11779576

Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm: Sự ứng nghiệm họa phúc của 64 kiểu bếp (1)

Thứ sáu 09/10/2009 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Triệu Cửu Phong
Nguồn: Kiến trúc học Phương Đông

Vì ở phần A trước nói sự ứng nghiệm của mỗi Bếp đối với cả CỦA cùng CHỦ, nhưng chỉ nói đại khái vài việc hung kiết đôi bên để so sánh một cách khái quát mà thôi. Còn ở phần B có khác, nói rõ, nói đầy đủ và chuyên nói sự ứng nghiệm của những họa phước cùng bệnh hoạn do mỗi Bếp đối với mỗi Cửa mà không đề cập tới Chủ. Nhưng tại sao không đề cập tới Chủ như ở phần A?

– Tại vì do CỬA mà tính ra BẾP là chỗ chính lý, chớ không hề do CHẾ mà tính ra BẾP. Vậy nếu không có phần B này nữa thì không được biết đầy đủ tính chất căn bản của mỗi Bếp sanh ra mọi sự hung kiết, để còn kinh nghiệm và xét đoán sâu xa hơn ngoài khuôn khổ sách vỡ có giới hạn.

BẾP SỐ I: BẾP KIỀN PHỐI VỚI CỬA KIỀN

(Đây là bếp Phục vị Mộc thất vị, ở Kinh Dịch là quẻ Bát thuần Kiền).

- Bếp Kiền phối với Cửa Kiền là hai tỷ hòa ắt tiền tài và sản nghiệp hưng phát, khiến cho nhà giàu có lớn. Nhưng vì Kiền gặp Kiền là tượng hai ông ở chung một nhà, tức thuần Dương mà không có Âm ắt tổn hại vợ con, cưới thê thiếp nhiều lần, rất bất lợi cho con cháu nhánh trưởng, trưởng nam, trưởng nữ (Bởi Kiền Kim tất khắc Chấn Tốn Mộc là trưởng nam, trưởng nữ).

- Lại có lời đoán như vầy: Cửa Kiền thuần Dương, trước lành sau dữ, chôn vợ hại con gái. Có Dương mà không Âm thường sanh cô quạnh, bi thương. Huynh đệ chung nhà mà chẳng sanh được con cháu để thừa tự.

BẾP SỐ 2: BẾP KIỀN PHỐI VỚI CỬA KHẢM

(Đây là Bếp Lục sát – hung. ở Kinh Dịch là quả Thiên Thủy Tụng).

- Bếp Kiền Kim Khảm khí lại là thuần Dương không sinh hóa được, khiến cho nên lão ông cùng phụ nữ đoản thọ, tồn hao khí lực, trung nam bất lợi, sanh các chứng bệnh thủy cổ (bụng chứa đầy nước) và thổ tả (ỉa mửa), nữ nhân huyết khí băng lậu, dâm cuồng kinh sợ, tổn thất lục súc, tiểu nhi khó nuôi dưỡng.

- Lại có lời đoán theo quẻ Tụng như vầy: Quẻ Tụng tổn hại Âm (Dương thịnh Âm suy), sanh nhiều bệnh hoạn, nam nữ mộng tinh, trốn lánh, sót mắt, cha con chẳng hòa mà phân ly. Hãy gấp dời Bếp lại chỗ tốt.

BẾP SỐ 3: BẾP KIỀN PHỐI VỚI CỬA CẤN

(Đây là Bếp Thiên y đắc vị – kiết. ở Kinh Dịch là quẻ Thiên Sơn Độn)

- Bếp Kiền phối Cửa cấn là Kim với Thổ tương sanh, lại Thiên y Thổ lâm Kiền Kim là kiết du niên đắc vị: ruộng vườn cùng của cải đều thịnh mậu, công danh rất hiển đạt, cha hiền từ con hiếu để, con cháu nhanh nhổ hưng vượng, nam nữ đều ưa làm việc lành. Nhưng vì Kiền với cấn thuần Dương tất thắng hại Âm suy cho nên phụ nữ chết sớm, về sau lâu ắt không con thừa tự (ắt phải nuôi con nuôi nối dõi tông đường).

- Lại có lời đoán về quẻ Độn như vầy: Quẻ Độn, con cháu hiếu để và thuận hòa, tài sản và lục súc gia tăng, mỗi năm mỗi thêm phú quí và ruộng nương tấn phát. Nhưng dùng Bếp này lâu năm rồi sẽ không khỏi cô độc.

BẾP SỐ 4: BẾP KIỀN PHỐI VỚI CỬA CHẤN

(Đây là bếp Ngũ quỷ – đại hung. Kinh Dịch là quẻ Thiên lôi Vô Vọng).

- Bếp Kiền Kim khắc Cửa Chấn Mộc, lại là Bếp Ngũ quỷ hung hại hơn tất cả các Bếp hung khác. Nó khiến cho cha con bất hòa, làm tổn hại trưởng tử cùng trưởng tôn (con cả cháu cả), âm nhân và ông cha mang bệnh ho tới chết, con gái nhỏ cũng chẳng còn, khí dồn làm tức lói đôi hông, bệnh kết chứa hòn cục công phạt tim, cổ họng nghẹn hơi, gân cốt đau nhức, ho ra máu, các loại ghẻ độc, mạng người chết cách hung, trộm cướp, tai họa quan làng, tổn hao lục súc, tà ma vào nhà. Dùng cái bếp này trong 4 hay 5 năm ắt xảy đến cái tai họa đã kể.

