undefined

Thiên Văn Học Phương Đông

Chủ nhật 06/03/2011 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Mộc Công
Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Lý Học Đông Phương

LTS : bài viết được trích đăng từ nghiên cứu của một cố giáo sư đã có nhiều công trình nghiên cứu về vũ trụ quan phương Đông. Nay trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương đăng lên đây để quý vị quan tâm có thể tham khảo và nghiên cứu.

Thiên Văn học Phương đông có nguồn gốc từ rất lâu đời, những nhà thiên văn phương đông xưa ghi chép kĩ càng về chuyển động của Mặt Trời, Mặt Trăng, 5 hành tinh Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ và các tinh tú trên bầu trời để đoán định về về những biến chuyển ở hạ giới tương ứng và cũng là để đoán định sự cát hung của chuyển động đấy.


Thiên văn học phương đông xem Bắc cực là trung tâm của vũ trụ, là nơi ở của Thượng đế, khác hẳn với phương Tây khi xưa xem Trái Đất là trung tâm của vũ trụ, họ chia mặt đất làm 9 phận dã, mỗi phận dã chịu ảnh hưởng của một số tinh tú khác nhau. Quan sát những tinh tú này có thể đoán định cát hung cho từng phận dã đó. Những nhà thiên văn xưa dựa vào Mặt Trời, Mặt Trăng mà làm ra nông lịch dùng cho việc trồng trọt, và cuộc sống hàng ngày.
Những vị thiên quan khi xưa còn dựa vào 5 màu sắc của mây, 12 loại gió (*) để mà đoán định hạn hán, thiên tai, môn Thái Ất cũng dựa vào đấy để dùng cho việc binh. Hơn thế thiên văn phương đông còn phát hiện ra tuế sai, và Thái Ất chính là một môn thần diệu mô tả được mọi hiện tượng trong thiên nhiên trên từ trời đất dưới đến phong thủy con người. Đó là môn đứng đầu trong Tam Thức mà thiếu Thiên Văn thì nó như mất hẳn đi phần hồn vậy.
Nói một cách khác, Thiên Văn chính là cội nguồn của mọi môn bói toán của Phương đông. Tham luận này chỉ xin đưa ra một cái nhìn rất sơ lược về thiên văn cổ và một số ứng dụng của nó.
1. Sự kính cẩn trước Thiên Mệnh thông qua Điềm Trời :

Kinh Dịch nói :" Thiên tùy tượng, Thánh nhân tác chi" - Trời báo điềm, thánh nhân theo đó mà làm theo. Từ khi nhà Chu đưa ra khái niệm Thiên Mệnh, và tự xưng là Thiên Tử, các vị Vua đều xem mình là con trời và bổn phận của họ là kính sợ theo điềm trời mà hành đạo, qua đó đủ thấy được điềm quan trọng của điềm trời như thế nào khi xưa ở phương Đông. 

Tượng trong Thiên Văn bao gồm: Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần, Phong, Lôi, Vân, Vũ. Vì thế người xưa đặc biệt chú trọng đến chuyển động của Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần; hết sức chú trọng những hiện tượng về mưa gió sấm mây để mà đoán điềm trời, đối với các Thiên quan đó lại càng quan trọng vì những điều này họ phải biết để còn tâu lên Vua. Thời Chu đặt ra 7 vị quan trọng yếu của triều đình thì Thiên quan đứng hàng đầu, sau này đó chính là chức vụ Tể tướng. 

Trung Dung lại viết: "Quốc gia tương hưng tất hữu trinh, tường; quốc gia tương vong tất hữu yêu nghiệt". Sử ký chép Tuyên Vương năm thứ 46, có hai đứa trẻ mặc áo đỏ dạy cho người ta hát : "Trăng sắp lên, trời sắp xuống, yến công sâm ngô, kỉ vong Chu quốc". Thiên quan bảo : Nguyệt tượng thần, Nhật tượng mạt đó là điềm nữ chủ làm loạn thiên hạ. Sau đó xuất hiện nàng Bao Tự làm mất nhà Tây Chu. Sử ký lại ghi năm thứ 6 đời U Vương NHật Thực vào ngày Tân Mão, mùng 1 tháng 10. U Vương năm thứ 3 Kỳ Sơn núi sụp, ... rất nhiều việc quái dị trước khi nhà Tây Chu mất đã được ghi chép tỉ mỉ. 

Xuân Thu kinh, Khổng Phu Tử ghi chép lại tất cả 36 lần nhật thưc, 4 lần sao chổi xuất hiện (612, 524, 515, 482). Mỗi lần sao chổi xuất hiện là một lần biến động lớn về chiến tranh nổ ra. Mỗi lần xảy ra quái tượng như vậy quần thần họp nhau để tâu lên Vua, và bàn luận xem việc gì sẽ xảy ra.
Xuân Thu chép : Mùa thu, tháng 7 (đời Văn Công thứ 14, tức 612 tcn) có sao chổi hiện ra ở chòm sao Bắc Đẩu. Nội sử nhà Châu là Thúc Phục đoán rằng: Trong vòng 7 năm nữa, các vua nước Tống, nước Tề, nước Tấn đều bị chết vì loạn lạc…
Mỗi khi có nhật thực vua thường ăn bớt bát để tỏ lòng hối hận, lại sai vua chư hầu dâng lễ vật ở đền Xã để tỏ lòng tôn kính thần minh. Vua chư hầu đánh trống ở triều đình mình như muốn nhắc dân phải hết lòng phụng sự quốc quân.

Tấn thư - thiên văn chí
chép:Đời Minh Đế, năm Thái Hòa nguyên niên (323), quan thái sử lệnh là Hứa Chí tâu rằng: «Sắp có nhật thực.» Xin được cùng với quan thái úy đi làm lễ nhương sao.
Vua phán: «Ta nghe rằng nếu chính trị của loài người mà không hẳn hoi, thời Trời lấy những điềm tai dị mà đe dọa để khuyến cáo. Khuyến cáo cốt để cho họ sửa mình. Cho nên nhật nguyệt che khuất lẫn nhau để tỏ rõ rằng phép cai trị có điều chẳng phải. Trẫm từ khi tức vị đến nay không làm rạng sáng được thánh đức của các bậc tiên đế, và cách thi nhân giáo hóa có điều không hợp với Hoàng Thần (Hoàng Thiên), vì thế nên Trời cao muốn thức tỉnh để trẫm sửa đổi lại nền hành chánh, tu tỉnh lại hạnh kiểm ngõ hầu báo đáp thần minh. Trời đối với người y như cha đối với con. Chưa có cha nào muốn khiển trách con, mà con có thể làm bữa cơm thịnh soạn dâng lên, xin tha lỗi được. Nay hình hạc bề ngoài sai quan thượng công và quan thái sử lệnh cùng đi làm lễ nhương sao, thì lẽ ấy chưa từng nghe thấy vậy. Quần công, khanh sĩ, đại phu phải cố gắng làm chu toàn phận vụ để bồi bổ những chỗ trẫm còn khuy khuyết. Bèn phong thưởng tất cả.»

