Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Ấn Quang Thiên Quí

Ngày đăng: Thứ năm 10/04/2008 12:00:00 (GMT +7)

Ấn Quang theo cổ nghĩa là ân huệ đặc biệt. Ngày xưa chế độ thi cử cứ ba năm một lần thi hội, ba năm một lần thi hương. Bất chợt có một khoá đặc biệt gọi bằng “ân khoa”. Như vậy sao Ấn Quang chủ về sự đỗ đạt ân sủng thuộc quí chứ không phải phú. Ấn Quang cần Xương Khúc Khôi Việt đi bên mới hay. Vận gặp Thiên Khôi Ấn Quang lại thêm cả Lộc Tồn Hóa Lộc thì nhờ quí nhân đề bạt mà có tiền tài.

Thiên Quí đem đến cả quí lẫn phú. Nó hợp với Văn Xương nhất, thứ nhì mới tới Văn Khúc rồi sau là Khôi Việt, tăng gia khả năng thông tuệ. Thiên Quí vào Thê cung nhờ vợ mà được chức. Thiên Quí hợp Thái Âm và sợ Thái Dương hãm. Còn Ấn Quang ngược lại hợp Thái Dương và sợ Thái Âm hãm. Trường hợp cả Âm lẫn Dương hội lại cùng Quang Quí Khôi Việt thì lại chuyển thành cách rất tốt, tay trắng nên công danh phú quí.

Luận cứ cho rằng Quang Quí cũng như Long Phượng khả dĩ giải được tính trăng hoa của Đào Hoa, Thiên Riêu là sai. Trái ngược hẳn, nữ Mệnh đã có đào hoa tinh rồi còn gặp Quang Quí thì tính hư ngụy phù hoa quan hệ với nhiều người đàn ông. Chỉ có những kĩ nữ mới quen thuộc các đại quan quí nhân (tức Ấn Quang Thiên Quí đó). Quang Quí gặp Thai Phụ, Phong Cáo gọi bằng cách “tứ vinh” càng hanh thông trên hoạn lộ.

Quang Quí đứng với Tả Hữu, Thanh Long, Khôi Việt, Hoa Cái, Hồng Loan tại Mệnh hoặc chiếu rất tốt cho cả nam mạng lẫn nữ mạng.

"Quí Ân Thanh Việt Cái Hồng
Trai cận cửu trùng gái tác cung phi"

(Cung phi là nói về địa vị sang cả, chứ không phải cứ cung phi là tốt. Cung phi trong Cung oán ngâm khúc chỉ là một thứ nô lệ thời phong kiến)

Quang Quí đóng hai cung Sửu Mùi thật đẹp, nếu Mệnh hay Quan mà gặp được thì công danh thi cữ dễ dàng.

"Quí Ân Mùi Sửu hạn cầu
Đường mây gặp bước ân sâu cửu trùng"

Quang Quí gặp Đào Hồng ở cung Điền Trạch thường có may thừa kế di sản, ruộng vườn

"Quí Ân ngộ Đào Hồng Điền Trạch
Cô dì lưu tài bạch ruộng nương"

Luận về Thai Phụ Phong Cáo

Thai Phụ Phong Cáo có tác dụng vào mệnh số giống như Tả Phụ, Hữu Bật. Có Tả Hữu còn thêm Thai Phong càng đắc lực. Nhưng chỉ Thai Phong thôi mà thiếu Tả Hữu thì Thai Phong là hư sức bề ngoài có khi còn thành dương dương tự đắc và vô dụng.

Thai Phụ cũng hay khi gặp Khôi Việt, Xương Khúc, Hóa Khoa trợ lực cho chuyện thi cử, cũng hợp cả với Tử Vi, Thái Dương Thiên Lương.Thai Phụ gặp các sao thuộc phú cách thì đỡ giàu bẩn. Thai Phụ Phong Cáo đi với các đào hoa tinh tạo ảnh hưởng làm dáng làm điệu.

Sách Phi Tinh Đẩu Số viết: Thai Phụ thuộc dương thổ là sao đài các, Phong Cáo thuộc âm thổ là sao hư trương
Hai sao này tuyệt đối phải dựa vào những sao khác, đứng chơ vơ là hết tồn tại

Luận về Thiên Quan Thiên Phúc

Thiên Quan Thiên Phúc cộng với Thiên Tài Thiên Thọ gọi bằng “tứ thiện diệu” (bốn sao thiện). Tứ thiện diệu mang bốn tác dụng: Phúc, Lộc, Thọ và Tài Hoa. Thiên Quan là sao về quí nên cần hội với Tử Vi, Thái Dương, Thiên Lương nhất là Thiên Quan đứng gần các sao tiền tài, trước có tiền sau nên danh, kiểu giàu có rồi ứng cử dân biểu nghị sĩ chẳng hạn.

Thiên Quan gặp Xương Khúc, Hóa Khoa học giỏi nổi tiếng. Nói tóm lại Thiên Quan đóng vai phụ giúp cho những quí tinh đã sẵn sàng thành công.

