Đầu năm Cọp đọc về Trà (Chè)

Ngày đăng: Thứ bảy 27/02/2010 12:00:00 (GMT +7)

Trà là đồ uống rất phổ thông ở Việt Nam, còn  gọi là (nước) chè. Phần này ghi nhận một cách tổng quát các cách gọi trà  khác nhau như mính, dành dành, giả, thiết, suyễn, tuyển, thuấn, sá ...  và âm cổ hơn của trà là đồ;  Sau đó là các dạng từ song tiết như qua lô,  cao lô, quá (qua) la, cao hộ .. cho đến rất nhiều dạng từ ghép như du  đông, khổ đồ, khổ trà, suyễn trà, trà suyễn, trà mính … Đây là không kể  các từ ghép tự nhiên và dễ hiểu hơn như Mạt Lị Hoa trà (Jasmine tea),  Hồng trà, Bạch trà, Hoàng trà ... Người viết sẽ cố gắng ghi lại các chữ  Hán (sau âm Hán Việt) để tiện việc tra cứu về sau, nhất là các bạn đọc  muốn tra cứu sâu xa hơn nữa.

Tìm hiểu về trà trở nên lý thú không những vì lá trà có hơn 700 chất hoá học, mà còn các cách gọi và dùng trà ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Vấn đề trở nên đặc biệt hơn khi các từ đồ-trà/chà-chè lại có thể liên quan đến An Dương Vương, vua nước Âu Lạc với thủ đô tại (thành) Cổ Loa, một giai đoạn lịch sử quan trọng trong thời bình minh lập nước và dựng nước của chúng ta. Ngược dòng thời gian, trong ca dao tục ngữ của tiếng Việt còn ghi nhận khá nhiều về trà như trà dư tửu hậu (1), nay chè mai chén ... Hay

Chè ngon ngọt giọng, thuốc ngon quyện đờm

Uống nước chè tàu, ăn trầu cơi thiếc

Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống chè Mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều.


Chú tôi hay tửu hay tăm
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa...



Chữ trà xuất hiện 3 lần trong truyện nôm Thuý Kiều

Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình (câu 256)


Khi hương sớm khi trà trưa (câu 1297)

Xuân Thu cắt sẵn hai tên hương trà (câu 1924)
Nàng từ lánh gót vườn hoa (câu 1925)


...v.v...



Loạt bài về trà này chỉ cố gắng chú trọng đến các phương diện ngữ âm học cho thấy khả năng danh từ trà (chè) có nguồn gốc phương Nam chứ không phải từ phương Bắc (Trung Hoa) mà nhiều người lầm tưởng. Có học giả như T. K. Mondal2 (2007), dựa vào các nghiên cứu khoa học, còn đề nghị là nguồn gốc của cây trà nằm trong vùng Đông Nam Á - chính xác hơn là khu vực hay giao điểm của vĩ độ 29 Bắc và kinh độ 98 Đông (thuộc tỉnh Tứ Xuyên bây giờ) - và từ đó lan truyền qua 52 nước khác… Ngược dòng lịch sử, ta hãy nghe Khổng Tử/KT (551– 479 TCN) chỉ dạy học trò như sau:



'... người Bách Việt sống ở phía
nam sông Dương Tử có tiếng nói, cách sống, truyền thống đạo đức và ẩm thực riêng biệt ... Họ chuyên về trồng lúa gạo, thành ra rất khác với dân ta (TQ) thường trồng lúa mì và cây kê. Họ uống nước từ một loài cây trong rừng gọi là trà. Họ thích nhảy múa ...'


Mạnh Tử (372 -289 TCN), môn sinh của Tử Tư (cháu nội Khổng Tử), cũng có nhận xét về trà trong sách "Cáo Tử - Thượng" 告子-上 như sau



舍其梧檟,養 其樲棘


Xá kỳ ngô giả, dưỡng kỳ nhi cức

(Tạm dịch) bỏ cây ngô đồng và trà để trồng cây nhị và cây gai

Như vậy là ở Sơn Đông thời Mạnh Tử, trà không được phổ thông như tình hình trồng trà ở phương Nam - để ý Mạnh Tử không dùng chữ đồ, trà mà dùng chữ giả.


