Chữ Mình

Ngày đăng: Thứ tư 18/05/2011 12:00:00 (GMT +7)

Hứa Thận 許慎 (58 – 147) người Nhữ Nam tỉnh Hà Nam, thời Đông Hán nổi danh “Ngũ Kinh vô song Hứa Thúc Trọng 五 經 無 雙許 叔 重”. Ông viết cuốn “Thuyết văn giải tự 說 文 解 字” trong vòng 21 năm, hoàn thành năm 100 ( Vĩnh Nguyên năm thứ 11 nhà Đông Hán), qui nạp 540 bộ thủ, 9353 chữ nho và 1163 chữ nho dị thể, được 10516 chữ nho, lưu hành sách gốc này từ năm 100 – 121, sau đó thất truyền. Các sách khác do Hứa Thận viết như “ Ngũ Kinh dị nghĩa 五 經 異 義” ( tức là “Những nghĩa khác lạ trong Ngũ Kinh”. Tại sao có nghĩa khác lạ? Hẳn là vì những từ đó có gốc cổ là lời Việt); và cuốn “Chuân Nam Hồng Liệt giải cô 準 南 鴻 烈 解 詁” (tức là “Giải thích lời cổ của Hồng Lạc, tức của người Lạc Việt nước Hồng Bàng, vùng Chuân Nam”, Chuân Nam thuộc vùng hạ lưu Trường Giang) đều cũng bị thất truyền.


Trong cuốn”Thuyết văn giải tự” của mình, Hứa Thận trong lời tựa có đoạn tự giới thiệu : Là miêu duệ họ Hứa, tổ tông có gốc từ Viêm đế, Thần nông. Viễn tổ từng phụ tá Hạ Vũ, hộ vệ nhà Chu, được vua Chu phong cho đất Hứa, nối dõi đời đời ở đó. Sau họ Hứa thiên di đến vùng Nhữ Nam, từ đó đích tông dòng họ Hứa sống bên bờ Nhữ Thủy.

Sách “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận là hướng dẫn cách phát âm từng chữ bằng cách “thiết” tức là đọc “lướt” hai chữ mượn âm để đọc; và cách “phản thiết” tức là “lái” hai âm của hai chữ mượn âm để đọc một chữ cần đọc, như cách người Việt Nam vẫn nói lái ngày nay. Do “Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, cái cách phát âm của mỗi cộng đồng nó vẫn tồn tại nguyên vẹn hàng nghìn năm. Hán ngữ hiện đại ngày nay (hoàn thiện từ bốn trăm năm nay) là một ngôn ngữ phong phú hoàn chỉnh có ngữ pháp chặt chẽ theo cấu trúc tư duy ngữ pháp Hán. Nhưng về phát âm của các cộng đồng thì vẫn tồn tại 7 phương ngữ lớn khác biệt nhau ở Trung Quốc, mà các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc nhận định rằng 7 phương ngữ lớn đó đều bảo lưu nguồn rất lớn từ vựng của ngôn ngữ dân tộc Bách Việt thời cổ đại. Đặc biệt phương ngữ Quảng Đông, được gọi là Việt ngữ ( 粵 語 ), lấy âm chuẩn là âm Quảng Châu nên còn gọi là tiếng Quảng Phủ, được coi như là một loại ngôn ngữ độc lập, chủ yếu phân bố ở Hồng Kông, Áo Môn, đại bộ phận tỉnh Quảng Đông ( có đến 47 huyện thị người dân chỉ thuần nói tiếng Quảng Phủ), đông nam Quảng Tây và ở cộng đồng người Hoa hải ngoại.