Truyện Phi Long diễn nghĩa chép: «Năm Hiển Đức thứ 2 (955), ngày mồng 1 tháng giêng có nhật thực. Vua Thế Tôn thấy vậy bèn hạ chỉ cho các quan trong triều ngoài quận, ai thấy có điều chi lợi hại thì phải lấy lời trực ngôn mà tâu, và ai thấy sự chi có ích chung cho thiên hạ thì cũng dâng biểu về triều tâu cho vua xem.»

Qua đó đủ thấy đươc sự tôn kính điềm trời ra sao ở phương Đông ngày xưa, và những tài liệu về thiên văn hầu như là cấm thư vì nó liên quan đến vận mệnh của cả một triều đại và đất nước.
2. Tư Mã Thiên và tóm lược chương Thiên Quan trong Sử ký:
Tư Mã Thiên đã ghi trong bộ Sử Ký của ông nơi sách Thiên quan như sau:

«Trong vòng 242 năm đời Xuân Thu có 36 lần nhật thực, 3 lần sao chổi hiện. Đời Tấn Tương Công có vẫn thạch rơi xuống như mưa.

«Thiên tử suy yếu, chư hầu cai trị bằng vũ lực. Ngũ bá thay nhau mà cầm quyền, lấy lệnh mình thay lệnh vua. Thế rồi, đông hiếp ít, lớn hiếp bé. Tần, Sở, Ngô, Việt tuy là di địch nhưng cũng xưng bá một phương.

«Năm thứ 15 đời Tần Thủy Hoàng, sao chổi xuất hiện 4 lần, lần lâu nhất là 80 ngày, dài suốt cả khung trời.

«Sau đó Tần hưng binh diệt 6 nước, thôn tính Trung Quốc, đuổi di địch bốn phương, người chết như rạ.

«Về sau, khi nước Sở dấy lên, trong vòng 30 năm, binh sĩ dày xéo lên nhau chết không biết cơ man nào mà kể. Từ thời Si Vưu đến lúc bấy giờ, chưa hề có như vậy bao giờ.

«Khi Hạng Võ cứu Cự Lộc, thì sao chổi Uổng Thỉ xẹt phía trời Tây. Phía Đông, chư hầu bèn hợp tung; phía Tây người ta giết dân Tần, và tàn sát dân chúng đất Hàm Dương.

«Khi nhà Hán hưng lên, có ngũ tinh liên châu (5 sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) thẳng hàng nhau nơi chòm sao Đông Tỉnh (năm thứ 7 đời Hán Cao Tổ, năm 200 tcn).

«Khi Hán Cao Tổ bị vây ở Bình Thành, trăng quầng 7 vòng ở chòm sao Sâm, Tất.

«Khi họ Lã phản loạn, có nhật thực và ngày trở nên hôn ám.

«Khi 7 nước phản loạn (trong đó có Ngô, Việt) thì sao chổi hiện ra dài mấy trượng và sao Thiên Cẩu (cũng là một loại sao chổi) xẹt qua không phận nước Lương. Sau đó binh cách xảy ra và trong vùng đó, người chết đầy dãy, máu chảy chan hòa.

«Những năm Nguyên Quang (134-129) và Nguyên Thú (122-117) đời Hán Vũ Đế sao chổi cờ Si Vưu lại xuất hiện hai lần, dài choán nửa vòm trời.

«Sau đó quân ở kinh sư xuất chinh 4 lần, giết Hung Nô trong vòng mấy chục năm, chinh phạt rợ Hồ còn khốc liệt hơn nữa.

«Khi nước Việt mất (111 tcn) sao Huỳnh Hoặc (Hỏa Tinh) đóng ở chòm sao Đẩu (sao Nam Đẩu là phân dã của Ngô- Việt). Khi Cao Ly bị diệt (108 tcn) có sao chổi hiện ra ở vùng Hà Giới (ở vào các chòm sao Nam Hà và Bắc Hà).

«Khi quân ta hạ nước Đại Uyển, sao chổi hiện ra nơi sao Chiêu Diêu.

«Đó là đại khái những hiện tượng chính, còn những hiện tượng nhỏ thì không sao kể xiết. Như vậy, mỗi khi có một hiện tượng lạ trên trời, là sẽ có một biến cố dưới đất tương ứng.»
3. Thất chính tứ dư:
Quan sát Thiên Văn từ xa xưa, ông cha ta đã để ý đến 7 tinh đẩu sáng nhất mà chúng ta nhìn thấy trên bầu trời là Mặt Trời, Mặt Trăng, và 5 hành tinh Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ. 7 tinh đẩu này được gọi là Thất Đại Diệu và người xưa tin rằng cai quản nó là 7 vị Tinh Quân , có quyền năng rất lớn và ảnh hưởng cực mạnh lên số phận con người.
THÁI DƯƠNG

Thái Dương là Mặt Trời là tinh hoa của ban ngày, là tinh hoa của tạo hoá, ban phát sư sống cho muôn loài, được cai quản bởi Thái Dương Đế Quân, ngự tại cung Quang Minh, cầm đầu trong Thất Đại Diệu. Không một ai là không được hưởng ân huệ của Thái Dương. Chính vì thế mà hạn đến sao Thái Dương là hạn rất tốt.
Khoa học hiện đại cũng đã chứng minh, sự ảnh hưởng của Mặt Trời lên con người chúng ta là lớn nhất trong tất cả các tinh đầu. Khi Mặt Trời vào chu kỳ hoạt động mạnh thì chúng ta được tác dụng rất tích cực của nó , các nhà khoa học còn chứng minh được rõ ràng, những nhà khoa học tài năng của thế kỷ 20 này đều được sinh ra vào đúng chu kỳ hoạt động mạnh của Mặt Trời. 

THÁI ÂM

Thái Âm là Mặt Trăng , là tinh hoa của ban đêm, được cai quản bởi Thái Âm thần quân ngự tại cung Quảng Hàn. Thái Âm ban phát ân huệ của nó cho mọi người , người xưa tin rằng Thái Âm tượng cho người mẹ , là sự dịu dàng, phú quý. Hạn đến sao Thái Âm là rất tốt... 
Khoa học hiện đại cũng đã chứng minh, ảnh hưởng về lực hấp dẫn của Mặt Trăng lên chúng ta chỉ đứng sau Mặt Trời , về Từ Trường chỉ thua Mặt Trời và Mộc Tinh. Người xưa thì tin rằng, Thái Âm mang lại sự quyền quý cao sang , và khoa học hiện đại cũng chỉ ra sự ảnh hưởng của Thái Âm lên mỗi chúng ta. 

MỘC ĐỨC

Mộc Đức chính là sao Mộc , sách xưa gọi là Đông Chấn Cửu Khí Mộc Đức tinh quân. Vượng ở hướng chính đông, là Tuế Quân, đứng đầu cai quản các thần. Người Phương Đông xưa cũng đã tin tưởng rằng Thái Tuế ảnh hưởng cực mạnh lên con người, ảnh hưởng này có cả tốt và xấu. Người Phương Tây thì tin rằng sao Mộc là nơi ngự của thần Jupiter ( Goethe) vị thần tối cao của các thần, thần sấm sét đầy quyền năng. Chính vì thế mà hạn đến sao Mộc Đức thì có cả tốt và xấu. 