Lão Tử (khoảng 600-517 TCN) từng xem trà là một thành phần tạo thành thuốc trường sinh bất tử, một loại ngọc thuỷ ... Cho đến thời Hoa Đà 華佗, là vị lương y danh tiếng thời Đông Hán và được coi như là ông tổ của Đông Y, ông từng nhận xét rằng



《食論》“苦 茶久食益意


"Thực Luận" khổ trà cửu thực ích ý tư

(Tạm dịch) ăn/uống trà lâu ngày sẽ sáng trí (thông minh)


Rõ ràng là trà đã từng phổ thông ở miền nam Trung Quốc theo lời KT. Ngoài ra, Lục Vũ năm trong Trà Kinh6 (760 SCN) cũng nói rõ là ' ...cây trà là loại cây lớn từ phương Nam - cao đến một, hai hay tới vài chục thước (xích 尺)...'.



Truyền thuyết trà nói về Thần Nông - ông tổ nông nghiệp, tổ nghề gốm sứ và nghề y dược của Trung Quốc/TQ - thường được nhắc tới là



<< 神農本草經》說:“神農嘗百草,一日遇七毒,遇茶而解”


"Thần Nông Bổn Thảo Kinh/TNBTK" thuyết : " Thần Nông thường bách thảo, nhất nhật ngộ thất độc, ngộ trà nhi giải - (Tạm dịch) ‘Thần Nông Bản Thảo Kinh’ viết rằng một ngày Thần Nông trúng độc sau khi nếm cả trăm loại cỏ (dược thảo/herb) và phải dùng trà để giải độc (antidote). TNBTK là dược kinh đầu tiên của Trung Quốc soạn thời Tây Hán; Cũng theo truyền thuyết là vào năm 2737 TCN ông nếm trà đầu tiên qua những chiếc lá chè bị cháy và gió thổi vào vạc nước sôi của ông ... Chính Thần Nông đã phát hiện ra nước (uống) trà theo Lục Vũ (Trà Kinh)7.


1. Giới thiệu tổng quát


Tên khoa học của cây chè là Camellia sinesis - dựa vào tên của giáo sĩ giòng Tên Joseph Kamel (Camellia) và tên gọi bằng tiếng La Tinh của Trung Quốc (Sinesis):





Giới (regnum): Plantae
(không phân hạng): Angiosperma
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo): Ericales
Họ (familia): Theaceae
Chi (genus): Camellia
Loài (species): C. sinensis

Ngoài vườn trước của nhà người viết (Melbourne, Úc) thật ra có loài cây chè này (Camellia japonica) cả mấy chục năm mà mãi đến gần đây mới ‘nhận diện’ là loài và họ (trà/chè) của chúng! Loài cây này rất thường gặp ở Úc, trong loài này lại có cả ngàn loại lai giống (hybrids) có hoa rất đẹp ... Các hình trong bài này trích từ http://en.wikipedia.org/wiki/Camellia_japonica




2. Đồ là âm cổ của trà/chà/chè

Trà là âm Hán Việt/HV viết bằng bộ thảo hợp với chữ xà 茶 : theo các tài liệu Trung Quốc (TQ) thường giải thích là loại chữ hội ý 会意 kết hợp các chữ nhân 人 (người) gặt hái các lá cây (thảo) 艹 từ trên cây (mộc) 木 (bây giờ viết là 朩). Chữ trà này không thấy trong triện văn, kim văn hay giáp (cốt) văn: điều này chứng tỏ sự ra đời muộn màng của chữ này - có tác giả cho rằng chữ trà xuất hiện từ thời Đường  (“Ngữ Lâm Thú Thoại” trang 571) - có tác giả còn cho năm sinh của chữ trà là 725 SCN, xem thêm chi tiết trên mạng http://www.2basnob.com/tea-history-timeline.html . Một số học giả khác như L. Wieger cho rằng chữ trà gồm bộ thảo và chữ dư (ta) 余 hài thanh (bỏ một nét ngang) - xem thêm chi tiết trên mạng http://www.zhongwen.com/jintian.htm … Thuyết Văn Giải Tự cũng không ghi dạng trà này. Quả đúng như thế, theo Vận Hội (Khang Hy trích ra) thì trà là

