Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rở anh em thuận hoà
Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang
Hồ Chí Minh

Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm: Sự ứng nghiệm họa phúc của 64 kiểu bếp (3)
Thứ sáu 09/10/2009 12:00:00 (GMT +7)
Tác giả: Triệu Cửu Phong
Nguồn: Kiến trúc học Phương Đông
Bếp này sanh các chứng bệnh đàm, tê xụi, ho lao, mắt đỏ, tim đau đầu đau, đau máu, bệnh Âm thuộc âm nóng hầm hầm, hỏa khí xông lên miệng lưỡi nổi u nhọt, tim như bị đốt. Nó còn sanh ra các vụ thưa kiện, phỏng cháy.
- Lại có lời đoán như vầy: Thuần Âm, dùng lâu sẽ tuyệt tự, con gái và rễ làm loạn trong gia đình, hàng trung nữ phá tán gia tài mà bệnh chẳng rời thân. Trên dưới vô tình, tôn ty bất nghĩa.
BẾP SỐ 42: BẾP LY PHỐI VỚI CỬA KHÔN
(Đây là Bếp Lục sát – hung. ở Kinh Dịch là quẻ Hỏa Địa Tấn).
- Bếp Ly Âm Hỏa phối Cửa Khôn Âm Thổ, lửa đốt đất phải khô biến ra Bếp Lục sát bất lợi. Mẹ với con gái sống chung (Khôn Ly) là tượng thuần Âm không có Dương: Nam tử chết sớm, tiểu nhi khó nuôi. Cho tới hàng phụ nữ cũng không trường thọ. Dùng Bếp này mãi về sau không con thừa tự. Bếp còn sanh các chứng bệnh đau tim, kinh nguyệt chẳng thông công phạt tim, lao dịch, thổ huyết.
- Lại có lời tượng đoán theo quẻ Tấn như vầy: Quẻ Tấn, âm nhân gom chứa tiền của. Thuần Âm tất hại Dương, vợ chết lại nhiều phen lấy vợ. Trong nhà rối như cỏ mọc loạn nhiều thứ. Con cháu rất ít oi. Kết cuộc về sau phải dùng con họ khác làm kế thừa tự.
BẾP SỐ 43: BẾP LY PHỐI VỚI CỬA ĐOÀI
(Đây là Bếp Ngũ quỷ – đại hung. ở Kinh Dịch là quẻ Hỏa Trạch Khuê).
- Ly Hỏa phối với Đoài Kim, lửa đốt cháy vàng lại thuần Âm không có Dương, ba hạng: nam nhân, ấu phu, thiếu nữ đều đoản thọ. Bếp này sanh các chứng bệnh: ho lao gầy yếu, băng huyết, da mặt vàng khô, tiêu khát, thai hư hóa huyết. Nó còn sanh ra các sự việc nguy hại: bị các tà quỷ treo cổ trầm mình nhiễu nhương (phá hại), hỏa hoạn, trộm cướp, quan họa (tai họa về quan pháp), điền sản thoái bại, đàn bà góa chuyên quyền, người người tổn thương không có con để nối dòng.
- Lại có lời đoán theo quẻ Khuê như vầy: Quẻ Khuê, thê thiếp chịu thương tổn, người mang bệnh lao dịch, không con thừa tự cho nên bị con gái với chàng rễ tấn nhập gia cư. Hại thân người, hao tổn lục súc và phá tán tiền bạc là ba điều bất lợi.
BẾP SỐ 44: BẾP LY PHỐI VỚI CỬA KIỀN
(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. ở Kinh Dịch là quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu).
- Bếp Ly Hỏa khắc Cửa Kiền Kim, trước hại ông cha, kế đó hại hàng trung nữ. Bệnh chứng do Bếp gây ra: hư lao, ho suyễn, da vàng, thổ huyết, đau tê liệt, ghẻ độc, mắt tật. Các sự việc hung hại: treo cổ, trầm sông nhảy giếng, phỏng cháy, trộm cướp, phạm quan pháp, tà ma làm ra việc quái lạ. Hao phá tiền tài và tuyệt tự là hai điều chẳng khỏi.
- Lại có lời đoán theo quẻ Đại Hữu như vầy: Đại Hữu, trung nữ sanh đẻ băng huyết, nghẹn ăn nấc cục, nhà cửa bại hoại, con người chết mất, những vụ phỏng cháy trộm cướp xen nhau đến gây lắm tai ương. Bậc trưởng thượng cùng ấu nhi thường hay tật bệnh.