Thiên Phúc chủ phúc cho nên đóng cung Phúc Đức tốt nhất khiến tinh thần thư thái, tâm ý hoan lạc, không quan hoài đến giàu nghèo, tiền bạc nhiều ít. Giàu mà đau ốm, giàu mà không vui không hạnh phúc kể như “phú ốc bần nhân” (nhà giàu người nghèo). Khi cung Phúc Đức gặp Thiên Phúc nhiều khó khăn trên tinh thần cuộc sống được giải cứu.

Thiên Phúc rất hợp với sao Thiên Đồng. Thiên Đồng bị Hóa Kị nhờ Thiên Phúc đỡ giảm nhẹ phiền não. Thiên Đồng cùng Thiên Phúc cuộc đời không tai nạn họa hại.

Thiên Phúc đứng với Tham Lang Hóa Lộc lại thành con người thiên về lối sống vật chất; đứng với Liêm Trinh Hóa Lộc thì nặng với sinh hoạt tình cảm. Thiên Phúc cùng Thiên Thọ đóng vào Mệnh, vào Phúc Đức hay Tật Ách đều tốt đẹp. Thiên Phúc tại Mệnh tinh thần thoải mái, tại Phúc Đức ít tai ách, tại Tật Ách không bị bệnh nặng hay cố tật, chết êm đềm. Mệnh có Thiên Phúc thủ từ tâm, mộ đạo.

Luận về Thiên Thọ Thiên Tài

Thiên Thọ đắc địa nơi Thìn Tuất Sửu Mùi. Nếu bốn cung trên ứng vào Mệnh hay Tật Ách mới hay, làm cho tuổi thọ tăng, tật bệnh giảm, ít phiền luỵ vì tai nạn bệnh hoạn.
Thiên Thọ gặp Thiên Lương lại ra một cách đặc biệt, tối thiểu trong đời phải bị một bận cửu tử nhất sinh mà thoát hiểm.

Thiên Thọ đóng cung phối ngẫu (Phu thê) thì vợ chồng tuổi chênh lệch rõ rệt, trên cả mười tuổi nếu chồng già vợ trẻ, trên bốn năm tuổi nếu vợ già chồng trẻ.

Thiên Thọ đóng cung huynh đệ, anh với em cách xa tuổi, như anh tám tuổi em hai tuổi (nói về anh em liền chứ không phải cả với út)

Thiên Thọ đóng các cung khác không đáng kể. Sao Thiên Tài cũng như ba thiện diệu trên cần phụ vào chính tinh nào đó, Thiên Phúc cần Thiên Đồng, Thiên Thọ cần Thiên Lương, còn Thiên Tài thì cần sao Thiên Cơ. Thiên Cơ gặp
Thiên Tài thông minh tài trí tăng gấp bội, đa học đa năng. Thiên Tài khả dĩ cải thiện những khuyết điểm của Thiên Cơ.

Thiên Tài cũng thuận với các sao Xương Khúc, Long Phượng để tăng gia kỹ năng, Thiên Tài đi với Thiên Thọ đóng Mệnh thì Thiên Thọ có tác dụng tạo tính cẩn thận, ẩn trọng, chấn tĩnh.

Thiên Tài gặp những chính tinh mang tính phù đãng phiêu lưu lại trở thành thông minh mà khinh bạc kiểu phong lưu tài tử, coi mọi sự là trò đùa, càng thông minh càng kém phúc.

Thiên Tài cần Thiên Phúc đứng bên để bớt rông rỡ. Thiên Tài đóng Thìn Tuất là lạc hãm, tác dụng tài hoa không còn nữa.

Luận về Tam Thai Bát Tọa

Thai Tọa theo các lý thuyết gia Trung Quốc mang một đặc điểm phải tựa vào sao khác thì mới thành lực lượng, nếu đứng một mình vô giá trị. Giá trị của Thai Tọa là làm cho địa vị tài sản sự nghiệp thêm danh vọng và ổn định.
Thai Tọa cần Xương Khúc,Quang Quí, Long Phượng, Thai Phụ, Phong Cáo và tựa vào Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương (cho người sinh ban ngày), Thái Âm (cho người sinh ban đêm). Thai Tọa gặp lưu niên Thái Tuế tạo ra thanh thế cho năm ấy

"Tam Thai hội hợp cùng cát diệu
Thời một phen dưỡng dục nên người
Giáp Thai giáp Tọa thanh phận tảo vinh"

(Mệnh giáp Thai Tọa thành công sớm, câu này không lấy gì làm chính xác)

- Thai Tọa Phong Cáo hiển ấm thừa quang
(Mệnh có Thai Tọa Phong Cáo thì được hưởng phúc lộc của tổ phụ)

Ngoài ra còn hai câu phú:

a. Mộ trung Thai Tọa văn mưu vũ lược kiêm ưu (Thai Tọa đứng thủ Mệnh ở các mộ cung thì văn võ song toàn)
b. Bát Tọa hướng Dương, thị tụng ư cung cấm (Bát Tọa gặp Thái Dương ở Mệnh là người phục dịch nơi cung cấm)

Hai câu này không mang một luận cứ nào vững chắc, qua kinh nghiệm thấy không đúng.

