Chữ Nôm và Linh khí ngút ngàn Đại Việt

Ngày đăng: Thứ tư 15/04/2009 12:00:00 (GMT +7)

Lịch sử Việt Nam từ thuở khởi thuỷ, chúng ta đã tự hào về sự xuất hiện của chữ Nôm - thứ chữ tượng hình được đặt ra để ghi lại tiếng nói Việt. Và gần 10 thế kỷ từ khi ra đời cho đến lúc suy vi, chữ Nôm đã sản sinh ra cả một hệ thống những nền văn hoá làm vẻ vang cho cả một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Thế nhưng, những biến cố xảy đến đã làm cho dòng sông lịch sử Việt Nam đã có những lúc thay khúc, đổi dòng… Sự mai một của chữ Hán, chữ Nôm… cũng là một tất yếu không thể tránh khỏi. Trong sự ngồn ngộn đến ngạt thở của cuộc sống hiện đại, khi con người có quá nhiều phương tiện để giao tiếp với nhau, truyền đạt tín hiệu cho nhau, sự vắng bóng của một nền văn hoá chữ Nôm bỗng nhiên trở thành một sự xúc phạm mạnh mẽ đối với văn hoá dân tộc...

Hơn bao giờ hết, người ta cần được biết đến nhiều hơn nữa những giá trị của một thời đại chữ Nôm - thời đại gắn liền với những danh nhân làm rạng danh một khúc sống của dòng sông lịch sử Đại Việt…

Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện – Phó Giám đốc Thư viện Hán Nôm (Viện Hán Nôm):

“Chữ Nôm là một bảo tàng sống cho cả một nền văn hoá 10 thế kỷ của người Việt”!

Giá trị lớn nhất của chữ Nôm mà chúng ta không bao giờ có thể bỏ được, không bao giờ có thể quên được và cũng không bao giờ không thể nghiên cứu nó, đó là chữ Nôm ghi lại tiếng nói của người Việt, cho nên nó phản ánh tiếng nói của dân tộc, ngôn ngữ của dân tộc, cho thấy sự đẹp đẽ của tiếng Việt đã phát triển qua nhiều thế kỷ. Chữ Nôm diễn đạt trực tiếp và rõ nghĩa nhất tâm tư, tình cảm ước vọng… của cha ông. Chúng ta không thể tìm thấy những phút giây đời thường nhất của con người cá nhân Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… trong thơ chữ Hán; người ta cũng có thể thấy được cha ông ta sống ra sao, sinh hoạt như thế nào, phong tục tập quán, những lề lối, những trăn trở, nghĩ suy, những tâm tư, khát vọng, tiếng lòng… của họ trong các tác phẩm văn học Nôm, mà rực rỡ nhất là trong hai thế kỷ 17 – 18, thời kỳ hưng thịnh nhất của chữ Nôm. Nếu không có chữ Nôm, nền văn học cổ của chúng ta cũng sẽ không thể sáng tạo được ba thể loại mới của văn học, đó là truyện thơ Nôm, ngâm khúc và hát nói – ca trù…

Việc chúng ta giữ lại những tài liệu chữ Nôm trong các thư viện, viện bảo tàng… mới chỉ là giữ di sản, giữ nó như một việc giữ cái xác mà chưa hiểu đựoc cái hồn… Việc cần làm, đó là phải nghiên cứu và giải mã những tác phẩm chữ Nôm, đọc lại những thông điệp của cha ông truyền lại như thế nào, cha ông dạy dỗ như thế nào, cha ông yêu ghét ra làm sao… Muốn hiểu được văn hoá truyền thống của người Việt Nam xưa, không thể không giải mã chữ Nôm, không thể không biết chữ Nôm… bởi chỉ ở đó mới cho thấy tâm tư suy nghĩ, ngôn ngữ của cha ông xưa một cách rõ ràng nhất, trung thực nhất, cụ thể nhất…

Ngày nay, chữ Nôm đã là một thứ “tử ngữ” rồi. Không ai còn ghi chép hay sáng tác bằng chữ Nôm nữa. Nhưng, vấn đề là chúng ta thừa hưởng lại những kiến thức, tri thức của cha ông tích luỹ ngàn đời, để gạn lọc mà làm vốn sống cho thời hiện đại này. Đó là một việc làm không lúc nào thừa, không lúc nào cũ, và không bao giờ đủ được!”.

