n

Giai thoại phong thủy: Kiểu đất Ngũ Phụng triều dương - 2

Thứ ba 11/11/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Anne Nguyen
Nguồn: Giai thoại phong thủy

Đã có sự ngang trái ấy, thì hy vọng mai táng được trôi chảy ngôi mả tổ trong khu đất đặc biệt kia, quả thực là mỏng manh, hồi hộp vô cùng!
Mười phần hẳn không chắc gì được một !
Niềm lo âu, thắc mắc ấy, đã không cho phép họ Vương ngồi yên trên ghế lang y, để đóng vai trò cứu nhân, độ thế, như cái bề ngoài hắn đã cố ý tạo ra, từ khi mới đặt chân đến vùng này, hầu dễ dàng hoạt động cho công cuộc tìm đất !
Vả lại, sự kiên nhẩn, chịu đựng của người ta, cũng chỉ có chừng đó !
Họ Vương, dù là khách giang hồ, từng in gót giầy trên khắp các ngả đường, từ Thiểm Tây qua Vân Nam, Cao bằng, Lạng Sơn đến tỉnh Đông Hải Dương, cũng vẫn mang nặng những tham vọng, mong ước thông thường của thiên hạ.
Vì vậy, chỉ chịu đựng một cách rất miển cưỡng được từ sáng sớm cho đến cuối giờ Tỵ, hôm ấy, lần tiễn chân một sản phụ đến bắt mạch, xin điều trị cho chứng bệnh đau ruột của bà ta đã mắc phải, từ khi hạ sanh đứa con trai mới được ba tháng đang bồng trên tay, thì họ Vương cảm thấy nóng lòng nóng dạ, bồn chồn thần trí, hoảng hốt tâm can, ngồi đứng không yên chỗ, cứ thở ngắn, than dài dường như gặp phải một điều gì cực kỳ khó giải quyết lắm ! Trước hắn còn cố nén, ngồi lỳ trên ghế để bắt mạch kê đơn cho bệnh nhân, sau không kiên nhẫn được nữa, hắn phải đứng vùng dậy, sửa soạn y phục ra đi.
Đi đâu ?? Họ Vương không biết mà hắn cũng không cần biết đến làm gì !
Sự thực, hắn chỉ muốn ra khõi căn nhà đang ở, để cầu mong những ngoại cảnh làm vơi trong khoảnh khắc nỗi ưu tư, khiến cho hắn tạm thời lãng quên được những sự kỳ dị vừa xãy ra đêm trước.
Ôm mối tâm sự mông lung, họ Vương thả bước trên đường làng, mà ý nghĩ gửi tận nơi đâu, bất giác ngâm nho nhỏ mấy câu thơ :
" Nhật Nguyệt Linh Khí tụ,
Ngũ Phụng triều dương lai,
Thập Bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng,
Tử Tôn vinh hiển, mãn cân đai."
Chợt mây đen kéo đến mịch trời, gió thổi ào ào, báo hiệu một cơn mưa rào sắp đổ xuống.
Thầy địa lý cuống quít chạy vội vào một ngôi miếu cô hồn ở giữa cánh đồng. Trên bệ gạch, chỉ có trơ trỏng một bình nhang xây liền với chiếc bệ, bốn bề mạng nhện giăng mắc, tạo cho ba gian miếu một quang cảnh hoang vắng, thê lương, âm u, lạnh lẽo, như đã từ lâu, không có ai đến cúng lễ !
Bên ngoài gió vẫn rít lên từng cơn dữ dội, làm những chiếc lá bàng nối tiếp nhau, rơi rào rào xuống trước miếu.
Mưa đã bắt đầu nặng hạt.
Họ Vương cảm thấy lạnh buốt, toàn thân như có nước thấm vào da thịt, làm cho hắn rùng mình luôn mấy cái liền, phải nép người vào phía sau bệ thờ. Một lúc sau, mõi chân và rét quá, hắn đành ngồi bệt xuống nền gạch, co hai gối lên, để tỳ cầm vào như muốn che cho người đỡ lạnh.
Quang cảnh lúc đó thật buồn nãn. Trong miếu hoang tàn đến rợn tóc gáy !