BẾP SỐ 45: BẾP LY PHỐI VỚI CỬA KHẢM
(Đây là Bếp Diên niên thất vị. ở Kinh Dịch là quẻ Hỏa Thủy Vị Tế).
- Bếp Ly phối với Cửa Khảm là trung nam gặp trung nữ, là tượng phu thê chính phối, lại được Diên niên tức Vũ khúc kiết tinh, cho nên: tiền tài rất phong phú, công danh hiển hách, con cháu đầy nhà. Nhưng dùng Bếp này lâu năm sẽ khắc hại vợ, tim đau, mắt tật. Đó là bởi Khảm Thủy với Ly Hỏa tương khắc và vì Diên niên Kim lâm Ly Hỏa, cung khắc tinh, sự phát đạt chẳng yếu đi thì cũng không bền.
- Lại còn lời đoán theo quẻ Vị Tế như vầy: Vị Tế, được đạo Âm Dương chính phối, nhà cửa cùng sự nghiệp và tài vật đều hưng tiến. Nhưng lâu năm cung thê thọ hình khắc (Ly bị Khảm khắc), tim đau, mắt bệnh.
-(Dẫn giải: Chính phối là hai cung đồng bậc với nhau mà có đủ Âm Dương . Như Khảm thuộc Dương trung nam với Ly thuộc Âm trung nữ. Như Cấn thuộc Dương thiếu nam với Đoài thuộc Âm thiếu nữ. Như Chấn thuộc trưởng nam với Tốn thuộc Âm trưởng nữ. Như Kiền thuộc Dương là cha với Khôn thuộc Âm là mẹ. Phàm hai cung chính phối tất hỗ biến được Diên niên, rất tốt, duy Ly với Khảm không bền vì Hỏa với Thủy tương khắc).
BẾP SỐ 46: BẾP LY PHỐI VỚI CỬA CẤN
(Đây là Bếp Họa hại – hung. ở Kinh Dịch là Quẻ Hỏa Sơn Lữ).
- Bếp Ly phối Cửa Cấn làm thành Bếp Họa hại. Ly lửa đốt Cấn là đất phài khô rang. Cấn ứng vào hạng thiếu niên và nhỏ tuổi chết mất. Ly ứng vào hạng trung nữ tánh táo bạo, nóng nảy, hung dữ. Ly đốt Cấn là tượng âm nhân nhiễu loạn mà nam nhân phải ngại sợ vậy. Bếp này sanh các chứng đầu óc hôn trầm (tối tăm), tê bại, tật mắt, đại tiện bón uất, kinh mạch chẳng điều hòa, si mê điếc lác, ngượng nghịu.
- Lại có lời tượng đoán theo quẻ Lữ như vầy: Quẻ Lữ, vợ chồng không thịnh vượng, con cháu khó nuôi tới lớn, nhân khẩu tổn thương, tiền tài chẳng hưng tiến. Con côi mẹ góa là định phận.
BẾP SỐ 47: BẾP LY PHỐI VỚI CỬA CHẤN
(Đây là Bếp Sinh khí đắc vị. ở Kinh Dịch là quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp).
- Bếp Ly Âm Hỏa phối Cửa Chấn Dương Mộc là Âm Dương toại hiệp, vạn vật sinh thành, là Mộc với Hỏa tương sanh, thông minh rạng rỡ. Sinh khí Mộc lâm Ly đắc vị là tượng Thanh long vào nhà, là một cái Bếp đại phú, đại quý, tiền bạc chạy vào, của quý đưa đến. Nhất định nhà được Bếp này có bậc văn nhân, tú sĩ, khoa giáp đỗ liền liền.
- Lại có lời đoán theo quẻ Phệ Hạp như vầy: Phệ Hạp, lửa với sấm giao hiệp nhau mà Tạo hóa được hanh thông. Con em hùng liệt hạng tướng, công. Bạc vàng súc tích đầy rương tráp, tự mình chẳng biết vì đâu giàu. Chồng vợ vui mừng nói chẳng hết lời.
BẾP SỐ 48: BẾP LY PHỐI VỚI CỬA TỐN
(Đây là Bếp Thiên y đắc vị. ở Kinh Dịch là quẻ Hỏa Phong Đỉnh).
