hành là Mạnh tử. Trong cuốn “Trung Quốc thông sử giản biên” của Phạm Văn Lan đã nói: “Mạnh tử là người đầu tiên sáng lập ra học thuyết Ngũ hành, Mạnh Tử nói năm trăm năm tất có Vương giả hưng, từ Nghiêu Thuấn đến Vu Thang là hơn năm trăm năm.... Từ Văn Vương đến Khổng Tử lại hơn năm trăm năm... Hầu như đã có cách nói tính toán về Ngũ hành. Sau Mạnh Tử một ít, Trâu Diễn đã mở rộng thuyết Ngũ hành trở thành nhà Âm dương Ngũ hành”. Nói học thuyết Ngũ hành là do Mạnh Tử phát minh là không có chứng cứ xác thực. Điều này chính Phạm Văn Lan đã tự phủ định mình. Trong cùng một chương của cuốn sách trên ông đã nói: “Mặc (*) tử không tin Ngũ hành, bác bỏ thuật chiêm bốc dùng ngũ sắc thanh long để định cát hung, điều đó đủ thấy thời Đông Chu thuyết Ngũ hành đã thông dụng rồi, đến Trâu Diễn đặc biệt phát huy”. Mạnh Tử là người nước Lỗ , thời Chiến Quốc mà thời Đông Chu đã có Ngũ hành rồi, rõ ràng không phải là Mạnh Tử phát minh ra Ngũ hành. Có những sách sử nói, học thuyết Âm dương Ngũ hành là Đổng Trọng Thư thời Hán sáng lập ra, điều đó càng không đúng.
*Chú thích: Có lẽ là Mạnh tử? Sách in nhầm chăng?
Giới triết học như Vũ Bạch Huệ, Vương Dung thì cho rằng: “Bản văn công khai của Ngũ hành có thể thấy trong sách “Thượng Thư” của Hồng Phạm (tương truyền văn tự những năm đầu thời Tây Chu, theo những khảo chứng của người cận đại có thể là thời Chiến quốc) . Ngũ hành, một thuỷ, hai hoả, ba mộc, bốn kim, năm thổ, thuỷ nhuận dưới, hoả nóng trên, mộc cong thẳng, kim là cắt đứt, thổ là nông gia trông trọt” (xem “ảnh hưởng của học thuyết Âm dương Ngũ hành với khoa học truyền thống Trung Quốc”). Qua đó có thấy vấn đề nguồn gốc học thuyết Ngũ hành vẫn là điều chưa sáng tỏ.
* Qua những đoạn trích dẫn ở trên, chắc các bạn cũng nhận thấy những hiện tượng sau đây:
1- Ngay những nhà nghiên cứu Trung Hoa có tên tuổi và hầu hết những nhà nghiên cứu trên thế giới ở các ngành học thuật khác nhau: Lịch sử, văn hóa, xã hội, thậm chí ngay cả học thuật chiêm bốc cũng cho rằng Âm dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt. Thậm chí ở một website có nhà bình luận còn cho rằng thuyết Ngũ hành không tác dụng bằng thuyết Âm dương.
2- Giữa thời điểm xuất xứ được ghi nhận trong cổ thư chữ Hán với nhận xét của các nhà nghiên cứu có khoảng chênh lệch đáng kể. Khoảng chênh lệch này không phải là vài chục, vài trăm năm, mà là vài thiên niên kỷ?
3- Một hiện tượng cần ghi nhận liên quan đến học thuyết Âm dương và Ngũ hành. Đó là cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”. Sự tương quan về nội dung bản văn, không/ thời gian lịch sử của cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” với giả thuyết được trình bầy với bạn đọc ở trên có một vị trí quan trọng. Bởi vậy, phần tiếp theo đây xin được trình bày với bạn đọc nội dung cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” và những vấn đề liên quan.
Mời xem các phần khác:
- Định mệnh có thật hay không? - Lời bạch
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 1
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 2
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 3
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 4
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 5
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 6
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 7
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 8
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 9
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 10
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 11
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 12
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 13
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 14
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 15
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 16
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 18
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 19
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 20
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 21
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 22
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 23
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 24
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 25
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 26
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 27
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 28
- Định mệnh có thật hay không? - Phần 29
- Định mệnh có thật hay không? - Thay phần kết













