Tử vi tinh điển

Ngày đăng: Thứ năm 10/04/2008 12:00:00 (GMT +7)

Lập luận trên là sai lầm! Vì chỉ bằng quan điểm khoa học, xem mệnh tướng là hoang đường và mê tín vì đã chẳng hiểu sâu xa những kiến thức đến từ số mệnh học. Lưới tin học giăng xa khắp thế giới, cho con người đủ mọi tin tức và hiểu biết ngay tức khắc khi một sự việc xảy ra ở bất cứ nơi nào trên địa cầu. Duy có một hiểu biết mà “hệ thống internet” không thể cung cấp được là hiểu biết và nhận thức về chính bản thân mỗi người trong chúng ta.

Tại một ngôi đền ở thành Athens có khắc một câu châm ngôn của các nhà hiền triết Hy Lạp cổ thời “Hãy nhận thức bản thân mình”. Châm ngôn ấy chính là cơ sở của tất cả các loại mệnh số học từ trước tới nay, ở bất cứ đâ. Tôi nhắc lại ba chữ mệnh số học để nói rằng những khoa thuộc loại này đã được kể là một học vấn tồn tại lưu truyền từ mấy ngàn năm, được phân tích, nghiên cứu kỹ lưỡng. Xã hội loài người càng tiến hoá càng phức tạp. Thời hồng hoang chưa có số mệnh nhưng chưa có đạo đức, chưa có văn hóa, chưa có hệ thống cơ chế, vẫn có số mệnh nhưng chưa có số mệnh học vì con người chỉ biết vái trời mà cầu đảo, mọi sự trông vào lối giả quyết của những cúng kiến mang tính chất thuần tôn giáo, mê tín.

Thoát khỏi cuộc sống ăn lông ở lỗ, bước vào sinh hoạt văn hóa, đạo đức và cơ chế, đường đi nước bước của hành động dần dần thay thế tình trạng tuyệt đối tùy thuộc ông trời và bọn thầy cúng, số mệnh con người được đưa ra xem xét cặn kẽ để hình thành khoa số mệnh học. Kinh dịch chính là một trong những bộ sách cổ của số mệnh học trong cái tinh thần “Hãy nhận thức bản thân mình”. Khi Văn Vương lập Bát quái bắt nguồn từ tìm thấy ở Lạc thư hà đồ, một công thức toán nguyên thủy viết trên những ô vuông như mai con rùa gồm chín ô (như bàn cờ tướng). Mỗi ô viết một chữ số thành ra số 15 gồm mỗi ô cộng lại, cho bất cứ hướng nào, ngang dọc chéo như sau:

4 9 4
3 5 7
8 1 6

Tổ chức xã hội với các mặt cơ chế chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa tinh vi bao nhiêu thì số mệnh học con người càng hiện rõ bấy nhiêu. Quyền cao chức trọng, luân lạc giang hồ, giai nhân mệnh bạc, bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mói được phần thanh cao. Vương Khải, Thạch Sùng, Bill Gates, Turner, công nương Diana… đều mang số mệnh riêng biệt.

Dịch là chuyển biến, thay đổi không ngừng. Toàn vũ trụ không lúc nào không chuyển dịch, biến đổi. Chuyển đổi là nguyên động lực đẩy quay bánh xe số mệnh và con người ở trần thế này. Tốc độ biến dịch mỗi thời kỳ một mau hơn. Con người cần nhận thức được bản thân để thích ứng hoặc trực diện đương đầu, hoặc tránh né để chờ thời mà thực hiện tốt cuộc tranh sống với hoàn cảnh thiên nhiên, hoàn cảnh xã hội.

Khả năng của lưới tin thời đại chỉ lan xa, mở rộng và chỉ xuất hiện mới đây, nhưng tấm lưới của số mệnh đã có từ khi hình thành vũ trụ, chẳng những bao la, xa rộng mà còn thấm sâu vào đời sống vạn vật. Lưới tin chỉ có thể cho ta biết những gì đang xảy ra, đã xảy ra nhưng lưới của số mệnh Nostradamus phát hiện được những gì sẽ đến sau cả trăm năm. Nếu không dùng số mệnh học để giải đáp, chúng ta không thể hiểu tại sao?