THỔ TÚ

Thổ Tú chính là sao Thổ , sách xưa gọi là Trung Ương Nhất Khí Thổ Tú tinh quân. Phương Đông nghiên cứu thấy nó chuyển động rất chậm chạp cho nên tin rằng nó là thần của Thiên Đế đi tuần vòng quanh để kiểm tra công việc của các thần. Cho nên hạn đến sao này là sao xấu vì gặp THANH TRA có vui vẻ bao giờ ... ngay ở Phương Tây họ cũng gán sao Thổ là nơi ngự trị của thần Saturn ( cha của Jupiter, bị con lật đổ) tưởng trưng cho sự già nua chết chóc. Như vậy hạn đến sao này đa phần là xấu , khoa học hiện đại cũng khẳng định sao Thổ làm triết giảm ảnh hưởng của Mộc Tinh lên Trái Đất. 

THUỶ DIỆU

Thuỷ Diệu chính là sao Thuỷ, sách xưa gọi là Bắc Khảm Lục Khí Thuỷ Diệu Tinh Quân. Sao này chuyển động rất nhanh, cho nên phương Tây gán nó cho thần Mercury , thần truyền tin, buôn bán và lường gạt. Còn Phương Đông dựa vào đó để an sao Thiên Mã. Chính vì thế hạn đến sao này chủ yếu thiên về kinh doanh buôn bán, nhưng cẩn thận bị lừa, nói chung là tốt có xấu có.

HOẢ ĐỨC

Hoả Đức chính là sao Hoả, sách xưa gọi là Nam Ly Thất Khí Hoả Đức Tinh Quân. Sao này ở Châu Âu tượng trưng cho thần chiến tranh, còn Phương Đông ta thì đó là thần Huỳnh Hoặc. Ảnh hưởng của nó là xấu, hạn đến sao Hoả Đức là hạn sự việc bất ngờ đến, nhưng kết quả không rõ ràng, tốt không ra tốt, xấu không ra xấu ( do sự nhập nhằng của Huỳnh Hoặc ) 

THÁI BẠCH

Thái Bạch chính là sao Kim , sách xưa gọi là Tây Đoài Ngũ Khí Thái Bạch Kim Tinh hoặc là Trường Canh Tinh, do sao này mãi đến gần sáng mới tắt, sáng một mình khi những sao khác đã tắt. Từ quan sát đó mà người xưa tin rằng Thái Bạch tượng cho sự cô độc, là tài tinh quyền tinh. Hạn đến sao Thái Bạch là chủ sự việc kéo dài nhưng rồi cũng thành công, và đặc điểm nổi bật của nó là cô độc.
Đó là thất chính hay còn gọi là Thất đại diệu, còn Tứ Dư là Nguyệt Bột, Tử Khí, La Hầu và Kế Đô. Nguyệt Bột, Tử Khí sách xưa chép là những dạng khác nhau của sao chổi. Riêng La Hầu, Kế Đô là hai sao không có thực trên bầu trời. Nó xuất phát từ việc quan sát Nhật Thực, Nguyệt Thực. Người xưa không thể giải thích về hai hiện tượng này cho nên họ nghĩ Mặt Trời Mặt Trăng bị ăn mất và rất sợ hãi. Tại Ấn Độ họ tin rằng có hai vị ác thần đã che mất Mặt Trời Mặt Trăng , vị thần che mất Mặt Trời là Rahu và che Mặt Trăng là Kethu. 

Sau này sự du nhập của Phạn Lịch vào Trung Hoa, tên được hán hoá thành ra La Hầu và Kế Đô. La Hầu tối hung cho Nam vì nó che mất Mặt Trời, Kế Đô tối hung cho Nữ vì nó che mất Mặt Trăng. Cho nên hai vị tinh đẩu này tuy không có thật nhưng cũng được xếp ngang hàng với 7 vị Tinh Quân ở trên thành Cửu Đại Diệu như chép ở một số sách thiên văn. 

Về mặt thiên văn học, Kế Đô và La Hầu đánh dấu hai giao điểm trên giao tuyến của hai mặt phẳng hoàng đạo và bạch đạo, nghĩa là hai mặt phẳng chứa đường di chuyển của Mặt Trời và Mặt Trăng khi chúng di chuyển trên thiên cầu. Vì thế, La Hầu và Kế Đô tương ứng được gọi là các giao điểm Mặt Trăng bắc (thăng) và nam (giáng). Một thực tế là hiện tượng thực chỉ xảy ra khi Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng thẳng hàng, nghĩa là khi chúng tạo thành một đường thẳng đi qua một trong hai giao điểm này và điều đó đã tạo ra huyền thoại về việc Mặt Trăng hay Mặt Trời bị nuốt mất bởi yêu tinh, theo như Trung Hoa cổ thì bị nuốt bởi con gấu, còn theo như Ấn Độ cổ thì bị nuốt bởi con rắn quỷ.
4. Những chòm sao cơ bản của Thiên Văn phương đông:
4.1 Chòm sao Đại Hùng
Đây là chòm sao Gấu Lớn (Ursa Major) mà một phần của nó bao gồm 7 sao, hình như cái đấu lớn tạo thành chòm sao Bắc Đẩu nổi tiếng. 7 sao đó là Tham Lang, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Văn Khúc, Lộc Tồn, Cự Môn và Phá Quân. Cũng có một cách gọi khác của 7 sao này Thiên Xu (Tham Lang), Thiên Tuyền (Cự Môn), Thiên Cơ (Lộc Tồn), Thiên Quyền (Văn Khúc), Thiên Hành (Liêm Trinh), Khai Dương (Vũ Khúc) và Dao Quang (Phá Quân). 
Trong 7 sao này, sao Thiên Quyền là sáng yếu nhất do nó ở xa trái đất nhất nhưng lại nằm ở vị trí chính giữa chòm sao Đại Hùng là điểm nối giữa phần gáo và phần chuôi của chòm sao này. Cho nên Đạo giáo xem nó là ngôi sao trọng yếu nhất của cả chòm sao là nơi ngự của thần Bắc Đẩu. 
Đọc Tam Quốc chí, hẳn ai cũng biết Gia Cát dâng sao giải hạn, 7 ngon đèn thắp sáng theo đúng hình dạng của Chòm Bắc Đẩu thất tinh, trong đó ngọn chủ đăng thì nằm ở vị trí sao Thiên Quyền, đó là nơi chủ sinh tử của con người. 
Trong lịch pháp, chòm Bắc Đẩu đóng một vai trò rất quan trọng. Người xưa chia Hoàng đạo ra làm 12 cung đặt tên theo địa chi : Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Và quy định rằng chuôi của chòm Bắc đẩu chỉ vào cung nào thì tháng đó sẽ mang tên của địa chi tương ứng. 
Chuôi chỉ vào cung Tý thì đó là tháng Tý 
---------------------- Sửu --------------- Sửu 
---------------------- Dần --------------- Dần 
..... 
Cung mà chuôi của sao Bắc Đẩu chỉ vào còn gọi là "Kiến". 
Ở đây phải nói rõ, tôi viết là chòm sao Đại Hùng để phiên âm Hán Việt cho Ursa major, chứ thật ra chòm sao Bắc Đẩu gồm 7 sao chỉ là 1 phần của chòm Đại Hùng - vốn là tên gọi của Thiên Văn Phương Tây. Phương Đông chỉ biết đến chòm Bắc Đẩu gồm 7 sao chứ ko có khái niệm chòm Đại Hùng.

