Chợ bán yếm lụa xưa ở phố Hàng Đào.

Ngày đăng: Thứ năm 30/04/2009 12:00:00 (GMT +7)

Năm 1995, Ban đưa ra con số 1000 ngôi nhà cổ. Năm 2000, sau nhiều “vật đổi sao dời”, con số này đã sụt xuống chỉ còn số trăm. Tháng 10.1999, kiến trúc sư Tô thị Toàn, phó Ban quản lý phố cổ cho biết: Mới có ngôi nhà cổ 87 phố Mã Mây, nằm theo chiều lượn sông Hồng, được tôn tạo, với kinh phí 330 triệu đồng VN. Năm 2000, tháng 4, thêm ngôi đình số 38 Hàng Đào được tôn tạo với 600 triệu đồng VN. Hai ngôi nhà được tôn tạo này là do hảo tâm của thành phố Toulouse, CH Pháp, tài trợ.

Thế là trong đầu dãy phố buôn bán sầm uất nhất Hà Nội, bắt đầu từ hàng Đào, Hàng Ngang, kéo đén Hàng Đường và mặt tiền chợ Đồng Xuân mới, đã xuất hiện một ngôi đình được phục chế với hệ thống cổng, sân, nhà, hai tầng bên trong, các câu đối, các vách ngăn … đến sân sau trồng hoa cỏ, hẹp và thắt lại, khuôn thao địa hình truyền thống các ngôi nhà hình ống vốn san sát bên nhau ở phố Hàng Đào.
Dừng lại ở ngôi nhà số 38, ngước nhìn lên cổng giữa, ta sẽ thấy hàng chữ Hán màu đen nổi bật trên nền vôi vàng. GS.Trần Quốc Vượng giải thích: 5 chữ Hán này là “Đồng Lạc quyến yếm thị”. Đây là ngôi đình của chợ bán yếm lụa ngày xưa, mang tên Đồng Lạc. Thăng Long vốn là lịch sử một thành phố sông-hồ, nhà số 38 Hàng Đào này, xưa đã tồn tại chợ bán yếm của một phường nghề dệt nhuộm truyền thống. Dãy nhà số chẵn được xây dựng theo thuật phong thủy, phải thấp hơn dãy nhà số lẻ. Ngày xưa, bên kia phố Hàng Đào có hồ Thái Cực thông với Hồ Gươm bằng một con lạch nhỏ, sau bị lấp lại thành phố Cầu Gỗ. Ngày xưa ấy, hai phường Đồng Lạc và Thái Cực chung một phố bán hàng, bởi Hà Nội ba mươi sáu phố phường xưa đã có tình trạng đặc thù: “một phường hay phố” và “một phố hai phường”.
Những người tôn tạo ngôi đình này, vì vậy rất chú ý đến cổng đình. Các cánh cửa ra vào vẫn được phân bố theo truyền thống: cửa giữa to cao, cửa hai bên thấp. Các chữ Hán ở cổng đình, ở hai câu đối của gian trong, cách cổng đình một sân giời, và ở gác hai ngôi đình đều được cán bộ Viện Hàn Lâm đến dập chữ, rồi thuê thợ phục hồi như cũ.
Vật thể quan trọng nhất còn lại của Đồng Lạc là tấm văn bia gắn trên tường bên phải gần điện thờ tầng 2. Tấm văn bia dầu dãi nắng mưa này đã rất khó đọc, song, GS. Trần vẫn đọc được bốn chữ “Quyến yếm thị đình”, (diễn nôm: ngôi đình của chợ bán yếm lụa). Người soạn văn bia là ông Phạm Đình Hoãn, cử nhân, quê ở Phủ Khoái Châu, Hưng Yên. GS. Trần cho hay: Đình Đồng Lạc có từ thời Hậu Lê do ông Nguyễn Công Trung và bà Nguyễn Thị Tự dựng lên, và từng bị hỏa hoạn trước năm 1856.
2. Phố Hàng Đào xưa là chợ bán yếm lụa.
Từ cứ liệu trên, có thể hình dung: nửa đầu Hàng Đào xưa là chợ bán yếm nhộn nhịp người bán kẻ mua nhất ở đất Thăng Long. Tất nhiên, trước khi có văn hóa mặc yếm, phải có nghề dệt vải cổ truyền đã. Theo truyền thuyết, nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ dệt lụa đã có từ thời Hùng Vương. Công chúa Thiều Hoa con vua Hùng thứ 6 đã phát minh nghề dệt lúa. Quanh Thăng Long xưa, nghề dệt vải đả nuôi sống những ngôi làng dệt cổ truyền: làng Nghi Tàm, làng Dâu, Thúy ái …