Vở kịch La Moueette của Anton Tchkoov lần đầu trình diễn là một thất bại thê thảm đến nỗi tác giả phải bỏ trốn để không bị nghe những lời mạt sát, công kích. Nhưng chỉ ba tháng sau thôi, hào quang của vở kịch những những bao trùm nước Nga mà còn chiếu sang ra toàn thế giới, mà làn trình diễn thứ hai vở kịch không hề được gọt dũa hay thay đổi dù một chữ.

Gần hai chục năm, mạng lưới số mệnh đã bủa vây công nương Diana, từng lớp từng lớp, cuối cùng đưa tới cái chết thê thảm của bà giữa lúc mà kỹ thuật lưới tin phát triển rầm rộ. Vậy thì nói chuyện số mệnh vào lúc này khi nhân loại bước sang kỷ nguyên kỹ thuật lên cao nhất, kinh tế toàn cầu phức tạp nhất trong lịch sử lại là hợp thời.

Phương Đông không dùng hai chữ định mệnh mà dùng số mệnh. Như Tử Vi Đẩu Số, Mai Hoa Dịch Số, mở đầu bộ Kinh Dịch là thấy ngay những con số như Thái Cực Sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng và sáu mươi bốn quẻ dịch. Ngôi vua được gọi là ngôi Cửu Ngũ, căn cứ và hệ tử qua quẻ càn “Cửu Ngũ, Phi Long tại Thiên”. Dùng số cốt để chỉ một bài toán có thể tính ra, tìm thấy. Nếu kể là định mệnh thì đành chỉ bó tay chịu thôi.

Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa kể mấy chuyện về trận Xích Bích như Gia Cát Lượng đã tính ra ngày sương mù để sản xuất ra những mũi tê lấy từ kho vũ khí của Tào Tháo; tính thời gian có gió đông để đánh chiến thuyền của quân Ngụy bằng hỏa công và còn rất nhiều chuyện tương tự rải rác ở các sách khác hoặc từ văn học dân gian.

Lịch sử nước ta có mấy câu kể vào loại “nhất ngôn hưng bang” ảnh hưởng lâu dài đến vận mệnh của cả nước đều bắt nguồn từ tính toán mệnh số:

- Lúc họ Trịnh toan cướp ngôi Lê sai người vào hỏi ông Trạng Trình. Ngài trầm ngâm chẳng muốn bàn thảo thẳng vào vấn đề. Các sứ gia của Trịnh lặng yên ngồi chờ thì bỗng Trạng Trình sai bảo người nhà một điều: “Hẵng quét dọn sạch sẽ nơi thờ tự vào chùa thờ Phật thì được ăn oản” chỉ một câu ấy thôi rồi ngài xin phép các sứ giả vào nghỉ. Sứ giả về tâu trình lại với chủ, họ Trịnh hiểu ý, không đoạt ngôi Lê nữa mà chỉ xưng là chúa nhưng quyền hành đã nắm hết trong tay. Câu vào chùa thờ Phật thì được ăn oản đã khiến cho nước hết loạn, dân được yên. Nếu tranh đoạt ngôi Lê thì cái thù của dòng họ còn kéo dài và giết chóc chưa chấm dứt.

- Một lần khác khi Nguyễn Hoàng bị chúa Trịnh chèn ép bèn sai gia nhân đến thỉnh ý Trạng Trình. Ngài bảo: “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân” (Dãy núi Hoành Sơn có thể dung thân vạn đời). Nguyễn Hoàng hiểu ý xin với chúa Trịnh cho mình đi trấn thủ phía Nam, một nơi mà chúa Trịnh coi là tử địa cho Nguyễn Hoàng. Thế nhưng Nguyễn Hoàng từ đấy đã mở mang bờ cõi cho nước ta, trải dài tới đến Cà Mau.