- Bếp Ly Âm Hỏa phối Cửa Tốn Âm Mộc là Hỏa Mộc tương sanh làm ra Bếp Thiên y đắc vị rất tốt: phụ nữ tạo nên gia nghiệp, phố xá, điền địa, của cải đều đặng phong hậu, người trong nhà hay làm việc phúc đức. Nhưng vì Ly Tốn thuần Âm chẳng trưởng tấn được cho nên con cháu ít oi, cô dì sanh tật. Dùng Bếp này lâu năm sẽ bất lợi và sanh các chứng bệnh: phong, lao, đầu nhức, mắt đỏ mà tối tăm, hay đau lặt vặt.
- Lại có lời đoán theo quẻ Đỉnh như vầy: Quẻ Đỉnh thuần Âm, lúc đầu có lợi, lục súc hưng vượng, ruộng nhà có thêm. Nhưng về sau con cái khó khăn, phải dùng minh linh, nghĩa tử (xin con họ khác làm con mình).
BẾP SỐ 49: BẾP KHÔN PHỐI VỚI CỬA KHÔN
(Đây là Bếp Phục vị thất vị. ở Kinh Dịch là quẻ Bát Thuần Khôn).
- Bếp Khôn phối với Cửa Khôn là hai Thổ tỷ hòa, mà Thổ thì sanh Kim cho nên tiền của chất đầy nhà, phú quí có dư. Nhưng không khỏi cái hại nhiều Âm mà chẳng có Dương, nữ nhiều nam ít, mẹ già (Khôn) quản lý gia đình, một nhà đàn bà góa, không con thừa tự.
- Lại có lời đoán theo quẻ Khôn như vầy: Quẻ Khôn, gia tài hưng vượng trâu, dê, ruộng nương, tơ tằm đều thành thục, trong nhà ổn thỏa, năm này qua năm khác bình yên. Chỉ hiềm một nỗi không con nối dõi dòng họ.
BẾP SỐ 50: BẾP KHÔN PHỐI VỚI
(Đây là Bếp Thiên y đăng diện. ở Kinh Dịch là quẻ Địa Trạch Lâm).
- Bếp Khôn Âm Thổ phối Cửa Đoài Âm Kim, Thổ với Kim tương sanh lại được Thiên y tức Cự môn Thổ tinh đăng diện: tiền tài cùng sản nghiệp tiến lên, nam nữ đều nhân từ và hiếu nghĩa. Nhưng Khôn gặp Đoài là tượng mẹ và con gái ở chung, là tượng thuần Âm chẳng sinh hóa được, phụ nữ nắm giữ gia đình, chồng con bị khắc hại. Tóm lại, lúc đầu đại phát mà về sau lâu bất lợi.
- Lại có lời tượng theo quẻ Lâm như vầy: Quẻ Lâm, , mọi sự đều tốt, mưu sinh và động tác đều chẳng sai lầm. Chỉ buồn vì cái đạo nghĩa cùng tận ắt biến sinh ra khác, quyết đoán là cả nam nhân lẫn nữ đều yểu và góa bụa.
BẾP SỐ 51: BẾP KHÔN PHỐI VỚI CỬA KIỀN
(Đây là Bếp Diên niên đắc vị. ở Kinh Dịch là quẻ Địa Thiên Thái).
- Bếp Khôn Âm Thổ phối với Cửa Kiền Dương Kim, Âm Dương có đủ, Thổ với Kim tương sanh, lại được Diên niên đắc vị tức Vũ khúc Kim tinh được ngôi, thố của thịnh vượng, con gái thanh tú. Bậc quân tử quan nhân thì thêm chức tước cùng quan lộc, hàng thường dân thì nhà thêm đông người và tấn phát tiền tài. Thật là một cái Bếp đại kiết, đại lợi.
- Lại có lời đoán theo quẻ Thái như vầy: Khôn là Đất, Kiền là Trời. Trời Đất hiệp nhau mà vạn vật sanh thành và hưng thái, ấy là quẻ Thái vì thế: gia đọa vinh xương, phu phụ đồng đều hiếu nghĩa và hiền lương. Người mẹ cải tạo cho trăm việc tốt lành là bởi Khôn ngộ kiết tinh (Diên niên). Vậy nên: mừng tốt tới đầy của, phúc lộc chẳng bờ ngăn.