Tơ tằm nhả từ con tằm ăn lá dâu, đã cho ra các sản phẩm phong phú: lụa, lượt, là, gấm, vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, dũi, địa, nái, sồi, thao, vân … Thế kỷ XVIII, người Việt còn dệt được vải lụa đẹp nỏn nà, mang tên các loại vân tinh xảo: vân tứ quý, vân hồng điệp, vân trúc điều, vân phương thọ, vân chữ hỉ, chữ triệu … Trong sách “Vương quốc đàng ngoài”, tác giả Baron mô tả: “Kỹ nghệ dệt tơ lụa ở đây rất phát triển đến nỗi kẻ giàu, người nghèo đều mặc quần áo bằng tơ lụa”. Cuối thế kỉ XVIII, đầu XIX giáo sĩ Bissachese nhận xét: kỹ thuật nghề dệt ở Thăng Long và Bắc kỳ đã đạt tới cực thịnh.
Trong tổng thể bộ trang phục phụ nữ Việt xưa, cái yếm là đồ lót mặc trong cùng, ôm lấy khuôn ngực, che chắn và làm đẹp bên trong cho chiếc áo cánh mặc ngoài. Và bộ cánh đẹp nhất trong văn hóa mặc của phụ nữ Việt, mặc đi trảy hội lẫn khi làm ruộng vẫn là yếm, áo cánh, và váy.
Yếm trong cách mặc cổ truyền vốn là miếng vải gần như vuông, đặt chèo lên ngực người phụ nữ, góc trên cổ khoét tròn. Yếm cổ xẻ khoét xuống thấp hơn, hình chữ V. Nếu khoét sâu hơn nữa, gọi là yếm cánh nhạn. Nhưng yếm được tạo dáng rất ý tứ, không để quá lộ vùng ngực như yếm bây giờ.