Có thể nói rằng, chữ Nôm là sản phẩm của người Việt sáng tạo ra để ghi lại tiếng nói của mình, dựa trên sự kế thừa và phát triển từ chữ Hán. Sự suy vi của chữ Nôm chính thức được ghi mốc từ năm 1920 khi chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cấm dùng chữ Nôm. Trong lịch sử chữ viết của dân tộc Việt Nam, so với chữ Hán (có từ thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc) và chữ viết Latinh (chữ quốc ngữ ngày nay), chữ Nôm chính là chữ viết của người Việt, do người Việt sáng tạo, sử dụng để ghi lại tiếng nói của mình.

Sự ra đời của chữ Nôm gắn liền với thời điểm Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ 1.000 năm Bắc thuộc (939). Đến thế kỷ 13 – 15, chữ Nôm được hoàn chỉnh dần và trở thành chữ viết riêng của người Việt, bên cạnh sự tồn tại của chữ Hán. Đặt trong bối cảnh nền độc lập của chính thể phong kiến Việt Nam giai đoạn này, sự có mặt của chữ Nôm là sự ghi dấu để xác nhận với các triều đại phong kiến Trung Quốc cùng thời, đó là chúng ta không chỉ có một nền độc lập, chủ quyền hoàn toàn về chính trị, quân sự…, mà chúng ta còn độc lập trong cả tiếng nói và chữ viết. Điều đó quan trọng hơn tất cả những lý do thúc đẩy sự ra đời của chữ Nôm - chữ của người Việt – dù thời điểm nó xuất hiện so với sự xuất hiện của nền văn minh Đông Sơn, Âu Lạc muộn hơn hàng chục thế kỷ!

Đặt trong bối cảnh chữ Nôm xuất hiện, khi hệ thống chữ Hán ngót 1.000 năm đã trở thành chữ viết chính, chủ yếu của thời kỳ đó, chữ Nôm là biểu hiện mạnh mẽ và sâu sắc nhất của tư tưởng chống Hán hoá, là ý thức phản vệ của dân tộc trước những gì có tính ngoại lai, khẳng định tinh thần dân tộc, dù rằng điều đó chưa thực sự mạnh mẽ một cách có ý thức.

Sự thay thế đó là một tất yếu của lịch sử. Thế nhưng, trong vòng tồn tại của mình, từ đầu thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã có cả một nền văn hoá rực rỡ được ghi lại bằng “loại hình văn tự khối vuông” đầy tự hào, tự tôn như thế!

Người ta thường hay “đánh đồng” những di sản mà chúng ta còn lại được vào trong một cụm từ chung, đó là “Hán – Nôm”. Điều đó xuất phát từ nguyên căn, ấy là chữ Nôm được ra đời trên cơ sở chữ Hán, sau chữ Hán và tồn tại song song cùng chữ Hán. Nhưng điều đó cũng nói lên rằng, sự “ngộ nhận” của cả xã hội đối với chữ Nôm như thế (dù là những người không thuộc chuyên môn, không biết nhiều về chữ Nôm, mà bộ phận này chiếm đại đa số), phần nào đã làm chữ Nôm của chúng ta thêm phần “tủi phận”…

1.559 đơn vị tài liệu chữ Nôm Việt hiện đang lưu trữ tại Viện Hán Nôm - bảo tàng văn hiến Hán Nôm lớn nhất Việt Nam với đủ tất cả các thể loại, lĩnh vực; 2.000 tài liệu chữ Nôm tại Thư viện Quốc gia; nhiều tài liệu chữ Nôm còn tản mát tại các thư viện, Viện Văn học, các thư viện của các trường đại học lớn, các hương ước làng, xã… cho thấy một số lượng khổng lồ những di sản mà cha ông ta đã cất công tạo dựng trong gần 10 thế kỷ từ khi chữ Nôm ra đời. Trong vai trò của chữ viết – phương tiện lưu giữ dưới hình thức văn bản hoá, chữ Nôm Việt đã thực hiện vẻ vang những sứ mệnh lịch sử cao cả của mình.