BẾP SỐ 52: BẾP KHÔN PHỐI VỚI CỬA KHẢM
(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. ở Kinh Dịch là quẻ Địa Thủy Sư).
- Bếp Khôn Thổ khắc Cửa Khảm Thủy, hàng trung nam thọ hại, mang bệnh thũng da vàng rồi chết. Khôn thừa Tuyệt mệnh: mẹ già mang bệnh phong cuồng rồi cũng mạng vong. Các chứng bệnh do Bếp: bệnh cổ trướng, kinh nguyệt chậm trễ, hư thai, bại thận, câm điếc, thân thể gầy khô. Thật là một cái Bếp rất hung hại, khiến cho cả nam lẫn nữ điêu linh, trẻ con khó còn để lớn, các vụ quan pháp cùng miệng tiếng làm rối ren, hại người tổn lục súc… Cứ 3 năm hoặc 5 năm, từng lớp từng lớp ứng hiện các tai họa.
- Lại có lời đoán theo quẻ Sư như vầy: Quẻ Sư, thương tổn cả nam lẫn nữ, dưỡng tử bỏ đi đầu quân, tim đau, tê bại, bệnh hoạn đeo thân, năm này qua năm khác cứ thương nhân tổn súc (tổn hại người cùng lục súc).
BẾP SỐ 53: BẾP KHÔN PHỐI VỚI CỬA CẤN
(Đây là Bếp Sinh khí thất vị. ở Kinh Dịch là quẻ Địa Sơn Khiêm).
- Bếp Khôn Âm Thổ phối Cửa Cấn Dương Thổ, hai Thổ có Âm Dương đắp nên bờ lũy. Cũng gọi là mẹ gặp con trai nhỏ (Khôn gặp cấn) là tượng hoan hỉ, mẹ từ thiện con hiếu kính. Lại thừa Sinh khí tức Thanh long nhập trạch, tích tụ đa số tiền tài và trân bửu. Nhưng hiềm Sinh khí Mộc thất vị, khắc cả Khôn và Cấn Thổ cho nên: lúc đầu thịnh vượng, lúc giữa suy dần, dùng lâu sau sanh bệnh thũng da vàng, tim bụng đau nhức.
- Lại có lời đoán theo quẻ Khiêm như vầy: Quẻ Khiêm nhiều phú quí, nhiều hưng vượng, lục súc và tiền tài đều phát đạt. Hai năm hoặc năm năm khởi tạo nên gia nghiệp, lại nổi danh về thư sách và khoa giáp, người người đều đặng may tốt chẳng sai, người người đều hiền lương mà khởi làm nên nhà cửa, mẹ già luyến yêu con trẻ. Chỉ buồn vì mẫu thân bệnh chết lâu xa rồi con nhỏ mới trưởng thành.
BẾP SỐ 54: BẾP KHÔN PHỐI VỚI CỬA CHẤN
(Đây là Bếp Họa hại – hung táo. ở Kinh Dịch là quẻ Địa Lôi Phục).
- Cửa Chấn Mộc khắc vào Bếp Khôn Thổ là ngoài khắc vào trong, sự thể trọng đại, lão mẫu là chính nhân bị tổn thương. Ngoài ra còn âm nhân và tiểu nhi mang u bướu ngực, phụ nữ bệnh huỳnh đản, trưởng tử nghịch với mẹ và hại nhục đàn em, cờ bạc, tham lam, phá gia bại sản. Lại còn sanh ra các bệnh yết hầu ủng tắc (nghẹt), hơi độc xung lên tim, bụng dạ dày bành trướng không còn muốn ăn uống. Chết người hết của là cái Bếp này.
- lại có lời đoán như vầy: Chấn Mộc khắc Khôn Thổ, trưởng nam là kẻ đáng sợ vì nó nghịch mẹ hại em không còn tự do. Lão mẫu vì nhiều nguyên nhân mà mang bệnh huỳnh đản rồi chết, tiểu nhi sanh u bướu tại sau đầu, âm nhân bị tổn thương. Ruộng, tằm, ngũ cốc trồng không chín. Trẻ con cùng lục súc đáng ngại thay. Khá thương nhân khẩu lắm phen tổn hại.
BẾP SỐ 55: BẾP KHÔN PHỐI VỚI CỬA TỐN
(Đây là Bếp Ngũ quỷ – đại hung. ở Kinh Dịch là quẻ Địa Phong Thăng).