Theo nề nếp, phụ nữ Việt thường đi chợ mua tơ tằm tự may yếm. Bởi vậy, có thể hiểu Thăng Long – Kẻ chợ đã có cả một cái chợ dành cho phường bán yếm. Trong cái chợ rực rỡ “yếm lụa” xa xưa ấy, từ các làng quê, những sản phẩm tuyệt hảo của tơ tằm đã đổ về đây, quyến rũ, bắt mắt đàn bà con gái Thăng Long, đặc iệt là trước những lễ hội. Họ rủ nhau tấp nập chọn tơ tằm may yếm và sắm sửa lụa là gấm vóc để may váy áo tứ thân, năm thân, áo cánh, thắt lưng, khăn vấn và cả đồ trang sức vàng bạc …
Yếm đẹp đến mức, đầu thế kỉ XX, khi hai họa sĩ “Tây học”: Lê Phổ - Cát Tường phát minh áo dài tân thời, thì vẻ đẹp tân kì, pha trộn hài hòa Đông – Tây của nó vẫn cứ phảng phất giữ lại vẻ đẹp của chiếc yếm thuở nào.
Về tỉ lệ, tính từ vai xuống eo thon thắt đáy, áo dài phô hết phần dương tính theo cách mặc phương Tây, phần thân trên của người đẹp Việt: cổ áo ôm lấy cổ kiêu ba ngấn, vai áo ôm tròn, eo cũng ôm khít “lưngong”, và áo xẻ tà hai bên cho hở lườn thấp thoáng, vừa đủ gợi cảm. Ta có thể nghĩ: khi để hở chút da thịt ở eo lưng, áo dài hiện đại đã có níu lại vẻ đẹp dân dã đa tình xa xưa của yếm thắm cổ truyền, từng được quan niệm: “Đàn ông đóng khố đuôi lươn/đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh”. Thế nhưng, áo dài lại không phải là áo cánh, nên chiếc yếm, vốn là áo lót của truyền, đã bị thay thế bởi áo lót phương Tây, nâng ngực, mà người Việt quen gọi nôm là xu-chiêng (từ tiếng Pháp: “soutien”). Mặc lòng, khi áo dài và áo lót hiện đại ấy đã cáo chung chiếc yếm cổ truyền ở không gian đô thị, thì đến nay, yếm vẫn tồn tạo trong xống áo của các bà cụ răng đen, nhai trầu bỏm bẻm ở các làng quê châu thổ Bắc Bộ. Và đặc biệt, chiếc yếm vẫn cứphải là áo lót mình, mặc bên trong trang phục cổ truyền của các cô gái quan họ trong các làng quan họ vùng Kinh Bắc. GS. Trần Quốc Vượng, trong sách “Truyền thống phụ nữ Việt Nam”), chobiết: Vị cố đạo người Italia Cristoforo Borri, từng ở Việt Nam từ namg8 1618 đến 1621, viết kí sự Đàng Trong đăng trên Đông Dương tạp chí số 4, 1909, tr.361-367, đã ca ngợi phụ nữ Việt Nam: “tính khí êm dịu hơn bất cứ dân tộc nào khác ở phương Đông”, “đón tiếp khách khứa rất nồng hậu, mời ăn cơm và coi như bạn bè”. “Tâm tình khoáng đạt, thoải mái”, “dáng đi thong thả uy nghi”, và kết luận: “quần áo của họ có lẽ kín đáo nhất vùng Đông Nam á” .. Trong những lời khen đó, chắc chắn có sự dự phần duyên dáng và ý nhị của chiếc yếm cổ truyền.

Bài viết cùng chuyên mục

Có người viết đâu đó rằng, Hà Nội là một cái làng to nhất thế giới để ngụ ý cái chất “nhà quê”, những bất cập trong quản lý đô thị và nếp ...

Cần có bản đồ địa lý lịch sử chính xác để tránh cho Việt Nam khỏi bị thua thiệt về cương vực. Sử Thực Lục ghi: Tháng 6 năm Bính Tuất (1886), “Toàn ...

Ngày 28 tết vừa qua (23-1-2009), tôi nhận được tập san The Portolan, cơ quan của Washington Map Society (hội bản đồ Washington), trong đó có bài giới thiệu một bản ...

Châu Sa là một thành cổ của người Chăm cổ xưa được đắp bằng đất. Thành Châu Sa thuộc thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. ...

Áo tơi được nhân dân ta làm bằng lá tro còn gọi là lá cọ (lá mà người dân quê dùng để làm tranh lợp nhà). Suốt cả chiều dài lịch sử của dân tộc ...

Chuông đồng là những di vật cổ có giá trị rất lớn về mặt lịch sử, văn hóa... của mỗi dân tộc trong từng thời đại. Dựa vào công nghệ đúc đồng và ...

Đối với sự phát triển của một quốc gia, dân tộc nói chung, tiếng nói và chữ viết là những yếu tố phản ánh chính xác cội nguồn của một nền văn hoá ...

Với vẻ đẹp quyến rũ của hang, cuốn Merveille de Monde (kỳ quan thế giới) chuyên về du lịch của Pháp xuất bản năm 1938, khi giới thiệu các danh thắng nổi ...

Các nhà khoa học Viện Khảo cổ học Việt Nam và Bảo tàng tỉnh Cao Bằng vừa phát hiện một cầu đá đang được dân sở tại dùng để đi lại nhưng được ...

Tôi đến đền Chử để tìm một không gian kiến trúc cổ tiêu biểu của đồng bằng Bắc bộ, và cũng là để ghi lại những hình ảnh cuối cùng của đền khi ...