【韻會】茗也。本 作荼,或 作 𣗪,今作茶

[ Vận Hội ] mính dã . Bổn tác đồ , hoặc tác trà , kim tác trà

Hay đồ chính là âm cổ hơn của trà (để ý chữ đồ 荼 có thêm một gạch ngang so với chữ trà茶).

Trở lại thời Đông Hán, Hứa Thận nhận xét về chữ đồ trong Thuyết Văn Giải Tự/TVGT

苦 荼也。从艸余聲〖注〗臣鉉等曰:此即今之茶字。同都切
Khổ đồ dã. Tòng thảo dư thanh [ Chú ]Thần Huyễn Đẳng viết: thử tức kim chi trà tự . Đồng đô thiết

Rõ ràng là hai dạng đồ và trà được dùng trong thời Hán. Thật ra, không nên ngạc nhiên khi âm đồ là dạng cổ hơn trà vì nguyên âm ô là dạng cổ hơn nguyên âm a như Nôm Nam, vốn bản, bố ba ... Còn tương quan của phụ âm đầu tắc đ với tr rất dễ nhận ra  trong tiếng Việt và Hán Việt/HV như

Đồng瞳 (tử) - tròng mắt
Đuốc - chúc
Đột (nhiên) - chợt
Đầm - chằm - chèm
Đìa - trì
Đỏ - chu 朱 (màu đỏ)
Đò - chu 舟 (thuyền nhỏ)
Đố 蠹 - chú 蛀
Đũa - trợ
Đuổi - truy
Đản - trần
Đản - trứng
Định 定 chính chánh - trán (theo "Vận Hội" cổ thông chánh 《韻會》古通正)
Đoàn - tròn
Đoàn 團 - truyền 傳 cùng thanh phù chuyên 専, so với chuyên/đoàn 摶 (vo tròn)...
Điền Hoàn 田 完 (trong ‘Luận Ngữ’) - Trần Hoàn 陳 完 (trong ‘Xuân Thu’)4
Đục - trọc4
Độc (độc lâu, đầu lâu) - trốc
Đồn - truyền - chuyền (loan)
Đốn - truân - xuân
Độn - trốn
Đinh (bộ trùng + chữ đinh丁hài thanh/HT) - chuồn (chuồn)
Đìa - trì
Điểm (chữ chiêm HT) - chấm
Điệp - chập, chắp, chất
Đuốc - chúc
Đúng - trúng (trung HT)
Đổng 董 - Trọng 重– Gióng/thánh Dóng/Gióng là Phù Đổng thiên vương - một trong Tứ Bất Tử. So sánh với chủng 種 - giống, giồng - trồng cũng có thanh phù trọng重. Chữ Nôm dỏng (giỏng) còn dùng bộ khẩu 口 hợp với chữ Đổng董: theo Truyền Kỳ Mạn Lục 'dỏng môi mà rao lời gièm chê'

Đồng 童 - trống (không có cây cỏ như đồi, đất; không có tóc như đầu hói)
Đồng 瞳 (tử) - tròng mắt
Đồng 僮- Tráng 壯 (Choang)
...
Đồ - chè – trà/chà (xem hình vẽ so sánh phạm trù nghĩa bên dưới)


Trích TVGT:

(茗 mính HV) 荼芽也 - 從艸名聲
Đồ nha dã - tòng thảo danh thanh

668 艸部: 荼:苦荼也。從艸余聲
668 Thảo bộ : đồ : khổ đồ dã . Tòng thảo dư thanh


Đồ là loại rau đắng (trà đắng). So sánh với mính (mầm trà, trà non, trà), ta thấy ngay các từ mính, đồ đã hiện diện thời Đông Hán. Mính có các dạng chữ triện như sau:

mính HV


Chữ đồ lại có nhiều dạng chữ triện hơn, cho thấy được phổ thông hơn – trích http://www.chineseetymology.org/CharacterA...tton1=Etymology


đồ HV


Vết tích của âm cổ hơn của trà là đồ còn thấy trong địa danh như huyện Trà Lăng茶陵 (thuộc tỉnh Hồ Nam2) mà thời Tây Hán gọi là Đồ Lăng荼陵 ; Trà mi 茶縻 còn gọi là (cây) đồ mi 荼縻 thuộc họ Hoa Hồng (Rubus rosifolius) - hoa đồ mi nhỏ, đẹp với quả ngọt và có thể ăn được.; Đồ Bàn còn gọi là thành cổ Chà Bàn (tỉnh Bình Định) ... Ngoài ra, một tục lệ thường gặp ở Ấn Giáo, Phật Giáo ... là hoả táng - phiên nghĩa của tiếng Phạn (Sanskrit) jhapita với dạng cổ là Đồ/Xà Duy 闍維, hay Đồ Tị Đa 闍鼻多 … so với dạng hiện nay là Trà Tỳ 茶毘; Không Hành Nữ 空行女 là cụm từ dịch nghĩa của tiếng Phạn ḍākinī डाकिणी, phiên âm là Đồ Cát Ni 荼 吉 尼 hay Đồ Chỉ Ni, Nã Cát Nhĩ, Xá Chỉ Ni ... cũng hỗ trợ cho biến âm đ – tr/ch (x) của đồ - trà. Không phải ngẫu nhiên mà ta có liên hệ giữa cách nói giở trò và giả đò: giả (trà nhưng có thể là không thật) tương ứng với trò (biến âm của trà nhưng có thể nghĩa là diễn chơi) - tiếng Việt (khẩu ngữ) còn duy trì nhiều nghĩa và âm rất cổ mà tiếng Trung (Hoa) không còn dùng nữa hay rất hiếm!


Xem lại nghĩa chữ đồ (đồ, tồ Mường Bi) và trà/chè (chà Mường Bi) trong tiếng Việt/ Mường ta thấy phạm trù nghĩa của đồ đã thu hẹp lại (nghĩa thu hẹp): từ thức ăn, thức uống, dụng cụ, đồ chơi, đồ cúng ... đến thức uống đặc biệt (trà, chè) hay món ăn ngọt và lỏng (chè). Điều này rất phù hợp với kết quả phần trên - đồ là âm cổ hơn của trà - do đó có khả năng mang nhiều nghĩa hơn vì hiện diện trong ngôn ngữ lâu hơn.


Chú ý: đồ 徒 chỉ một nhóm đồ, một lũ …cùng âm nhưng lại viết khác hơn đồ trà chà chè 荼 …v.v…


Sự thu hẹp nghĩa của đồ (trà) với nghĩa nguyên thuỷ là đồ ăn của tiếng Việt còn phù hợp với câu chuyện về vị Tể Tướng (Prime Minister) Án Anh của nước Tề thời Tề Cảnh Công (547 - 490 TCN) đã từng ăn trứng và trà (tea food) trong bữa ăn - theo cuốn truyện sử Yến Tử Xuân Thu 晏子春秋; Hay câu chuyện về dân Ngô 吳 đã từng nấu trà làm canh và trà là đồ cúng tế từ thời cổ đại cho tới thời Xuân Thu...v.v...

 

Mời xem bài khác:

Đầu năm Cọp đọc về Trà (Chè) (2)

Bài viết cùng chuyên mục