Sách “Thuyết văn giải tự” còn đến ngày nay dùng là sách biên soạn lại từ sách của Hứa Thận, biên soạn lại vào đời Tống đến đời Thanh. Từ đời Minh sách “Thuyết văn giải tự” biên soạn lại năm 1615 (Vạn Lịch thứ 43) chỉ dùng 214 bộ thủ. Đời Thanh có Khang Hy Tự Điển là kế thừa sách này, cũng dùng có 214 bộ thủ. Hán tự có 90% chữ là kiểu “hình thanh”, một trong lục thư, “hình” để biểu ý, là bộ thủ, nên cũng dùng để tra theo bộ; “thanh” là để biểu âm, là một chữ nào đó cho mượn âm để đọc. Trong sách “Thuyết văn giải tự”của Hứa Thận vô cùng nhiều chữ, nhất là những chữ cổ, nếu cứ đọc theo âm của người Việt Nam đọc chữ nho thì thấy cách “thiết” rất đúng âm, còn nếu đọc theo âm Hán ngữ hiện đại thì trật. Ví dụ chữ Điểu 鳥, Hứa Thận “thiết” cách đọc là Đô 都 Liễu 了=(lướt)=Điểu 鳥, còn Hán ngữ hiện đại phát âm là Tu Lẻo=(thiết)=Tẻo, thì sai, vì thực tế Hán ngữ hiện đại phát âm chữ Điếu 鳥 (tức con chim) là “Nẻo” chứ không phải là Tẻo như theo qui tắc “thiết” hay là Điểu như âm Việt Nam đọc đúng như Hứa Thận hướng dẫn . Chứng tỏ vào cái thời Đông Hán ấy ông Hứa Thận là người Việt, như ông đã tự giới thiệu về tiên tổ mình. Sách gốc của ông đã thất truyền, người đời sau trích lại, biên soạn chỉnh lý lại thì có nhiều từ được thay âm cho đúng phát âm của người Hán đương thời. Cũng là một trong lục thư, chữ kiểu “hội ý” thì hoàn toàn dùng “hình”, ví dụ chữ Tương 相 (Hán ngữ đọc là “xeng”) là ghép từ hai chữ kiểu “hình” là chữ Mộc 木 (nhìn giống như cái cây, tức cái đang Mọc) và chữ Mục 目 (nhìn giống như con Mắt). Hứa Thận giải thích cách đọc là Tức 息 Lương 良=(lướt)=Tương 相, Hán ngữ hiện đại phát âm Xi 息 Léng 良=(thiết)=Xeng 相 là cũng đúng qui tắc “thiết”. Và Hứa Thận giải thích nghĩa của chữ Tương 相 là “cùng mắt, cùng cây (nên) dễ nhìn”. Ngày nay tiếng Hán dùng Tương 相 trong từ “tương trợ”, tiếng Việt đọc là Nhau trong từ “giúp nhau”. Vậy chữ Tương 相 này nguyên nó là gốc Việt hay gốc Hán? Chữ Tương 相 này căn bản không có âm đọc vì nó là chữ tạo bằng “hội ý”. Tại sao lại lấy Mộc 木 với Mục 目 (mà Hán ngữ phát âm hai chữ này đều là “mù”) làm “hội ý”? Tại sao Mộc 木 với Mục 目 ghép với nhau lại không đọc bằng âm nào cùng gốc M ? Hóa ra “hội ý” của chúng thành ra nghĩa là “cùng” như Hứa Thận giải thích, “cùng” tức là “cùng Một” nên đã mượn hai chữ Mộc và Mục (Hán ngữ phát âm đều là “mù”) để thay cho âm “Một” của tiếng Việt mà người Hán không phát âm được (nếu bắt phát âm chữ “Một” họ sẽ phát âm thành hai chữ là “ Mô” “Thờ”). Hai chữ bất kỳ mà phát âm như nhau, đem ghép lại gần nhau thành một chữ thì cho nghĩa là “cùng” và ở trường hợp âm cụ thể này là “cùng Một”. “Cùng Một” tức rất gần nhau rồi nên mới cho nghĩa “dễ nhìn”. Thực ra cái nghĩa “cùng một” ấy chính là chữ “Mình” của tiếng Việt. Tiếng Việt có từ “Thân 身” do “Thể trên Chân”= (lướt)= “Thân”, nên mới còn có thêm các từ dính có gốc logic với Thân 身 để nói các sắc thái của Thân 身 như: Thon-Thả, Thộn-Thện, Thõng-Thượt
( chứ trong Hán ngữ làm gì có những từ dính có cùng gốc với Thân 身 mà diễn tả sắc thái của Thân 身 như ở tiếng Việt, họ chỉ có thể dịch được các sắc thái khái niệm như vậy nhưng bằng các từ ghép khác mà thôi, không cùng gốc với từ Thân身 , mà từ Thân 身 thì Hán ngữ phát âm là “sân”). Có từ Thân rồi mới có từ Mình, nên tiếng Việt còn có từ Thân Mình. Mà từ “Một Mình” lại chính là từ “Nhau” do cái cuống “nhau” là cái gắn cái bào thai với cơ thể mẹ để lấy dinh dưỡng, thành “một mình”. Người Việt vẫn nói “chúng mình”= “cùng nhau”, hay “giúp mình một tay”= “giúp nhau một tay”, “mình”=”nhau”, chồng gọi vợ là “mình ơi”, vợ cũng gọi chồng là “mình ơi”.

Mình=Tình=Tương=Thương=Giường=Giềng=Thiêng=Thấu=Nhau. “Láng Giềng”= “Lân Tương”= “Gần Nhau”, mà cấu trúc theo Hán ngữ thì là “Tương Lân” (phát âm “xeng lín”). Trải qua hai ngàn năm, chữ 相 từ chỗ đọc là Mình đã chuyển thành đọc là Tương, nhưng nghĩa của nó trong tiếng Việt Nam vẫn là “Nhau” và có cùng nôi khái niệm gồm các nghĩa từ Nhau đến Mình rất có logic theo QT, như đã dẫn ở trên. Và từ Nhau đến Mình cũng chính là tuần tự lớn lên của cái thai trong bụng mẹ cho đến khi ra đời thành Mình, thật thấu, thật thiêng, thật tình thương. Có ngôn ngữ nào có QT diễn tả được như vậy không? Cho nên dù ở đâu người Việt vẫn nhớ về nơi “chôn nhau cắt rốn” của Mình.

Bài viết cùng chuyên mục

1.Hành MỘC trong Ngũ Hành ứng với NHÂN (仁) trong Ngũ đức:

Theo truyền thuyết, Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra Trăm Lang Hùng. Nhưng có lẽ chưa một người Việt Nam nào nhận diện ra được hình bóng Mẹ Tổ ...

Hàng năm cứ tới ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch người Việt, nhất là phái nữ, con cháu hai Bà Trưng, tổ chức lễ tưởng nhớ hai Bà. Có thể là ngày mồng 6 tháng ...

Đối chiếu một vài chữ Nòng Nọc trên gốm cổ Peru và trên Trống Đồng Đông Sơn Việt Nam

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng Nọc

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng Nọc

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng Nọc

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng Nọc

Phần 1 : Khái quát về chữ Nòng Nọc

Thời giờ ( 23/02/2011)

Ngày xưa cách nay 400 năm, người Việt gọi cái Thời phải sống chung với lắm cái gian là “Thời Gian”...