Bên ngoài mưa mỗi lúc một thêm tầm tả, chớp giật sấm nổ đùng đùng.
Họ Vương cảm thấy thân thể nhẹ bỗng, thần trí lâng lâng như đang bay bỗng ở giữa không trung.
Thoáng cái đã đến một vùng thành quách nguy nga, cung điện vàng son lộng lẫy.
Thầy địa lý còn hoang mang, chưa biết đây là nơi nào, thì bỗng thấy cửa giữa mở toang, hắn vội tiến vào với giáng điệu bâng khuâng, sợ hãi.
Kỳ dị làm sao, quang cảnh ở phía trong lại giống hệt cánh đồng làng Lương Đường mà mới đêm trước, hắn đã dùng phép hô thần, nhưng lại bị thổ thần phá hủy tan nát.
Đưa tay lên dụi mắt mấy lượt để cố nhìn ra chung quanh, thì quả nhiên là hắn không nhận định sai lầm một chút nào hết : đây kia rõ ràng là năm thửa ruộng, nàm thoai thoải như những con Phượng Hoàng thu mình, chầu cả vào một gò đất ở ngang giữa cánh đồng nơi mà hắn tin chắc là chỗ kết tụ long mạch của kiểu đất Ngũ Phụng triều dương.
Lão chưa kịp quan sát kỷ lưỡng hơn nữa ở hai bên tả, hữu thì trên gò đất, bỗng hiện lên một đám mây ngũ sắc, thấp thoáng ẩn hiện ánh hào quang, mà lạ lùng thay giữa đám mây ngũ sắc, bay lượn lơ lững ở ngay giữa nơi mà hắn cho là chánh huyệt bỗng nổi bật lên những dòng chữ son đỏ chói :
" Vũ Hồn vi chủ,
Ngũ Phụng Triều Dương,
Hà Nhân chiếm cứ,
Tất hữu tai ương !"
Thế rồi, những tia chớp ngoằn ngoèo, xanh lè, chợt lại tung ra liên tiếp, sấm sét ầm ầm, mà kỳ dị làm sao, lại chỉ như nhắm vào chính giữa huyệt chiếu thẳng xuống, không sai chệch một ly.
Họ Vương ngây mặt, theo dõi những hiện tượng quái đản đó một lúc lâu, đang muốn liều mạng đến gần để nhìn cho rõ, bỗng một luồng chớp từ phía xa phóng mạnh tới, xẹt ngang mặt hắn, khiến hắn nhắm vội mắt lại, nghiêng hẳn đầu qua bên trái, đến lúc mở mắt ra, thì cả quang cảnh kỳ ảo biến đâu hết.
Giật mình, họ Vương cố trấn tỉnh nhìn quanh, thì thấy vẫn đang ngồi co ro trong hoang miếu gió bên ngoài từng cơn, vẫn thổi vào xào xạc, ray rứt, hòa cùng tiếng mưa rơi tầm tả, tạo cho khu miếu hoang một vẻ buồn tê tái, lạnh lẽo, mơ hồ !
Thầy địa lý bâng khuâng tự hỏi : những cảnh mình vừa được chứng kiến là mộng hay thực.
Bảo là mộng, thì sao những địa hình, địa thế lại hiển hiện theo đúng như sự an bài của Tạo Hóa trên cánh đồng làng Lương Ngọc, giống như đúc chung một khuôn vậy ! Chính họ Vương, người đã từng tha thiết vơi khu đất quý ấy, người đã tốn phí bao nhiêu tâm huyết lẫn công phu mới theo dõi được sự vận chuyển long mạch rất phức tạp, kỳ công, từ dãy Thập Vạn Đại Sơn, xuyên qua biên giới đến các tỉnh miền Thượng Du Bắc Việt và giờ đây kết tụ ở miền Hải Dương, nhưng thực ra, cũng vẫn chưa "nhập tâm" được toàn bộ địa hình, địa thế kiểu đất Ngũ Phụng triều dương, vậy thì không thể nào nói được là một cơn mộng mị hảo huyền do ảnh hưởng của sự tưởng tượng quá phong phú trong trí não, tâm tư của thầy địa lý tạo ra, khiến cho lúc ngồi rỗi, mơ màng nhớ đến kiểu đất quý, nhà phong thủy lại có dịp mơ màng ra hình dung khu linh địa ấy !