4.2 Chòm sao Tiểu Hùng
Còn gọi là chòm sao Gấu Nhỏ (Ursa Minor), nó quan trọng vì nó chứa sao Bắc Cực (Bắc Thần) là ngôi sao duy nhất đứng yên trên bầu trời. Đường nối từ Trái Đất đến sao Bắc Thần được gọi là Thiên Trục và người xưa quan sát mọi tinh tú quay quanh thiên trục này. 
Thiên trục bản thân lại không cố định mà nó có chuyển động theo 1 hình nón - tuế sai- nếu nhìn từ trái đất. Hình chóp này có đỉnh là trái đất và đáy thì quét thành một vòng tròn đi qua các chòm sao Thiên Vương, Thiên Nga, Thiên Cầm, Vũ Tiên, Thiên Long. Như vậy bây giờ sao Bắc Cực đang nằm ở trong chòm Tiểu Hùng, 2000 năm nữa sẽ ở chòm sao Thiên Vương, 8000 năm nữa sao Bắc Cực sẽ ở chòm sao Thiên Nga, 10000 năm nữa ở chòm sao Thiên Cầm,... 1 chu kỳ như vậy thiên văn phương Tây tính được xấp xỉ 26000 năm, còn phương Đông môn Thái Ất đã hàm chỉ ra là 25920 năm.
5. Sử Ký- Thiên Quan Thư:
Sử ký là bộ sách kinh điển của phương Đông. Đó là tư liệu rất quý về Thiên văn cổ đông phương bởi vì chương Thiên Quan thư đã ghi chép tỉ mỉ và cẩn thận những quan trắc thiên tượng và những nghiên cứu về Thiên Văn từ đời thái cổ đến những năm trị vì của Hán Vũ đế (141-87). Xin được giới thiệu bản dịch Tiếng Việt của chương Thiên Quan thư để mọi người tham khảo.
5.1 TRUNG CUNG (các vì sao quanh Bắc Cực):
Ở Trung Cung,[2] sao Thiên Cực[3] sáng nhất. Đó là sở cư của Thái Nhất.[4] Bên cạnh là 3 ngôi sao, gọi là Tam Công[5] hay Tử Thuộc.

Phía sau, xếp theo hình cong, có 4 sao: sao phía sau cùng sáng nhất là Chính Phi, còn 3 sao kia cũng thuộc về hậu cung.[6] Chung quanh có 12 sao hợp thành một đội cận vệ, gọi là Phiên Thần. Tất cả (4 chòm sao nói trên: Thiên Cực, Tử Thuộc, Tứ Phụ, Phiên Thần) là Tử Cung.[7]

Phía trước[8] xếp thẳng hàng với miệng Bắc Đẩu (le Boisseau) là 3 ngôi sao hợp thành một hình nhọn, đầu hướng về phía Bắc, lúc ẩn, lúc hiện, gọi là Âm Đức[9] hay Thiên Nhất.[10]

Phía tả Tử Cung có 3 sao gọi là Thiên Thương (cây giáo trời). Phía hữu có 3 sao gọi là Thiên Bảng (gậy trời dùng để đánh).[11]

Phía sau có 6 sao, băng qua sông Ngân Hà đến tận chòm sao Doanh Thất,[12] nên gọi là Các Đạo (đường treo).[13]

Bắc Đẩu gồm 7 sao, đã được Thư Kinh đề cập đến khi nói rằng (vua Thuấn) quan sát tuyền ki và ống ngọc hành để điều chỉnh thất chính.[14]

Sao Tiêu gần với sao Giác.[15] Sao Hành dẫn tới chòm sao Nam Đẩu.[16] Sao Khôi dựa vào chòm sao Sâm.[17] (Xem lời giải về đoạn này của Joseph Needham dưới đây.)[18]

Nếu xem sao vào chập tối, sẽ thấy sao Tiêu Tử khoảng núi Hoa đến Tây Nam.

Nếu xem sao vào nửa đêm, sẽ dùng sao Hành làm chuẩn. Sao Hành ở giữa khoảng miền Trung Châu, giữa sông Hoàng Hà và sông Tế.

Buổi sáng nhìn sao Khôi. Sao Khôi ở giữa miền biển, núi Đại, và phía Đông Bắc.[19]

Chòm sao Bắc Đẩu là xe trời. Nó vận chuyển ở trung ương, chỉ huy bốn phương, phân Âm Dương, định bốn mùa, điều hòa ngũ hành, chi phối mọi sự, chuyển hó`a thời tiết, định độ số trời.

Ở đầu sao Khôi có 6 sao xếp theo hình vuông, gọi là Văn Xương. Sao thứ nhất là Thượng Tướng, sao thứ hai là Thứ Tướng, sao thứ ba là Quí Tướng, sao thứ tư là Tư Mệnh (định vận mệnh), sao thứ năm là Tư Trung (coi về nội vụ), và sao thứ sáu là Tư Lộc (coi về tưởng thưởng).

Ở khoảng giữa nhửng sao Khôi Đẩu[20] là nhà lao giam những bậc quí nhân.

Ở phía dưới sao Khôi có 6 sao xếp thành từng đôi một, gọi là Tam Năng (Tam Thai).

Nếu sao Tam Thai mà sáng đều, quân thần sẽ hòa hợp; nếu không sáng đều, quân thần sẽ gàng quải, xung đột.

Nếu sao Phụ mà sáng, thì các quan đại thần sẽ mạnh; nếu sao Phụ mà nhỏ thì đại thần nhát sợ và yếu.

Ở đầu sao Tiêu có hai sao: Một sao phía trong là Mâu, hay Chiêu Diêu; một sao phía ngoài là Thuẫn, hay Thiên Phong.

Ngoài ra, còn có 15 sao hợp thành một vòng tròn, cũng thuộc sao Tiêu, gọi là tiện nhân chi lao (lao tù của người hèn). Nếu sao ở giữa chòm mà sáng, thì tù nhân sẽ nhiều; nếu mờ thì tù nhân sẽ ít.

Nếu sao Thiên Nhất, Thiên Bảng, Mâu, Thuẫn mà lấp lánh nhiều và tỏa ra nhiều tia sáng, thì sẽ có giặc giã lớn.
5.1 ĐÔNG CUNG
(Bàn về 7 chòm sao: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ)

Đông Cung Thanh Long có các chòm sao Phòng, Tâm.

(1) Tâm là Minh Đường. Sao lớn nhất là Thiên Vương (Antarès). Sao phía trước và sao phía sau nó là các sao con gái. Ba sao này không nên thẳng hàng nhau. Nếu thẳng hàng nhau, thì sao Thiên Vương sẽ sai lầm trong mưu tính.

(2) Sao Phòng là Phủ Khố, cũng gọi là Thiên Tứ (sao Tứ mã nhà trời).