Dựa trên các ký tự chữ Hán, người Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt, tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Dao, tạo thành các văn tự Nôm Việt, Nôm Tày Nùng, Nôm Dao. Cứ liệu sớm nhất về chữ Nôm Việt xuất hiện trong bài văn khắc trên quả chuông Văn Bản năm 1076, thời Lý Nhân Tông, thế kỷ XI. Ban đầu, chữ Nôm chỉ thường dùng để ghi tên người, tên đất, nhưng càng về sau, chữ Nôm càng phổ biến và tìm thấy ý nghĩa trong đời sống văn hoá của đất nước. Dưới thời nhà Hồ thế kỷ XIV, và một lần nữa, dưới thời Tây Sơn ở thế kỷ XVIII, chữ Nôm đã từng có xu hướng sử dụng trong văn bản hành chính.

Trong lịch sử văn học, chữ Nôm có một vai trò đặc biệt quan trọng tạo nên nền văn học chữ Nôm rực rỡ trong nhiều thế kỷ. Từ chữ Nôm, nền văn học Việt Nam sinh ra 3 thể loại độc đáo của riêng Việt Nam. Đó là Truyện thơ Nôm (lục bát), Ngâm khúc (song thất lục bát) và hát nói (trong ca trù). Các tác phẩm chữ Nôm của Việt Nam như Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu)… đã đi vào lịch sử văn học nước nhà. Những tên tuổi lẫy lừng như Hồ Xuân Hương – bà chúa thơ Nôm, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… cùng với những tác phẩm truyện Nôm Tày, các khúc hát giao duyên và hát đám cưới của đồng bào các dân tộc ở miền núi phía Bắc đã tô điểm cho vườn hoa văn học Việt Nam nhiều màu sắc…

Đối với lĩnh vực nghệ thuật ngâm vịnh và sân khấu truyền thống, sự đóng góp của chữ Nôm Việt cũng là quá khổng lồ. Người ta vẫn biết rằng, thanh điệu tiếng Việt là nhân tố gốc của sự hình thành âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Âm nhạc cổ truyền Việt Nam lấy thanh điệu và thơ làm nhân tố khởi đầu. Và trong kho tàng di sản chữ Nôm, các tài liệu về âm nhạc và sân khấu như ca trù, ca Huế, kịch bản Chèo, tuồng và các loại hình dân gian khác, đã tạo nên một nét đẹp riêng…

Những giá trị mà chữ Nôm cất giữ đối với hậu duệ là chúng ta ngày nay, đó là di sản vô giá mà cha ông phải trải qua những trải nghiệm, những đấu tranh bằng mồ hôi, nước mắt, bằng máu… của 10 thế kỷ người Việt mới có được. Người ta sẽ không thể quên được câu nói bất hủ của cụ Phạm Quỳnh - chủ bút Nam Phong tạp chí, người đã khởi xướng “cuộc bút chiến” về truyện Kiều đầu những năm 30 của thế kỷ XX để đưa ra lời đúc kết: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.

Thời đại ngày nay, khi người ta có quá nhiều những phương tiện để kết nối nhau, giúp cho họ hiểu, nắm bắt được những tín hiệu… từ cuộc sống, chúng ta phải đau đớn để nói với nhau một điều: hơn 80 triệu dân người Việt chúng ta đã, đang quay lưng lại với chữ Nôm - một thành tựu vĩ đại của cha ông đã sáng tạo, phát triển và lưu giữ ngót 10 thế kỷ trước. Bởi, dù rằng vật đổi sao dời, sự thay thế của các giá trị xã hội là một quy luật tất yếu, thế nhưng, chúng ta vẫn có thể kế thừa, bảo tồn và phát huy những tinh hoa của cha ông để lại, bằng một phương thức nào đó hợp lý và hiệu quả, để nó không chỉ là “tư liệu trong viện bảo tàng”!

Những giá trị khổng lồ của nền văn hoá chữ Nôm Việt:

Truyện Nôm lục bát - một sáng tạo về mặt thể loại của văn học chữ Nôm:

Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du, di sản văn chương vô giá của Việt Nam, bản Kiều cổ nhất là bản khắc in năm 1866, hiện đang được lưu giữ tại Nhà lưu niệm thi hào Nguyễn Du tại Nghĩ Xuân (Hà Tĩnh). Các truyện Nôm khác gồm có: Phan Trần truyện; Phạm Công tân truyện; Trống quân tân truyện; Chiêu Quân tân truyện; Thạch Sanh tân truyện; Hoàng Tú tân truyện; Ngọc Hoa cổ tích truyện; Phương Hoa tân truyện..