Nhưng nếu đã không phải là ảo mộng, thì đó phải là sự thực, một sự thực do một mảnh lực huyền bí kỳ ảo bày ra để cảnh cáo thầy địa lý.
Bất giác, họ Vương nhớ lại tất cả mấy dòng chữ lấp lánh hào quang ẩn hiện trong đám mây ngũ sắc bay lơ lững trên khu chánh huyệt :
" Vũ Hồn vi chủ, Ngũ Phụng Triều Dương, Hà Nhân chiếm cứ, Tất hữu tai ương !"
Nhà phong thủy lim dim cặp mắt mơ màng nghĩ đến lúc bị lật đổ tróc long, rồi thở dài, lẩm bẩm :
- Những hiện tượng quái dị đêm qua, cùng những việc vừa xảy ra trước mắt, nửa như thực, nửa như mơ, đều chỉ nhằm một dụng ý : khuyên ta không nên nghĩ đến kiểu đất Ngũ Phụng triều dương nữa. Nếu không chịu tuân theo ý trời, cứ cố tình cưỡng lại, thì sớm muộn, thế nào cũng phải chịu tai hoạ !
Hắn nghiến răng, chua chát nói tiếp :
- Hừ, tai họa ? Trong đời làm thầy địa lý, mình đã phải chịu bao nhiêu tai họa, mỗi khi tìm được một kiểu đất đẹp, mà mộ chủ, lại không phải là nhà có đầy đủ phước trạch để hưởng thụ ân sủng của Thượng Đế ?
Nhưng dù sao, đó chỉ là những kiểu đất thường, sự kết phát chỉ hời hợt, mong manh, không lấy gì làm huy hoàng, vĩnh cữu.
Vã lại, đấy toàn là việc thiên hạ, do mình nhẹ dạ, nhận lời giúp đỡ cho người khác, không phải vì tư lợi, mà thực ra, chính là có cơ hội học hỏi thêm, thu thập kinh nghiệm thêm, để khi có căn bản chắc chắn về môn học cao siêu, huyền bí đó, sẽ tự tìm lấy cho nhà mình một ngôi đất quí, có thể đem lại được sự kết phát hoàn toàn về cả các thứ phúc, lộc, thọ.
Trải bao vất vả, phong sương, gian lao, nguy hiểm, mình mới đến được đây và khám phá được kiểu đất quý báu đáng gọi được là hãn hữu trên thế gian.
Nhà phong thủy chợt ngừng bặt, đưa ký ức trở về với giấc mộng để cố nhớ lại cả bốn dòng chữ hiện hình, giữa đám mây ngũ sắc rồi lại thở dài, lẩm bẩm thêm :
- Thập bát Tiến Sĩ, Tam Tể Tướng ! Kết phát nhiều đến thế, thì nhất định là đại quý rồi ! Là được hưởng phúc lộc lâu dài lắm rồi ! Quả thật không còn ngôi đất nào tốt đẹp hơn thế nữa?
So với những kiểu đất đế vương thì nó có kém thật đấy !
Nhưng để bù lại sự phú quý, Thượng Đế đã cho con cháu mộ chủ được hưởng phúc lâu dài !
Coi đi, kéo lại, mình có thể nói được rằng : đó cũng không kém gì kiểu đất đế vương đâu ?
Vậy mà, đau đớn thay, hắn lại không hô được thần, kiểm soát được hướng chuyển vận của long mạch. Trong đêm trước, và mới đây, giữa lúc vào miếu tránh mưa, lại còn mơ màng, nữa tỉnh, nữa mê, được chứng kiến những hiện tượng dị kỳ, huyền ảo, không hiểu có phải do Thần linh, Thổ địa linh thiêng, cố tình an bài, bố trí, để cảnh cáo cho họ Vương, gián tiếp mách bảo cho họ Vương biết rằng ngôi đất quý ở cánh đồng làng Lương Đường, đã được Thượng Đế dành riêng cho Vũ Hồn, không ai được phép tranh giành, chiếm đoạt. Ai cố ý làm trái ý Trời, sẽ bị Thần linh nghiêm phạt.