- Bếp Khôn Âm Thổ bị Cửa Tốn Âm Mộc khắc biến thành Bếp Ngũ quỷ rất dữ tợn. Nó gây hại cho mẹ già nhiều nhất. Lại thuần Âm khiến cho nam tử đoản thọ. Bà với cháu bất hòa. Đây là kiểu Bếp cô quả, tuyệt tự, dâm loạn mà không người chủ quyền. Các chứng bệnh sanh ra là ăn uống nghẹn khí, nấc cục, phù thũng da vàng bệch, bụng to vì bị thủy trướng. Lại còn những sự bất lợi như: tai hại về quan pháp, phỏng cháy, sự hại đến bất ngờ hại tới nhân mệnh, đọa tặc từ phương Đông nam xâm nhập, vì các vụ nơi công môn mà phá tán tiền bạc, gây họa liên chiền tới 4 người, tới 5 người chưa thôi. Các năm Dần Ngọ Tuất hoặc tới năm tuổi của người nào trong nhà thì người ấy lâm tai họa.
- Lại có lời tượng ứng theo quẻ Thăng như vầy: Quẻ Thăng, âm khí thịnh lên thái quá cho nên tà quỷ nhập vào nhà làm hung dữ. Một nhà quả phụ náo loạn lên như oửa sấy đốt đến khô khốc. Đáng sợ vì Thần trong nhà chẳng yên (Thần là nói chung thần thánh, các vị được thờ phượng trong nhà).
BẾP SỐ 56: BẾP KHÔN PHỐI VỚI CỬA LY
(Đây là Bếp Lục sát – hung táo. ở Kinh Dịch là quẻ Địa Hỏa Minh Di).
- Bếp Khôn Âm Thổ bị Cửa Ly Âm Hỏa đốt làm cho đất khô rang, lại Khôn với Ly thuần Âm cho nên: nam nhân thọ tổn, làm khiếm khuyết con cái, tổn hại nhân khẩu. Hàng trung nữ bệnh đau máu, mắt tật, tim đau nhức, sản lao, kinh nguyệt trồi sụt bất thường. Lão mẫu bị phong cuồng, thủy thũng, huỳnh đản. Lại còn có các vụ đào tẩu (chạy trốn) của nam nữ rất bất lợi.
- Lại có lời đoán theo quẻ Minh Di như vầy: Quẻ Minh Di, gia trưởng bất lợi. Nghĩa tử và hàng dương nhân mạng vận trái sai. Âm nhân làm loạn gia tài, gây rối trong nhà. Các việc tai hại do quẻ Minh Di ứng làm bại hoại một cách mau lẹ.
BẾP SỐ 57: BẾP ĐOÀI PHỐI VỚI CỬA ĐOÀI
(Đây là Bếp Phục vị. ở Kinh Dịch là quẻ Bát thuần Đoài).
- Bếp Đoài phối Cửa Đoài là hai Kim tỷ hòa tất gia đọa hưng long. Nhưng vì Đoài Đoài thuần Âm chẳng sanh hóa được, con cháu hiếm hoi, thành nhỏ hại lớn, thiếu phụ chuyên quyền làm rối loạn trong nhà chẳng mấy lúc được yêu, hoặc bệnh tật u bướu làm hại tim, dạ dày nhiễm bệnh biếng ăn.
- Lại có lời đoán theo quẻ Đoài như vầy: Quẻ Đoài có phát tiền tài và sản nghiệp. Hiềm vì dư Âm mà không có Dương tất nhà không chấn chỉnh, âm nhân nhiễu loạn và chấp chưởng quyền hành.
BẾP SỐ 58: BẾP ĐOÀI PHỐI VỚI CỬA KIỀN
(Đây là Bếp Sinh khí thất vị. ở Kinh Dịch là Quẻ Trạch Thiên Quyết).
- Bếp Đoài Âm Kim phối Cửa Kiền Dương Kim, Âm Dương toại kết, hai Kim tỷ hòa: gia đọa thuận hòa nhiều đẹp ý, nhân khẩu và tiền tài đều thịnh vượng, phú và quí song toàn. Bếp Sinh khí tức Thanh long nhập trạch: nhà sản xuất bậc văn nhân, tú sĩ, sanh 4 con trai thành lập vững vàng. Duy Đoài phối Kiền tượng thiếu nữ đồng sàn với lão ông tất vì sủng ái mà giao hết quyền hành cho vợ trẻ nắm chẳng phải điều hay. Do chỗ đó và do Sinh khí Mộc lâm Đoài Kim thọ khắc (thất vị) và Bếp này chỉ được liệt vào hạng Bếp tốt hạng nhì (thay vì hạng nhất).