Tư liệu chữ Nôm về sinh hoạt làng xã:

Hương ước làng Giáp Nhị; Cổ Vũ Đoài giáp khoán lệ; Sách xem ngày, xem đất viết bằng chữ Nôm: Giá thú định cát hung; Địa lý Tả Ao di thư chân truyền chính pháp; Địa lý Tả Ao gia truyền…

Tài liệu giáo dục đạo đức truyền thống trong gia đình – xã hội:

Khuyến hiếu thư, Nữ tắc diễn âm; các sách giáng bút…

Tài liệu tôn giáo bằng chữ Nôm:

Thánh giáo yếu lý; Thánh mẫu phương danh mục lục; sách giảng sự thương khó của đức chúa Giê-su; Sách truyền các thánh toát yếu; sách các ngày lễ quanh năm đọc trong mùa cháy; Âm chất giải âm; Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh; Quan thế âm chân kinh; Quan Âm chú giải tân truyện…

Tài liệu Nôm về luật và các nghị định:

Theo ghi nhận của thư tịch cổ, bộ Luật sớm nhất trong lịch sử Việt Nam là bộ luật Hình thư, soạn dưới thời Lý. Về sau còn có Luật Hồng Đức (đời Lê); Luật Gia Long (đời Nguyễn). Một số bộ luật này được phiên bản ra chữ Nôm hoặc diễn Nôm các nghị định của chính phủ (dưới thời Pháp thuộc) nhằm mục đích phổ biến luật pháp trong dân chúng. Cụ thể: Hoàng Việt luật lệ toát yếu diễn ca; Luật dân sự, Thương sự; Tố tụng thi hành các toà Nam án Bắc Kỳ; Nghị định chỉnh đốn lại hương hội các xã Nam Dân ở Bắc kỳ; Nghị định và lời chỉ thị về việc lập lại các hương hội và lập sổ chi thu các xã trong xứ Bắc Kỳ.

Tài liệu Nôm về y học:

Gần 1.000 bản chữ Nôm về Y học (Dược liệu và trị liệu). Nhiều bản ghi lại các bài thuốc chữa bệnh hoặc cách thức chữa bệnh theo dân gian.

Các tài liệu chữ Nôm trong các lĩnh vực văn học, tài liệu học tập…

 

(Nguồn: Thư viện Hán Nôm - Viện Hán Nôm)

Bài viết cùng chuyên mục

Với vẻ đẹp quyến rũ của hang, cuốn Merveille de Monde (kỳ quan thế giới) chuyên về du lịch của Pháp xuất bản năm 1938, khi giới thiệu các danh thắng nổi ...

Các nhà khoa học Viện Khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Cao Bằng vừa phát hiện một cầu đá đang được dân sở tại dùng để đi lại nhưng được ...

Tôi đến đền Chử để tìm một không gian kiến trúc cổ tiêu biểu của đồng bằng Bắc bộ, và cũng là để ghi lại những hình ảnh cuối cùng của đền khi ...

Một tuyệt tác điêu khắc được tạc vào năm Quảng Hữu thứ 22 (1086), cột đá chùa Dạm với tên chữ “Lãm Sơn Tự” là công trình lưu truyền cho hậu thế ...

Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương sửa lại tựa.Nguyên văn: Trên Giadinh.net.vn: Chuyện chưa biết về người Việt CổNhững tưởng hàng vạn năm trước, khi ...

Quảng Trị là mảnh đất hội tụ nhiều dấu ấn của nhiều nền văn hóa, điều này được thể hiện qua việc hàng chục nghìn hiện vật được phát hiện và ...

Trong bài Giai nhân nan tái đắc (Người đẹp khó gặp lần hai) của Cao Bá Quát có câu: Phong lưu công tử đa xuân tứ/ Trường đoạn tiêu nương nhất chỉ thư ...

Theo nhiều tư liệu ghi chép, đình Trà Cổ được xây dựng vào năm Quang Thuận thứ 2 của đời Hậu Lê 1461 trên vùng đất phía Nam phường Trà Cổ thành phố ...

Ðược coi là miền đất của “các cao nguyên xếp tầng”, Tây Nguyên chất chứa trong lòng mình khối di sản, di tích văn hóa phong phú và độc đáo. Ðó là mảnh ...

Hoàng Thành là nơi diễn ra sự giao thoa nhiều giá trị nhân văn có ý nghĩa toàn cầu của phương Đông và thế giới, biểu thị trong qui hoạch đô thị, tạo dựng ...