Sao về phía Bắc nhất là con ngựa phía bên phải nhất của cỗ xe. Cạnh nó có hai ngôi sao gọi là Kiềm. Phía Bắc có một sao gọi là Hạt. Ở phía Đông Bắc có 12 sao, xếp thành hình cong gọi là Kì (cờ). Bốn vì sao giữa chòm sao Kì gọi là Thiên Thị. Sáu ngôi sao ở giữa gọi là Thị Lâu.

Nếu ở trong Thiên Thị mà có nhiều sao, thì dân chúng buôn bán phát tài. Nếu ít sao thì sẽ bị hư hao. Phía Nam chòm sao Phòng là Kị Quan.

(3) Phía tả sao Giác là sao Lý (Thiên Điền), phía hữu là sao Tướng (Thiên Môn).

Sao Đại Giác (Arcturus du Bouvier) là Thiên Vương đế đình. Mỗi phía cạnh sao Đại Giác đều có 3 sao như hình chân vạc, gọi là Nhiếp Đề. Nhiếp Đề chỉ thẳng vào miền sao Tiêu của Bắc Đẩu chi, vì thế gọi là Nhiếp Đề cách.

(4) Sao Cang là Sơ Miếu, chủ tật bệnh. Phía Nam và phía Bắc sao Cang có hai sao sáng gọi là Nam Môn.

(5) Sao Đê là Thiên Căn, chủ ôn dịch.

(6) Nhóm sao Vĩ gồm 9 sao. Nếu những sao này mà hoặc mờ hoặc sáng thất thường thì vua tôi sẽ lục đục bất hòa.

(7) Chòm sao Cơ còn gọi là Ngạo Khách, chủ khẩu thiệt. Nếu Hỏa Tinh phạm vào địa phận sao Giác, sẽ có chinh chiến. Nếu thấy sao Hỏa phạm vào không phận sao Phòng, Tâm, thì vua chúa cũng rất lo ngại.
5.3 NAM CUNG
(Bàn về Thái Vi viên và 7 sao Tỉnh, Quỉ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn; và Hiên Viên kỳ)

[Thái Vi viên][21]

Nam Cung Chu Điểu gồm có hai chòm sao tiêu biểu là Quyền và Hành. Hành tức là sân đình Thái Vi của Tam Quang.

12 sao xếp thành hàng vây quanh gọi là Phiên Thần. Phía Tây gọi là Tướng (võ), phía Đông gọi là Tướng (văn). Phía Nam có 4 sao gọi là Chấp Pháp. Ở giữa là Đoan Môn, hai bên là Dịch Môn. Trong cửa có 6 sao, gọi là Chư Hầu. Trong nữa, có Ngũ Đế Tọa.

Phía sau có một chòm sao dày, gồm 15 sao, gọi là Lang Vị. Cạnh đó có một sao lớn gọi là Tướng Vị (Lang Tướng).

Nếu mặt trăng và Ngũ Tinh vào vùng Thái Vi thuận chiều (tức là từ phía Tây lại), và ra thuận chiều, ta sẽ để ý chỗ chúng ra nơi đâu, nhà vua sẽ chém giết ở đó.

Nếu chúng mà vào ngược chiều (tức là từ phía Đông lại) và phạm vào Đế Tọa, thì biết rằng bầy tôi sẽ mưu loạn. Nếu Kim Tinh và Hỏa Tinh phạm vào Thái Vi thì lại càng tệ hơn nữa.

Phía Tây hàng sao Phiên Thần có 6 sao gọi là Thiếu Vi, chia thành Sĩ và Đại Phu.

[Hiên Viên Kỳ]

Chòm sao Hiên Viên. Hiên Viên tức là mình con rồng vàng. Trước nó có một ngôi sao lớn gọi là Nữ Chủ (Régulus). Nếu mặt trăng và Ngũ Tinh phạm vào chòm sao Quyền (Hiên Viên), thì hay và dở cũng y như là đối với chòm sao Hành.

[7 sao: Tỉnh, Quỉ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn]

(1) Chòm sao Đông Tỉnh chủ về nước. Phía Tây nó có một ngôi sao gọi là Việt. Phía Bắc sao Việt là sao Bắc Hà. Phía Nam sao Việt là sao Nam Hà.

(2) Chòm sao Dư Quỉ chủ sự cúng tế tổ tiên. Ở giữa chòm sao này thấy có vệt trắng, đó là Chất. Nếu sao Hỏa Tinh mà ở nơi các sao Nam Hà và Bắc Hà, thì sẽ xảy ra binh đao, mất mùa.

Như vậy nếu có đức, thì thấy [sao Hỏa] ở chòm sao Hành, muốn coi điềm thì xem [sao Hỏa] ở chòm sao Hoàng. Sao Hỏa mà ở nơi sao Việt thì sẽ thất trận; sao Hỏa ở nơi chòm sao Quỉ sẽ có sự tàn sát. Nếu sao Hỏa ở chòm sao Tỉnh, sẽ có tai họa.

(3) Sao Liễu là mỏ chim (Chu Tước) chủ về cây cỏ.

(4) Chòm sao Thất Tinh hay Cảnh là cổ chim (Chu Tước) chủ về những chuyện cấp thời.

(5) Trương hay Tố, là cái diều [chim], chủ bếp nước và yến tiệc.

(6) Dực là lông cánh, chủ về viễn khách.

(7) Chẩn là cỗ xe, chủ gió. Cạnh nó có một sao gọi là Trường Sa. Trường Sa thường không sáng. Nếu sáng thì cũng sáng tỏ như 4 vì sao khác trong chòm sao Chẩn.

Phía Nam sao Tỉnh có nhiều sao, gọi là Thiên Khố Lâu. Khố Lâu có 5 xe. Nếu chúng chiếu sáng, tăng thêm số sao, thì sẽ không có đủ chỗ để chứa xe và ngựa.

5.4 TÂY CUNG

(Bàn về chòm sao Hàm Trì và 7 sao: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm)

[Chòm sao Hàm Trì: le Cocher]

Tây Cung là Hàm Trì. Người ta còn gọi nó là Thiên Ngũ Hoàng hay Ngũ Đế Xa Xá (nhà chứa 5 xe của vua).

Nếu sao Hỏa vào đó, sẽ xảy ra hạn hán. Nếu sao Kim Tinh vào đó, sẽ xảy ra lụt lội.

Ở giữa có sao Tam Trụ. Nếu Tam Trụ không đủ 3 sao, sẽ xảy ra chiến tranh.

[7 sao: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm]

(1) Sao Khuê cũng gọi là Phong Thỉ, chủ ngòi lạch.

(2) Sao Lâu chủ về quần chúng tập hợp.

(3) Sao Vị là kho trời. Phía Nam sao Vị có một chòm sao gọi là Quái Tích (đống cỏ khô).

(4) Sao Mão cũng gọi là sao Mao Đầu, là sao của rợ Hồ, chủ về tang tóc.

(5) Sao Tất cũng gọi là sao Hãn Xa (xe săn), chủ về giặc giã nơi biên thùy, hoặc săn bắn. Gần một vì sao lớn của chòm sao này, có sao Phụ Nhĩ. Nếu sao Phụ Nhĩ mà sáng, thì sẽ có những bầy tôi xàm loạn bên cạnh vua.

Giữa sao Mão và Tất có sao Thiên Nhai (đường trời). Phía Bắc nó là các nước thuộc Âm, phía Nam nó là các nước thuộc Dương.