Nhưng Vũ Hồn là ai ?
Đấy mới là điều thắc mắc mà họ Vương đã mang nặng trong tâm khảm từ sau khi vào miếu Cô Hồn tránh mưa !
Trời đã ngớt mưa. Những đám mây đen bao phủ không trung, phút chốc tan biến gần hết, chỉ còn vương vấn lại mấy áng bạch vân, lờ mờ như sương khói mơ hồ, bay theo luồng gió từ phía Đông Nam tới, và chỉ mấy phút sau, cũng tản mác dần, trả lại vẽ quang đảng cho bầu trời.
Thầy địa lý vùng đứng lên, sửa soạn lại y phục, thong thả bước ra cửa miếu, vừa đi vừa bâng khuâng nghĩ đến những hiện tượng mới xãy ra, mà hắn không biết là mộng hay thực.
Họ Vương luôn mồm lẩm bẩm :
- Vũ Hồn vi chủ, Vũ Hồn vi chủ !
- Hừ, Thế là nghĩa lý gì ? Chẳng lẽ khu đất này lại thuộc về quyền sở hữu của Vũ Hồn sao ? Mà Vũ Hồn là ai mới được chứ ?
Thật là rắc rối, khó hiểu vô cùng.
Hắn đang vò đầu, bứt tai, đăm chiêu, khổ sỡ, thì chợt có tiếng chân chạy huỳnh huỵch, từ phía xa vọng lại, mỗi lúc một gần, khiến hắn giật mình, đứng khựng lại, ngơ ngác nhìn quanh, hồi họp ngó chừng...
Rồi... tiếng chân người rõ hẳn... Từ khúc quẹo đằng đầu đường, một bóng đen chợt ló hình qua một bụi khúc tần rậm rạp, giây tơ hồng chằng chịt còn ướt đẩm nước mưa, lóng lánh như những hạt kim cương.
Bóng người rõ dần, rõ dần, hướng thẳng vào cửa miếu bước nhanh.
Họ Vương vội đứng nép mình, tựa lưng vào khuôn cửa gổ mọt, sẳn sàng như người thủ thế, sẳn sàng chờ đợi đối phó với những sự bất ngờ.
Người mới xuất hiện là một nông dân thuần túy, qua lớp áo quần lam lũ, dày cộm, dính đầy bùn đất, mặt mày tuy đen sạm, in hằn dấu vết dày dạn phong sương nhưng hai mắt trợn trừng, sáng quắc, lại long lanh như hai tia chớp có mảnh lực, làm nổi gai óc những người đứng trước mặt.
Họ Vương hoảng hốt, vừa muốn quay gót, tránh mặt bỏ vào trong miếu, thì người nông dân lực lưỡng lạ mặt đã bước lẹ đến bên cạnh, nhìn thẳng vào giữa mặt nhà phong thủy, gằn giọng, tiếng nói sang sảng như chuông đồng :
- Ngũ Phụng triều dương của Vũ Hồn, nghe chưa ? Thượng Đế đã dành cho họ Vũ ngôi mả ấy ! Không một ai được quyền xâm phạm tới ! Nhà ngươi nên tìm Vũ Hồn, rồi giúp họ Vũ thì thế nào cũng được hưởng chung phước trạch !
Dứt lời, người nông dân lạ mặt, quay ngoắt mình về lối cũ đi thẳng...
Thầy địa lý toan chạy theo, nhưng hai chân cứng nhắc, không nhút nhít. Hắn hốt hoảng gọi thất thanh liền mấy tiếng, nhưng kỳ lạ làm sao, hắn chỉ ú ớ trong cổ họng, chứ không làm sao nói được thành tiếng rõ ràng như thường nhật, đành cứ đứng tựa lưng vào khung cửa gổ, mặt ngơ ngác nhìn theo bóng dáng người nông dân lạ mặt, khuất dần quá bụi khúc tần rậm rạp ngay chỗ khúc quẹo vào đường làng.