- Lại có lời tượng đoán theo quẻ Quyết như vầy: Quẻ Quyết, tiền tài thịnh vượng, nhà phát phước. Lão Dương (Kiền) với Thiếu âm (Đoài) đồng giường, nhân đinh mậu vượng (người thêm đông), gia nghiệp thịnh tiến. Nhưng vì được sủng ái (yêu mê) mà vợ thứ khinh khi người lớn.
BẾP SỐ 59: BẾP ĐOÀI PHỐI VỚI CỬA KHẢM
(Đây là Bếp Họa hại – hung táo. ở Kinh Dịch là quẻ Trạch Thủy Khổn).
- Bếp Đoài Kim phối với Cửa Khảm Thủy biến thành Bếp Họa hại. Thủy là nước chảy mài mòn kim khí (Đoài), hàng thiếu nữ và trung nam (Khảm) chịu ảnh hưởng bất lợi vì cái Bếp này. Lại người suy bại, âm nhân băng huyết lọt thai, nam nhân thổ huyết, thủy trướng, di tinh, tim đau nhức.
- Lại có lời đoán theo quẻ Khổn như vầy: Quẻ Khổn, tổn hại nhân đinh, sanh xảy ra nhiều việc bất ngờ, phải hao tài tán của, tật bệnh đến không chừng đỗi, trộm cướp và quan pháp nhiễu nhương.
BẾP SỐ 60: BẾP ĐOÀI PHỐI VỚI CỬA CẤN
(Đây là Bếp Diên niên đăng diện. ở Kinh Dịch là quẻ Trạch Sơn Hàm).
- Bếp Đoài Âm Kim phối Cửa Cấn Dương Thổ là Âm Dương chính phối tương sanh: vợ chồng hòa thuận, giàu có và sang trọng được cả hai, người cùng tài năng đều thịnh vượng. Bếp Đoài Kim thừa Diên niên Kim tỷ hòa đăng diện, tức được Vũ khúc Kim tinh chiếu diệu là một cái Bếp hoàn toàn tốt.
- Lại có lời đoán theo quẻ Hàm như vầy: Quẻ Hàm, núi với đầm ăn thông mạch lạc: chính phối hôn nhân, vợ chồng thuận hòa đồng là đôi lứa thiếu niên đẹp đẽ. Nữ chuộng điều trinh khiết và từ thiện, nam thì đúng mực tài hoa đã trung lương lại rất nhân nghĩa.
BẾP SỐ 61: BẾP ĐOÀI PHỐI VỚI CỬA CHẤN
(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. ở Kinh Dịch là quẻ Trạch Lôi Tùy).
- Bếp Đoài khắc Cửa Chấn Mộc, trước gây thương tổn cho trưởng tử và trưởng tôn, sau làm hại tới thiếu nữ và trưởng nữ. Người cùng tiền của đều bại tuyệt. Oan khí uất kết trong nhà, sanh các chứng bệnh cổ họng bành trướng, tim đau, lưng nhức. Lại còn có những vụ tự vận như thắt cổ trầm sông, nhảy giếng, chết cách hung tợn, những việc bất ngờ xảy đến có án mạng khiến cho khuynh gia bại sản. Hoàn cảnh gia đình là con côi mẹ góa, phụ nữ nắm giữ cửa nhà.
- Lại có lời đoán theo quẻ Tùy như vầy: Quẻ Tùy, làm thương tổn trưởng nam và trưởng nữ, quan pháp làm khổ lụy thân, người lâm bệnh, chết. Về sau không con thừa tự, thường hay có sự bi thương, sầu thảm, trong nhà hung khí dậy lên gây nên việc chẳng lành.
BẾP SỐ 62: BẾP ĐOÀI PHỐI VỚI CỬA TỐN
(Đây là Bếp Lục sát – hung táo. ở Kinh Dịch là quẻ Trạch Phong Đại Quá).