(6) Sâm là Bạch Hổ. ba sao thẳng hàng gọi là Hành Thạch. Dưới có 3 sao hình nhọn, gọi là Phạt, chủ về trảm quyết. Bốn sao phía ngoài là hai vai, hai đùi trái phải.

Ba sao xếp thành hình nhọn gọi là Trủy Huề. Trủy Huề là đầu hổ, chủ về quân lữ và bảo vệ đất đai. Ở dưới chúng có 4 sao gọi là Thiên Sí.

Dưới sao Thiên Sí có sao Thiên Thỉ. Nếu có màu vàng thì tốt; nếu có màu trắng thì hung.

(7) Ở phía Tây chòm sao Chủy có các sao hợp thành các đường khúc khuỷu, từng chòm sao một. Một chòm gọi là Thiên Kỳ, một chòm gọi là Thiên Uyển, một chòm gọi là Cửu Du.

Ở phía Đông các sao ấy có một sao sáng lớn gọi là sao Lang. Nếu sao Lang chiếu sáng hay thay mầu, sẽ có nhiều đạo tặc.

Ở dưới sao Lang có 4 sao gọi là Hồ, chiếu thẳng vào sao Lang.[22]

Đối ứng với sao Lang có một sao lớn gọi là Nam Cực Lão Nhân.[23] Khi sao này sáng tỏ, sẽ bình trị. Nếu không thấy nó, sẽ có binh biến. Thường người ta hay ra Nam giao (cánh đồng phía Nam) để xem sao này vào ngày Thu Phân.

Nếu sao Phụ Nhĩ mà tiến gần với sao Tất, sẽ có binh biến.

5.5 BẮC CUNG

(Nói về các sao: Đẩu Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích)

Bắc cung gọi là Huyền Vũ, đặc biệt tượng trưng bởi hai sao Hư và Nguy.

(1) Nguy chủ về mái nhà.

(2) Hư chủ về than khóc. Ở phía Nam có một chòm sao gọi là Vũ Lâm Thiên Quân. Phía tây chòm sao đó có chòm sao Lũy, nhiều khi còn gọi là Việt. Cạnh đó có một sao lớn gọi là Bắc Lạc (Fomalhaut du Poisson Austral). Nếu Bắc Lạc mà mờ, thì sẽ hao binh. Nếu sao Bắc Lạc mà không tỏa sáng đủ, hay nếu ngũ tinh mà phạm vào chòm sao Bắc Lạc hoặc Vũ Lâm Thiên Quân, thì sẽ có chuyện hưng binh.

Thủy, Hỏa, Kim Tinh mà phạm vào thì lại càng tệ. Hỏa Tinh phạm, sẽ hao binh. Thủy Tinh phạm, quân sĩ sẽ phải lo lường. Thổ và Mộc Tinh đóng vào, quân sĩ sẽ gặp may.

Ở phía Đông chòm sao Nguy có 6 sao gọi là Tư Không (đúng ra phải gọi là Tư Mệnh).

(3) Chòm sao Doanh Thất là Thanh Miếu, là Ly Cung, hay Các Đạo. Ở giữa giải Ngân Hà có 4 sao gọi là Thiên Tứ. Ở cạnh nó có một sao gọi là Vương Lương.[24] Khi Vương Lương mà đánh ngựa, thì binh mã sẽ chật đồng. Gần đó có 8 sao gọi là Thiên Hoàng.

Cạnh Thiên Hoàng có Giang Tinh. Nếu sao đó mà giao động, thì người ta phải lội sông.

Chử Cửu là 4 sao phía Nam sao Nguy. Khi sao Bào Qua bị hànmh tinh xanh hay đen đóng vào, thì cá và muối sẽ đắt.

(4) Chòm sao Nam Đẩu là miếu mạo. Phía Bắc nó có chòm sao Kiến Tinh, và Kiến Tinh có hình lá cờ.

(5) Sao Khiên Ngưu chủ về vật hi sinh. Phía Bắc nó có chòm sao Hà Cổ. Sao lớn là Thượng Tướng, hai sao tả hữu là Tả Tướng và Hữu Tướng.

(6) Ở phía Bắc Vụ Nữ có sao Chức Nữ. Chức Nữ là cháu gái trời.[25]
5.6 NHẬT NGUYỆT VÀ NGŨ TINH
(Mặt trời, mặt trăng và 5 hành tinh: Kim. Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ)
* Mộc Tinh (Tuế Tinh: Jupiter)
Người ta quan sát sự vận hành của mặt trời, mặt trăng để định xem Tuế Tinh đi thuận hay nghịch ra sao.
Tuế Tinh (Mộc Tinh) ứng với phương Đông, mùa Xuân, và các ngày Giáp Tí.
Nếu làm điều trái lẽ, Tuế Tinh sẽ gia phạt. Khi Tuế Tinhđi nhanh hay chậm, nó sẽ định vận mệnh quốc gia tương ứng với cung nó đang ở.
Nước nào mà nó đang chiếu vào, thì không thể bại trận, trái lại có thể đi chinh thảo.
Tuế Tinh đi nhanh quá thì gọi là Doanh; đi chậm quá thì gọi là Súc. Nếu đi nhanh quá (doanh) thì quốc gia tương ứng sẽ có chiến tranh và suy yếu; nếu nó đi chậm quá (súc) thì quốc gia tương ứng sẽ bị lao lung, tu7ớng soái sẽ bị chết.
Nếu Tuế Tinh mọc đúng chỗ, lại hội cùng ngũ tinh, thì quốc gia tương ứng sẽ có thể dựa theo lẽ phải mà được Thiên hạ.
6. Chu kỳ 12 năm của Tuế Tinh
[Năm thứ 1]: Năm Nhiếp Đề Cách
Tuế Âm (Thái Tuế) chuyển về phía trái và ở cung Dần. Tuế Tinh chuyển phía phải và đóng ở cung Sửu. Tháng Giêng vào buổi sáng, Tuế Tinh sẽ mọc ở phía Đông, nơi các chòm sao Đẩu và Khiên Ngưu, có tên là Giám Đức.

Sắc xanh và sáng. Nếu nó mọc sai chỗ và nếu nó mọc nơi chòm sao Liễu thì đầu năm đó sẽ mưa nhiều, cuối năm đó sẽ nắng nhiều.

Tuế Tinh mọc, tiến về phía Đông 12o. Sau 100 ngày dừng lại, rồi thoái. Thoái 8o. Sau 100 ngày lại tiến về phía Đông.

Trong một năm nó đi được 30o 7/16 và như vậy mỗi ngày di chuyển trung bình là 1/12o. Trong vòng 12 năm nó đi được một vòng trời. Bao giờ nó cũng mọc ở phía Đông lúc bình minh, và lặn về phía Tây lúc chập tối.

[Năm thứ 2]: Năm Đơn Ất

Tuế Âm ở Mão, Tuế Tinh ở Tí. Tháng Hai mọc phía Đông, buổi sáng, nơi chòm sao Vụ Nữ, Hư, Nguy. Có tên là Giáng Nhập. Nếu mọc không đúng chỗ, mà lại mọc nơi chòm sao Trương thì gọi là Giáng Nhập. năm đó nước lớn.