Với tâm trí bàng hoàng; họ Vương đứng nguyên như thế tới một khắc đồng hồ, cho đến lúc bóng dáng người nông dân khuất hẳn sau lùm cây, hắn mới cất nhắc được chân tay, liền hốt hoảng chạy theo người lạ mặt, nhưng bốn bề vắng ngắt, trên con đường đất chạy từ miếu Cô hồn vào trong làng, chẳng có một ai hết.
Họ Vương lo sợ như kẻ mất hồn, bước thấp, bước cao trở về tiệm, lòng hoang mang trăm mối nghi ngờ thắc mắc...
Vì thế, họ Vương thường phải vắng nhà luôn. Việc trông nom săn sóc cửa nhà, hoàn toàn được trao phó cho người vợ họ Trần và Vũ Hồn đảm nhiệm.
Bà chủ tiệm thuốc Bắc là một thiếu phụ nhan sắc khá diểm kiều, bản chất lại thông minh lanh lợi, nàng sở dĩ phải kết hôn với họ Vương chỉ là vì nhà nàng quá nghèo túng, khổ sở, không trả nợ mấy món nợ quan trọng đã đến kỳ hạn phải bồi hoàn cả gốc lẫn lãi. Hơn nữa, thân mẫu nàng lại mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo, gần đất xa trời mà trong nhà quá bê bối, không đủ sức tìm thầy, chạy thuốc.
Vì vậy, khi được họ Vương tình nguyện điều trị giúp, lại hứa trao tặng một số tiền lớn làm sính lể, cha mẹ nàng liền nhận lời gả cho họ Vương, vừa để đền ơn cứu mạng của họ Vương vừa để lấy chỗ nương nhờ về mai hậu.
Mối tình chồng vợ giữa cô gái họ Trần và thầy lang họ Vương, bởi thế, chỉ có bề ngoài chứ không nồng nàn, thắm thiết chan chứa yêu đương như những đôi uyên ương mới xây dựng tổ ấm gia đình khác.
Ví dù cho họ Vương có tử tế, rộng lượng đến đâu, trước mặt Trần thị, thầy lang cũng chỉ là người ngoại chủng, ngôn ngữ bất đồng, mà theo quan niệm hôn nhân của thời đại phong kiến thì con gái những gia đình nền nếp không bao giờ chịu lấy chồng Tàu, chồng Chệt !
Đấy là chưa nói đến số tuổi quá chênh lệch, giữa đôi bên : họ Vương đã ngoại tứ tuần, trong lúc cô gái họ Trần mới có 19 cái xuân xanh, khiến cho sau hôn lễ, mỗi khi có dịp phải đi sóng đôi với chồng ra ngoài đường những trẻ con quanh vùng, thường vỗ tay reo hò, chế diễu, hát nheo nhéo câu ca dao :
" Tiếc thay con ngựa bạch lại thắng giây cương bằng thừng,
Tiếc cho con người thế ấy lại nâng lưng ông cụ già !
Lạy chú, chú bỏ con ra,
Ra đường ai biết rằng cha hay chồng,
Nói ra đau đớn trong lòng,
Ấy cái nợ truyền kiếp, há phải là chồng em đâu ? "
Lúc đầu tiên, cô gái họ Trần, từ địa vị một thiếu nữ bần hàn, quần nâu, áo vải, chân lấm tay bùn, quanh năm vật lộn với luống cày, đổi bát mồ hôi mới kiếm nổi miếng cơm, nên khi được họ Vương cưới về làm vợ, nàng rất thỏa mản, vì ngoài sự sung sướng về vật chất, nàng còn báo hiếu được cho cha mẹ, nhờ số tiền dẫn cưới khá quan trọng của ông chủ tiệm thuốc Bắc để cha mẹ nàng có thể thanh tóan hết các món nợ nần, bê bối từ mấy năm nay.
Nhưng sau lể vu quy chỉ chừng một tháng, mỗi khi ra ngồi ngoài quầy tủ thuốc, nhất là những dịp có việc phải đi với chồng ra đường, thiên hạ hiếu kỳ, tệ hơn hết là những trẻ con trong làng, đã vỗ tay reo hò, chạy theo chế riễu nàng thậm tệ, khiến cho nàng tủi thẹn vô cùng.