Luận về Thiên Đức Nguyệt Đức

Thiên Đức Nguyệt Đức và Long Đức với Phúc Đức gọi bằng bốn sao đức của Tử Vi khoa. Thiên Đức rất tốt khi đóng vào cung Phụ Mẫu lại gặp được Thái Dương, Thiên Lương miếu địa thì con dòng cháu dõi hoặc được sự chăm lo chu đáo nâng đỡ từ tổ phụ.

Thiên Đức gặp Khôi Việt là dấu hiệu báo có những cơ hội thuận lợi. Thiên Đức không có khả năng làm giảm bệnh tật hoặc những khó khăn về mặt pháp luật, vậy thì đừng coi Thiên Đức như một sao tiêu tai giảm nạn.

Thiên Đức Nguyệt Đức có tác dụng chế giảm tính trăng hoa của Đào Hoa. Nguyệt Đức cũng như Thiên Đức, nhưng Nguyệt Đức biểu tượng nữ tính, vào cung Phụ Mẫu ắt có mẹ hiền đức. Cung Phu Thê có Nguyệt Đức đứng cùng Xương Khúc nhờ bên nhạc gia mà thành danh phận.

Nguyệt Đức đứng với Xương Khúc ở Mệnh thì dễ được nữ phái mến chuộng, mến chuộng đây không nhất định là tình ái, có thể làm nghề nữ trang quần áo hoặc viết văn mà phái nữ ưa thích

"Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào tinh
Trai lấy vợ đẹp gái lành chồng sang"

Khi Mệnh có đủ bộ tứ đức thì giảm được nhiều tai ách

 

Mời xem các bài khác:

    1. Tử vi tinh điển
    2. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Tử vi
    3. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Cơ
    4. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thái Dương
    5. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Vũ Khúc
    6. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Đồng
    7. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Liêm Trinh
    8. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Phú
    9. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thái âm
    10. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Tham Lang
    11. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Cự Môn
    12. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Tướng
    13. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Lương
    14. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thất Sát
    15. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Phá Quân
    16. Tử vi tinh điển (phần 2) - Những sao cấp hai
    17. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Xương Khúc
    18. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Tả Phụ Hữu Bậc
    19. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Tam Thai Bát tọa
    20. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận vể Hỏa Tinh và Linh Tinh
    21. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Kình Dương Đà La
    22. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Địa Không Địa Kiếp
    23. Tử vi tinh điển (phần 3) - Những sao cấp 3
    24. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Tuần Triệt
    25. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Long Trì Phượng Các
    26. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Khốc Thiên Hư
    27. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Hình
    28. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Riệu
    29. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Kiếp Sát
    30. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Hông Loan Thiên Hỷ
    31. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Sao Đào Hoa
    32. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Hoa cái
    33. Tử vi tinh điển (phần 3) - Nói về Vòng Tướng Tinh
    34. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Vòng Tràng Sinh
    35. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Đại Hao
    36. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Quan Phủ
    37. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiếu Dương
    38. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiếu Âm
    39. Tử vi tinh điển (phần 4) - Luận về Thiên Không Thiên Việt
    40. Tử vi tinh điển (phần 4) - Ngũ hành ở thuộc của các Tạp Diệu

      Bài viết cùng chuyên mục

      IX.- Kết luận: Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập ra không ...

      VIII- Dị biệt chính, Nam phái. 1.- Sự khác biệt về số sao: 1.1. Bộ Tử-vi chính nghĩa: Được coi như là chính thư. Không nói về số sao. Song trong mục dạy an sao ...

      VII. Khoa Tử-vi các đời sau: Khi nhà Trần bị nhà Hồ cướp ngôi (1400), con cháu họ Trần tản mác đi khắp nơi, có người dùng khoa Tử-vi làm kế sinh nhai, khoa ...

      VI.- Khoa Tử-vi đời trần. 1.- Trường hợp được trọng dụng: Khoa Tử-vi được triều Trần biết đến trong một dịp đặt biệt: Thái-tử Hoảng bị bệnh mê ...

      IV. Khoa Tử-vi sau Hi-Di: Hi-Di tiên sinh chết không chỉ định ai làm chưởng môn, thành ra học trò tiên sinh mạnh ai nấy nghiên cứu, không thống nhất. Bản chính ...

      III.- Khoa Tử-vi đời Tống: Tống Thái-tổ được truyền khoa Tử-vi bằng bộ Tử-vi chính nghĩa, giữ làm của riêng của hoàng tộc họ Triệu. Bộ sách chỉ ...

      II.- Nguồn gốc khoa Tử-vi: Về nguồn gốc khoa Tử-vi thì bộ Tử-vi kinh tức Tử-vi chính nghĩa, phần Hy Di tiên sinh liệt truyện viết :

      I.- Thư tịch về khoa Tử-viKhoa Tử-vi bắt nguồn từ thời nào ? Ai là người khai sáng ra nó, cho đến nay sử sách không ghi lại. Các Tử-vi gia thường chỉ chú ý ...

      Lịch sử khoa tử vi ( 08/04/2008)

      Lời giới thiệu: Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập ra ...