[Năm thứ 3]: Năm Chấp Từ

Tuế Âm ở Thìn. Tuế Tinh ở Hợi. Tháng Ba mọc buổi sáng nơi chòm sao Doanh Thất, Đông Bích, gọi là Thanh Chương. Ánh sáng rất xanh, rất sáng. Nếu nó mọc sai chỗ và mọc ở chòm sao Chẩn thì gọi là Thanh Chương. Năm đó đầu năm hạn hán, cuối năm nước to.

[Năm thứ 4]: Năm Hoang Lạc

Tuế Âm ở Tị, Tuế Tinh ở Hợi. Tháng Tư, sáng sớm mọc nơi chòm sao Khuê, Lâu, Vị, Mão, gọi là Biền Chủng. Có màu đỏ. Nếu nó mọc sai chỗ, không đúng cách, thì sẽ mọc nơi chòm sao Cang.

[Năm thứ 5]: Năm Đôn Tàng

Tuế Âm ở Ngọ, Tuế Tinh ở Dậu. Tháng Năm, mọc nơi chòm sao Vị, Mão, Tất, vào lúc buổi sáng, gọi là Khai Minh. Nó sáng rực. Không nên chinh chiến, vì chỉ lợi cho vương công mà không lợi cho tướng soái. Nếu mọc sai chỗ, không đúng cách, nó sẽ mọc nơi chòm sao Phòng. Năm đó thì đầu năm nắng nhiều, cuối năm nước lớn.

[Năm thứ 6]: Năm Hiệp Hiếp

Tuế Âm ở Mùi, Tuế Tinh ở Thân. Tháng Sáu, mọc ở chòm sao Chủy, Huề, Sâm; gọi là Trường Liệt. Sáng láng. Nếu mọc sai chỗ thì sẽ mọc nơi chòm sao Cơ.

[Năm thứ 7]: Năm Huân Than

Tuế Âm tại Thân, Tuế Tinh tại Mùi. Tháng Bảy, sáng sớm mọc nơi chòm sao Đông Tỉnh, Dư Quỉ; gọi là Thiên Âm. Nếu mọc sai chỗ, sẽ mọc nơi chòm sao Thiên Ngưu.

[Năm thứ 8]: Năm Tác Ngạc

Tuế Âm tại Mão, Tuế Tinh tại Ngọ. Tháng Tám, mọc nơi các chòm sao Liễu, Thất, Tinh, Trương; gọi là Vi Trường Vương. Nếu sáng lóe thành tia thì quốc gia tương ứng sẽ thịnh và sẽ được mùa lúa. Nếu nó mọc sai chỗ và mọc ở chòm sao Nguy thì gọi là Đại Chương, nắng nhiều nhưng thịnh vượng. Đàn bà chết nhiều, dân chết nhiều.

[Năm thứ 9]: Năm Yêm Mậu

Tuế Âm tại Tuất, Tuế Tinh tại Tỵ. Tháng Chín, Tuế Tinhmọc nơi chòm sao Dực, Chẩn; gọi là Thiên Huy, sáng và trắng. Nếu mọc sai chỗ sẽ mọc nơi chòm sao Đông Bích. Năm đó mưa nhiều, con gái chết nhiều.

[Năm thứ 10]: Năm Uyên Hiến

Tuế Âm tại Hợi, Tuế Tinh tại Thìn. Tháng Mười, Tuế Tinh mọc nơi chòm sao Giác, Cang; gọi là Đại Chương. Nếu sao sáng xanh và lấp lánh nhiều và nếu hiện ra vào lúc rạng đông thì gọi là Chính Bình. Nên xuất binh chinh phạt. Quốc gia tương ứng sẽ có và lấy được Thiên hạ. Nếu mọc sai chỗ, sẽ mọc nơi chòm sao Lâu.

Trong nguyên bản thiếu năm thứ 11

[Năm thứ 12]: Năm Xích Phấn Nhược

Tuế Âm ở Sửu, Tuế Tinh ở Dần. Tháng 12, ban sáng mọc ở chòm sao Vĩ, Cơ; gọi là Thiên Hạo, sắc sẫm và sáng. Nếu mọc sai chỗ, sẽ mọc nơi chòm sao Sâm.
* Những điềm do Tuế Tinh
Nếu Tuế Tinh mọc sai chỗ, hay mọc đúng chỗ nhưng lại giao động lúc phải lúc trái, hay khi chưa đáng ra đi mà ra đi, lại hội với các sao khác, thì quốc gia tương ứng sẽ gặp điều hung.

Nếu Tuế Tinh mọc trên không phận nước nào lâu, nước ấy có đức. Nếu nó chiếu thành tia hay giao động, lúc to lúc nhỏ, nếu màu sắc thay đổi luôn, thì vị vua của nước tương ứng đang gặp điều buồn.

Nếu nó mọc sai chỗ, thì kết quả như sau:

- Nếu nó tiến về phía Đông Bắc, thì 3 tháng sau sẽ sinh ra sao chổi Thiên Bảng, dài 4 thước và đầu nhọn.

- Nếu nó thoái về phía Tây Bắc, thì 3 tháng sau sẽ sinh ra sao chổi Thiên Sam, dài 4 trượng và có đuôi nhọn.

- Nếu nó thoái về phía Tây Nam, thì 3 tháng sau sẽ sinh ra sao chổi Thiên Thương, dài vài trượng và có hai đầu nhọn.

Người ta sẽ quan sát cẩn thận xem các hiện tượng ấy xảy ra trên không phận nước nào, vì những nước đó sẽ không được dụng binh.

Nếu nó hiện ra mà khi nổi khi chìm, thì quốc gia tương ứng đang xây đắp nhiều. Nếu nó hiện ra chìm rồi lại nổi, thì quốc gia tương ứng sẽ mất.

Nếu nó có sắc đỏ và sáng, thì quốc gia tương ứng sẽ thịnh. Ai mà tiến ngược chiều ánh sáng nó, sẽ thất trận.

Nếu Tuế Tinh đỏ, vàng, nếu chìm, thì vùng đất tương ứng sẽ phì nhiêu. Nếu xanh, hay trắng, hay đỏ sẫm, thì vùng đất tương ứng sẽ có ưu khổ.

Nếu Tuế Tinh khuất sau mặt trăng thì vùng đất tương ứng sẽ có vị thừa tướng bị thải hồi.

Nếu nó giao tranh với sao Thái Bạch (Kim Tinh) thì quân đội vùng quốc gia tương ứng sẽ bị tan tác.