Lòng tủi thẹn mỗi ngày một nặng nề đưa dần đến sự chán ghét người bạn gối chăn khác dòng giống.
Do đấy, cô gái họ Trần thường chỉ thích chuyện trò với anh quản gia Vũ Hồn mà nàng tin rằng dù sao, cũng vẫn là người đồng hương, cùng chung một tiếng nói với nàng, thì hẳn là phải biết kính trọng nàng hơn hẳn là chú Chệt, lúc nào cũng ngô nghê như Chú Tàu nghe kèn, chẳng xứng đáng một chút nào với áng nhan sắc diểm kiều, duyên dáng của nàng, từ xưa tới nay, vẫn nổi tiếng là một thôn nữ xinh đẹp nhất phủ Bình Giang !
Trước Vũ Hồn còn sợ hải, dè dặt, không dám suồng sả, đùa cợt với cô chủ trẻ tuổi, mặc dầu cô chủ cứ luôn luôn tỏ ra vô cùng dể dãi.
Nhưng chỉ ít lâu sau đấy, nhằm một buổi tối, nhân cơ hội họ Vương phải đi coi mạch cho một bệnh nhân ở trên Sặt, đường xá xa xôi, bắt buộc thầy lang phải ngủ lại nhà con bệnh đến sáng hôm sau mới có thể về được, nên cô chủ trẻ tuổi đã sai Vũ Hồn đóng kín cổng ngỏ, ngay từ lúc sẩm tối, viện cớ là nhà vắng người, bà chủ cần phải đề phòng những sự bất trắc bất ngờ.
Bề ngoài thì thế, nhưng sự thực bên trong lại khác hẳn !
Đó là một điều tính toán rất kỷ, chín chắn của một thiếu phụ, trời cho nhan sắc mặn mà, khôn ngoan tháo vát, nhưng trớ trêu, lại sinh trưởng nhằm cảnh gia đình nghèo khổ, túng thiếu, đến nổi một đoá hoa mơn mởn sắc hương, phải lọt vào tay một chú Chệt đáng tuổi cha, ông, khiến cho cô gái hẩm hiu duyên số ấy, dù được sống trong nhung gấm, vàng son, tha hồ ăn ngon, mặc đẹp, kẻ hạ người hầu, cũng cảm thấy tủi buồn, đau khổ, suốt ngày đêm rầu rỉ, thở vắn, than dài.
Không những thế, họ Vương thường viện cớ bận rộn, săn sóc bệnh nhân, để có khi vắng mặt đến ba, bốn ngày đêm liên tiếp, làm cho tình gối chăn lạnh nhạt, so với vẻ quyến luyến keo sơn của những cặp vợ chồng mới cưới khác, thì quả thực là cách biệt nhau một vực, một trời.
Tính tình chú Chệt chủ tiệm thuốc lại mỗi lúc một thêm khó khăn, khắc khổ. Đối với cô gái họ Trần chú không mấy khi cười nói, tỏ vẽ yêu thương, đi vắng thì không sao, êm thắm cửa nhà, mà cứ về đến tiệm là thế nào chú Chệt cũng la lối om sòm, phiền trách vợ, rày mắng người giúp việc, chẳng lúc nào ngớt tiếng.
Sức chịu đựng của thiếu phụ họ Trần chỉ có chừng !
Nàng không thể chôn vùi mãi tuổi xuân tràn trề nhựa sống của những ngày mới vu quy vào chốn sầu thành vô tận, bên cạnh một người chồng ngoại chủng, khắc khổ như một nhà truyền đạo, lạnh nhạt như một kẻ tu hành.
Đã đến lúc nàng phải đi tìm một nguồn an ủi khác, kẻo nay lần mai lữa, năm tháng cứ vùn vụt trôi qua, chôn vùi một kiếp hồng nhan đang tha thiết yêu đời, dưới hố sâu hờn tủi của kẻ vị vong, có chồng mang tiếng phòng không trọn đời!