- Trạng Trình một nhà số mệnh học uyên thâm, cụ đã tính và nhìn thấy rõ chẳng những tương lai của một người, một dòng họ àm còn tương lai của một dân tộc. “Vào chùa thờ Phật thì được ăn oản” là câu nói tạo nên một thời an dân. “Hoàng Sơn nhất đái vạn đại dung thân” là câu nói hưng bang, mở mang bờ cõi

- Các lời tiên tri của Nostradamus thiết tưởng tất cả mọi tin tức của ngành tin học cho dù có lúc nó phát triển cao độ nhất chắc chắn cũng vẫn chẳng theo kịp. Họ Trịnh, họ Nguyễn đã được Trạng Trình chỉ bảo mà nhận thức ra chính mình dối với tình thế trước mặt. Nhận thức ấy đã ảnh hưởng rất lớn cho đất nước đương thời và những thế hệ mai sau. Alexandra không chết tại trận tiền đẫm máu và đầy thây người nhưng đã lìa đời bởi một căn bệnh khônglấy gì làm độc hại. Cesar đã gục ngã ngay ngưỡng cửa thượng viện bởi những lưỡi dao của người bạn mà ông rất tin cậy, quí trọng Brutus. Napoleon tạ thế trong trại giam khi bị lưu đầy ra đảo Saint Heleneb bởi chứng đau bao tử (cũng có giả thuyết nói ông bị đầu độc). Napoleon từng nói: “Giữa cái ngố nghếch lố bịch và cái vĩ đại huy hoàng chỉ cách nhau gang tấc”

Những vĩ nhân lịch sử kế trên, họ từng đi rất xa để chinh phục thế giới rộng lớn và rồi họ đã gặp những cái chết như lời ghi trên một bản viết tìm thấy dưới hầm tòa thánh thế kỷ 15”. Va où tu veux, meurs où tu dois (người muốn đi tới nơi nào tùy ý, nhưng cuối cùng người sẽ phải chết ở chỗ đã định sẵn). Sự trớ trêu và điều trớ trêu chính là một bộ mặt ẩn dấu của số mệnh.

- Sau khi họp với các tướng lãnh đạo thảo luận về chiến dịch tấn công Nga Xô Viết, Hitler lên máy bay trở về đại bản doanh tại tư dinh ông ở Rastenburgus, bay gần đến nơi thì máy bay ngộ nạn. Một số tùy tùng chết, riêng ông thì hôn mê nửa năm. Cuộc chiến với Nga ngay lúc khởi sự đã gặp trục trặc, ảnh hưởng đến cả tương lai lịch sử thời ấy. Thiếu Hitler các tướng không đồng ý chặt chẽ được với nhau, các tướng cũng không phục thống chế Goering mà Hitler có ý định chọn làm người kế vị. Bởi thế chiến dịch Barbarossa đã không thành công trước mùa đông để rồi thất bại.

- Ông Buachau người Thái Lan được cả thế giới coi là ông vua rắn. Nhưng ông lại đã chết vì rắn cắn sau khi hưởng danh hiệu vua chưa đầy 3 năm. Lý do ông chết chỉ tại người thân thuộc không đưa ông tới nhà thương ngay vì họ nghĩ ông là vua rắn, làm saio chết bởi rắn cắn được.

Sách truyền thế ngôn có câu:

"Thời cùng thế kiển chi nhân, đương nguyên kỳ thực tâm
Công thành danh lập chí sĩ, đương quan kỳ mạt lộ"

(Người ở vào cái thế cùng kiệt mà không đánh mất nhiệt tâm phấn đấu
Người đang lúc công thành danh toại hãy nhìn ra lúc mạt lộ của mình)
Câu này đáng để ta suy ngẫm về cái triết lý của mệnh số.

Ba Khải quốc công thần đời Hán: Tiêu Hà, Hàn Tín, Trương Lương
- Tiêu Hà bị ngục hình chết trong tù
- Hàn Tín bị chu di
- Trương Lương thoát chạy lên núi tu tiên
Sở dĩ Trương Lương sắp xếp an toàn tình cảnh mạt lộ của mình chính là nhờ ông giỏi khoa toán mệnh.