- Bếp Đoài Kim phối Cửa Tốn Mộc, Kim với Mộc hình chiếu nhau sanh các chứng bệnh ho hen, phong cuồng, tim và mông đều đau nhức, Lại xảy ra các vụ tự ải (treo cổ), máu chảy, lửa cháy, trộm cắp, dâm đãng, trốn tránh. Đoài với Tốn tương khắc lại thuần Âm cho nên hiếm con nối dòng, tổn hại nam nhân, thương hại phụ nữ. Đến các năm Tỵ Dậu Sửu thì sanh tai họa.
- Lại có lời đoán theo quẻ Đại Quá như vầy: Quẻ Đại Hóa, trong nhà gian nan, lầm lỗi. Tổn hại nhân khẩu chẳng chừa một người, lục súc chết mất chừng hết mới thôi. Hết thảy các tai hoạn có minh sư cũng chẳng cứu được khỏi (ý bảo phải đổi Bếp khác mới khỏi).
BẾP SỐ 63: BẾP ĐOÀI PHỐI VỚI CỬA LY
(Đây là Bếp Ngũ quỷ – đại hung. ở Kinh Dịch là quẻ Trạch Hỏa Cách).
- Cửa Ly Hỏa khắc Bếp Đoài Kim, trước hại phụ nữ ấu thơ, sau hàng nam nhân (thuần Âm), trộm cướp phá khuấy, quan quyền làm khó, gái nhỏ rất gian nan. Các chứng bệnh xảy ra như: đau đầu mắt đỏ,, tim mê mệt, mất ngủ, ho lao, thổ huyết, sanh đẻ khó khăn. Cái Bếp Ngũ quỷ này hung hại chẳng vừa, nó khiến cho tiêu bại sản nghiệp, tuyệt tự, phạm đến sinh mạng, phụ nữ làm loạn, gia đọa chẳng yên.
- Lại có lời đoán theo quẻ Cách như vầy: Quẻ Cách, lâm vấp quan hình, tai họa bất ngờ, các vụ máu lửa kinh sợ, ăn uống hại thân, phụ nữ làm càn bậy, đứt hậu con cháu. Đáng thương thay một cửa tận tuyệt.
BẾP SỐ 64: BẾP ĐOÀI PHỐI VỚI CỬA KHÔN
(Đây là Bếp Thiên y đắc vị. ở Kinh Dịch là quẻ Trạch Địa Tụy).
- Bếp Đoài Kim phối Cửa Khôn Thổ là Kim với Thổ tương sanh, mẹ với con gái sống chung một nhà, mẹ già cầm cán gia đình, tài sản một ngày một vượng. Nhà hay làm phúc thiện (tánh cách của Thiên y), mẹ quá thương yêu thiếu nữ và tiểu nhi, rất ít con cháu, tâng trọng con rễ.
- Lại có lời đoán theo quẻ Tụy như vầy: Quẻ Tụy, tiền tài phát đạt mà con cái muộn màng. Đoài Khôn thuần Âm nên Âm thắng Dương suy, phụ nữ chủ trương nam nhân thuận ý, âm nhân quản trị gia đình. (Chú ý: Phàm là Bếp Thiên y chẳng thuần Âm thì cũng thuần Dương. Vì vậy chỉ tốt lúc đầu. Nhưng Thiên y đăng diện hay đắc vị thì mới nên dùng mốt thời gian lối 10 năm, bằng thất vị chỉ nên dùng lối 5 năm rồi đổi qua dùng Bếp Diên niên hay Bếp Sinh khí có đủ Âm Dương, phát bền hơn).
HẾT DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU
Mời xem các bài khác:
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (1)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (2)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (3)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (4)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (5)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (6)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (7)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (8)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (9)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (10)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (11)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (12)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (13)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (14)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (15)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (16)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (17)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (18)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (19)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (20)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (21)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (22)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (23)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (24)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (25)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (26)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (27)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (28)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (29)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (30)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (31)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (32)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (33)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (34)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (35)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (36)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (37)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (38)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (39)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (40)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (41)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (42)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (43)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (44)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (45)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (46)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (47)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (48)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (49)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (50)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (51)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (52)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (53)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (54)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (55)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (56)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (57)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (58)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (59)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (60)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (61)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (62)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (63)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (64)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm: Sự ứng nghiệm họa phúc của 64 kiểu bếp (1)
- Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm: Sự ứng nghiệm họa phúc của 64 kiểu bếp (2)