Tuế Tinh còn có tên là: Nhiếp Đề, Trùng Hoa, Ứng Tinh, Kỹ Tinh. Chòm sao Doanh Thất là Thanh Miếu. Tuế Tinh là Miếu.
CHÚ THÍCH
(*) Trong một số sách nghiên cứu Phong thủy có đề cập đến Bát Phong, ở đây nhưng có một số môn còn nghiên cứu cả một số loại quái phong nghĩa là thứ gió quái dị như Lốc xoáy... cho nên ghi 12 là chưa đủ. Hiện nay tài liệu đầy đủ về các loại quái phong này ko có đủ cho nên chưa đề cập ở đây. Trong phong thủy cũng có 8 loại gió dữ có thể tản khí huyệt mộ... và việc phân loại gió trong phong thủy cũng khác
8 loại gió của Bát phong hay được các sách đề cập :
-Gió từ hướng Nam thổi tới là Đại Nhược phong
-Gió từ hướng Tây Nam thổi tới là Mưu phong
-Gió từ hướng Tây thổi tới là Cương phong
-Gió từ hướng Tây Bắc thổi tới là Chiết phong
-Gió từ hướng Bắc thổi tới là Đại Cương phong
-Gió từ hướng Đông Bắc thổi tới là Hung phong
-Gió từ hướng Đông thổi tới là Anh Nhi phong
-Gió từ hướng Đông Nam thổi tới là Nhược phong
hay còn được biết với tên gọi :
-Gió từ hướng Nam thổi tới là Cảnh phong, quẻ Ly.
-Gió từ hướng Tây Nam thổi tới là Lương phong, quẻ Khôn.
-Gió từ hướng Tây thổi tới là Xương hạp phong, quẻ Đoài.
-Gió từ hướng Tây Bắc thổi tới là Bất chu phong, quẻ Càn.
-Gió từ hướng Bắc thổi tới là Quản mạc phong, quẻ Khảm.
-Gió từ hướng Đông Bắc thổi tới là Điều phong, quẻ Cấn.
-Gió từ hướng Đông thổi tới là Minh thứ phong, quẻ Chấn.
-Gió từ hướng Đông Nam thổi tới là Thanh minh phong, quẻ Tốn.
Tám loại gió này sinh ra khi Thái Nhất bắt đầu chuyển cung để sang cung mới. Phong thủy lại không chia như vậy mà trước hết họ chia làm gió âm, gió dương tùy theo từng ứng dụng.
Bát phong theo PHONG THỦY LẠC VIỆT

 

-Gió từ hướng Nam thổi tới là Cảnh phong, quẻ Ly.
-Gió từ hướng Tây Nam thổi tới là Lương phong, quẻ Tốn.
-Gió từ hướng Tây thổi tới là Xương hạp phong, quẻ Đoài.
-Gió từ hướng Tây Bắc thổi tới là Bất chu phong, quẻ Càn.
-Gió từ hướng Bắc thổi tới là Quản mạc phong, quẻ Khảm.
-Gió từ hướng Đông Bắc thổi tới là Điều phong, quẻ Cấn.
-Gió từ hướng Đông thổi tới là Minh thứ phong, quẻ Chấn.
-Gió từ hướng Đông Nam thổi tới là Thanh minh phong, quẻ Khôn.

 

[1] Bản tuyển dịch Sử Ký Tư Mã Thiên của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (nxb Lá Bối, trước 1975; nxb Văn Học tái bản 1994) và bản tuyển dịch của Nhữ Thành (nxb Văn Học, 1988) đều bỏ qua chương Thiên Quan này. (Phụ chú năm 2007)

[2] Xin xem bản đồ sao Trung Cung.

[3] Thiên Cực: Bắc Thần.

[4] Thái Nhất: Thượng Đế.

[5] Tam Công tương ứng với 3 vị quan lớn trong triều vua dưới trần gian: Tư Đồ, Tư Không, Thái Úy. Tứ Bộ Bị Yếu cho rằng: Tam Công ở gần chuôi sao Bắc Đẩu. Vì thế trong bản đồ sao, tôi vẽ Tam Công ở gần sao Bắc Đẩu.

[6] Còn gọi là Tứ Phụ.

[7] Tử Vi cung, Tử Vi viên.

[8] Phía trước tức là Nam Tử cung.

[9] Gọi là Âm Đức vì chủ về ban ân.

[10] Thiên Nhất tướng ứng với sao a du Dragon.

[11] Gồm một số sao trong chòm Le Dragon và trong chòm Hercule.

[12] Doanh Thất: a b Du Pégase.

[13] Các Đạo: thuộc chòm sao Cassiopée.

[14] Trong chương 3 (Dụng cụ và phương pháp dùng trong thiên văn học cổ Trung Hoa) tôi đã giải thích Thất Chính trong câu: «Tuyền ki dĩ tề thất chính» của Thư Kinh là Bảy sao Bắc Đẩu. Nơi đây ta cũng thấy Tư Mã Thiên cũng đồng quan điểm.

Như vậy Thất chính trong thiên văn có hai nghĩa: (1) Bảy ngôi sao của Bắc Đẩu (như đã nói trên), (2) Mặt trời, mặt trăng, và 5 hành tinh (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) trong nhiều trường hợp khác.

[15] Giác: Épi de la Vierge.

[16] Các sao trong chòm Sagittaire.

[17] Một số sao thuộc chòm Orion.

[18] Joseph Needham, Science and Civilisation in China, vol 3, p.233, giải đoạn này như sau: «Nếu ta kẻ một đường thẳng từ sao Thiên Cực (Bắc Thần) đến sao Khai Quang, lại kẻ một đường thẳng từ sao Thiên Đế tinh (b Ursae Minoris) đến sao Tiêu, hai đường thẳng ấy sẽ gặp nhau tại sao Giác. Nếu kẻ một đường thẳng từ sao Hành song song với hai sao Ki Tinh và Quyền Tinh, sẽ gặp nhau chòm sao Nam Đẩu. Nếu kẻ hai đường thẳng, một nối liền Quyền Tinh, Khu Tinh; một nối liền Ki Tinh, Tuyền Tinh, thì hai đường thẳng ấy sẽ dẫn đến chòm sao Sâm.»

[19] Edouard Chavannes trong quyển Mémoires concernant l’Asie Orientale, Tome I, nơi chú thích 1 (tr. 53) có bình luận rất dài về cách dùng sao Tiêu, Hành, Khôi của người xưa.

Đại khái thì người Trung Hoa cho rằng mỗi một tháng chuôi sao Bắc Đẩu (sao Tiêu) lại chỉ vào một điểm nào đó nơi chân trời, và điểm ấy sẽ nằm một trong 12 cung: Tí, Sửu, Dần, Mão, v.v. Ví dụ tháng giêng chuôi sao Bắc Đẩu lúc chập tối chỉ cung Dần. Các sách Bốc Dịch gọi thế là Nguyệt Kiến. Và như vậy, nếu 6 giờ chiều sao Tiêu chiếu thẳng vào cung Dần, thì đến 12 giờ đêm, sao Hành sẽ chiếu thẳng vào cung Dần, 6 giờ sáng hôm sau, sao Khôi sẽ chiếu thẳng vào cung Dần.

[20] Sao Khôi chỗ này gồm cả 4 sao: Khu, Tuyền, Ki, Quyền.

[21] Thái Vi viên gồm nhiều sao thuộc các chòm sao Chiens de chasse, Lion, và Vierge.

[22] Sao Hồ ứng với sao Wezen du Grand Chien.

[23] Nam Cực Lão Nhân tức là sao Canopus.

[24] Vương Lương thuộc chòm sao Cassiopée.

[25] Ta không thấy Tư Mã Thiên đề cập sao Bích.

Bài viết cùng chuyên mục

rss
Thiên Văn - Con Người (18/11/2010)