Lời dẫn
Luận đoán một lá số phải căn cứ vào các sao đã an qua lề lối được ấn định bởi ngày giờ năm tháng sinh. Ta thấy hơn một trăm sao từ chính tinh đến phụ tinh như Tử Vi, Thiên Phủ, Kình Dương, Đà La, Văn Xương, Văn Khúc, Cô Thần, Quả Tú…

Như vậy có phải khoa Tử Vi liên hệ đến thiên văn không? Nhất là lại nhắc tới các hệ nam đẩu với bắc đẩu tinh.
Khoa Tử Vi không dính dáng gì đến thiên văn. Những sao ấy chỉ là những hư tinh dùng làm ký hiệu cho sự lập thành lá số, cũng như trong khoa kham dự (địa lý) dùng Phá Quân, Liêm Trinh, Cự Môn để chỉ hình thù của một trái đất. Nhiều người vẽ rắn thêm chân cho rằng tinh hệ của tử vi đẩu số còn liên quan cả đến từ trường…

Cuốn sách này chỉ diễn dịch cho rõ rằng cổ nghĩa đã ghi ở các bài phú của cổ nhân mà thôi. Tỉ dụ khi nói về Hỏa Tinh Linh Tinh, người xưa bảo “Hỏa Minh Linh Ám” thì thế nào là minh, thế nào là ám cho rõ trắng đen để người đọc dễ dàng nắm được then chốt. Ở đây cũng tìm hiểu thêm lý do tại sao Không Kiếp lại khởi từ cung Hợi mà tính đi, tại sao Xương Khúc lại từ Thìn Tuất, tại sao Tứ Hóa lại bắt đầu từ Hóa Lộc đến Quyền đến Khoa và sau cùng là Kị.

Số với lý phải gắn liền
Số thiếu lý thì số khó đứng vững

Ngoài ra là ít nhiều tìm tòi về những sao có ghi trong sách vở bên Trung Quốc mà không hề được nhắc tới khi Tử Vi truyền qua nước ta như: Âm Sát, Quan Sát, Tuế Dịch, Phan Án, Tức Thần, Thiên Sát, Chỉ Bối, Nguyệt Sát, Vong Thần….

Các cấp sao
Chư tinh có hai hệ: Bắc đẩu và Nam đẩu
Tử Vi dẫn đầu Bắc đẩu hệ
Thiên Phủ dẫn đầu Nam đẩu hệ

Rồi đến các sao cấp hai như Xương Khúc, Tứ Hóa, Kình Đà, Linh Hỏa, Tuần Triệt không vong, bộ tam minh Đào Hồng Hỉ…

Sao cấp ba là hệ Lộc Tồn, Tràng Sinh, Thái Tuế
Sao cấp bốn như Riêu Hình, Kiếp Sát, Long Phượng, Thai Tọa… Sao tính theo năm, theo tháng, theo ngày và theo giờ.
Sao tính theo năm còn chia ra Can với Chi, như Lộc Tồn theo Can, Linh Hỏa theo Chi.

Thời cổ lập luận lấy năm làm gốc rễ, tháng là mầm mống, ngày là hoa, giờ là quả, cho nên năm được coi làm thần dẫn đạo. Đến đời Tử Bình mới bác bỏ luận cứ trên vì năm làm thần dẫn đạo tính số không được chính xác, phải lấy ngày làm thần dẫn đạo mới đúng. Từ đấy đến nay không được thay đổi nữa.

Khoa Tử Vi cũng lấy ngày làm chủ như Tử Bình. Lập cục rồi tìm Tử Vi theo ngày. Cõi nguồn của lý số là Đạo gia không phải Nho gia vì Nho gia không đặt nặng lẽ chí huyền chí vi. Âm Dương Ngũ Hành gần với Đạo gia hơn Nho gia. Khi Khổng Khâu giảng Kinh dịch, ông bẻ công vào khuynh hướng chính trị và nhân luận vốn là tư tưởng căn bản của Nho. Dịch vào lý số lại đi theo con đường khác hẳn. Nhưng không phải Nho gia không ảnh hưởng vào lý số. Mười hai cung trên lá số gồm Mệnh, Bào, Tử, Tài, TẬt, Thiên, Nô, Quan, Điền, Phúc, Phụ chính là tổ chức của Nho gia. Ý nghĩa nhân luận của Nho gia được dùng làm cơ sở thực tế để luận về số mạng. Nho gia có lục nghệ: Lễ, Nhạc, Sạ, Ngự, Thư, Số để phân định văn với vũ, các sao của khoa Tử Vi cũng chia ra văn và vũ. Sự suy đoán một lá số Tử Vi xuất hiện khá nhiều sắc thái Nho.


Mời xem các bài khác:


1. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Tử vi
2. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Cơ
3. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thái Dương
4. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Vũ Khúc
5. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Đồng
6. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Liêm Trinh
7. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Phú
8. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thái âm
9. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Tham Lang
10. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Cự Môn
11. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Tướng
12. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thiên Lương
13. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Thất Sát
14. Tử vi tinh điển (phần 1) - Luận về sao Phá Quân
15. Tử vi tinh điển (phần 2) - Những sao cấp hai
16. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Xương Khúc
17. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Tả Phụ Hữu Bậc
18. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Tam Thai Bát tọa
19. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận vể Hỏa Tinh và Linh Tinh
20. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Kình Dương Đà La
21. Tử vi tinh điển (phần 2) - Luận về Địa Không Địa Kiếp
22. Tử vi tinh điển (phần 3) - Những sao cấp 3
23. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Tuần Triệt
24. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Long Trì Phượng Các
25. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Ấn Quang Thiên Quí
26. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Khốc Thiên Hư
27. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Hình
28. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiên Riệu
29. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Kiếp Sát
30. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Hông Loan Thiên Hỷ
31. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Sao Đào Hoa
32. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Hoa cái
33. Tử vi tinh điển (phần 3) - Nói về Vòng Tướng Tinh
34. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Vòng Tràng Sinh
35. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Đại Hao
36. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Quan Phủ
37. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiếu Dương
38. Tử vi tinh điển (phần 3) - Luận về Thiếu Âm
39. Tử vi tinh điển (phần 4) - Luận về Thiên Không Thiên Việt
40. Tử vi tinh điển (phần 4) - Ngũ hành ở thuộc của các Tạp Diệu

Bài viết cùng chuyên mục

IX.- Kết luận: Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập ra không ...

VIII- Dị biệt chính, Nam phái. 1.- Sự khác biệt về số sao: 1.1. Bộ Tử-vi chính nghĩa: Được coi như là chính thư. Không nói về số sao. Song trong mục dạy an sao ...

VII. Khoa Tử-vi các đời sau: Khi nhà Trần bị nhà Hồ cướp ngôi (1400), con cháu họ Trần tản mác đi khắp nơi, có người dùng khoa Tử-vi làm kế sinh nhai, khoa ...

VI.- Khoa Tử-vi đời trần. 1.- Trường hợp được trọng dụng: Khoa Tử-vi được triều Trần biết đến trong một dịp đặt biệt: Thái-tử Hoảng bị bệnh mê ...

IV. Khoa Tử-vi sau Hi-Di: Hi-Di tiên sinh chết không chỉ định ai làm chưởng môn, thành ra học trò tiên sinh mạnh ai nấy nghiên cứu, không thống nhất. Bản chính ...

III.- Khoa Tử-vi đời Tống: Tống Thái-tổ được truyền khoa Tử-vi bằng bộ Tử-vi chính nghĩa, giữ làm của riêng của hoàng tộc họ Triệu. Bộ sách chỉ ...

II.- Nguồn gốc khoa Tử-vi: Về nguồn gốc khoa Tử-vi thì bộ Tử-vi kinh tức Tử-vi chính nghĩa, phần Hy Di tiên sinh liệt truyện viết :

I.- Thư tịch về khoa Tử-viKhoa Tử-vi bắt nguồn từ thời nào ? Ai là người khai sáng ra nó, cho đến nay sử sách không ghi lại. Các Tử-vi gia thường chỉ chú ý ...

Lịch sử khoa tử vi ( 08/04/2008)

Lời giới thiệu: Tử-vi không phải là một khoa học độc lập, nó là kết tinh trong nhiều khoa học khác trong học thuật tư tưởng Á-châu. Người sáng lập ra ...