- Lại còn lời đoán cho quẻ Vô Vọng như vầy: Quẻ Vô Vọng thuần Dương tất hại Âm, con cả bị khắc hại chẳng thể sống (Chấn thuộc con trai cả bị Kiền khắc), tà ma cùng các chuyện hung nguy đến nhiễu loạn bất ngờ, nhất định làm hại người, tổn hao của cải.

BẾP SỐ 5: BẾP KIỀN PHỐI VỚI CỬA TỐN

(Đây là Bếp Họa hại – hung táo. ở Kinh Dịch là quẻ Thiên phong Cấu).

- Bếp Kiền phối Cửa Tốn là Kim với Mộc hình chiếu nhau, khiến cho hàng trưởng phụ (phụ nữ lớn) sanh đẻ chết. Người tronh nhà hay mắc bệnh phong có người gieo giếng, thắt cổ, khí trệ đọng khiến cho hông tim mông đau nhức.

- Lại còn lời đoán theo quẻ Cấu như vầy: Quẻ cấu âm nhân khổ chết, ông cha mê hầu thiếp, phụ nữ tà dâm, sanh các chứng bệnh phong, đại khái là những việc hư hỏng.

BẾP SỐ 6: BẾP KIỀN PHỐI VỚI CỬA LY

(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. ở Kinh Dịch là quẻ Thiên Hỏa Đông Nhân).

- Cửa Ly Hỏa khắc vào Bếp Kiền Kim khiến kinh sợ cho bên trong. Lại Tuyệt mệnh lâm Kiền là cái bếp sanh nhiều tai hại. Oõng cha mang bệnh ho đến chết, trung nữ sanh đẻ tử vong, con cháu nhánh trưởng (anh cả chị cả) bất lợi. Các chứng bệnh: hư lao, tê bại, nung huyết mủ, tim đau, mắt tật. Các vụ máu lửa, giấy tờ quan tụng, lửa cháy, trộm cướp, cô quả, bại tuyệt, tiểu nhi tổn thương.

- Lại còn lời đoán theo quẻ Đồng nhân như vầy: Quẻ Đồng Nhân, ông cha ho bệnh tới chết, hư thai hại trẻ, gặp hạn đầu quân, nhiễm bệnh huỳnh đản (da vàng), ôn dịch chết chôn, người người khổ vì các sự việc bại tuyệt hung hại một cách quái gở.

BẾP SỐ 7: BẾP KIỀN PHỐI VỚI CỬA KHÔN

(Đây là Bếp Diên niên đăng diện. ở Kinh Dịch là Quẻ Thiên Địa Bỉ)

- Cửa Khôn Âm Thổ sanh vào Bếp Kiền Dương Kim là ngoài sanh vào trong có đủ Âm Dương chính phối làm thành Bếp Diên niên đăng diện thật là một cái bếp tốt kể chẳng cùng: trong gia đình người trên kẻ dưới đều thuận hòa và nhân nghĩa, sản nghiệp phong phú, nhân khẩu thêm đông, lục súc càng thịnh vượng… Nhà có được cái Bếp này, ở tới 4 hay 5 năm thì phát lớn gặp các năm Tỹ Dậu Sửu tất ứng hiện điềm tốt lành. (Bởi Diên niên Kim gặp Tỹ Dậu Sửu là Kim cục thì vượng khí. Và loại Kim như Diên niên và Kiền Đoài đều ứng vào số 4, còn loại Thổ như Cấn Khôn ứng vào số 5).

- Lại còn thêm lời đoán như vầy: Diên niên tức thị Vũ khúc Kim tinh đối với Kiền Kim vượng khí (tỷ hòa), đối với Khôn Thổ là tướng khí (tương sanh). Vượng khí thì thi đỗ, thăng quan, văn tài xuất chúng. Tướng khí thì thêm tiền của, giàu có muôn xe. Đây là một cái Bếp tốt xuất sắc, mọi sự vui mừng, cha mẹ song thọ hưởng phúc lành, con gái anh thư hiền thục, trai hào kiệt có thế lực vang danh, mười năm đèn sách nên văn hiến sánh bậc đại phu, khí lành (thụy khí) đón cửa, trăm điều ưng bụng, phú quí vinh hoa bốn bề đồn rân.

BẾP SỐ 8: BẾP KIỀN PHỐI VỚI CỬA ĐOÀI

(ở Bát trạch là bếp Sinh khí thất vị. ở Kinh Dịch là Quẻ Thiên Trạch Lý).

- Bếp Kiền phối với Cửa Đoài là hai Kim tỷ hòa sanh ra vượng khí: tiền bạc chật rương, ngũ cốc đầy kho lẫm, con cháu thông minh mẫn tuệ, phụ nữ mỹ lệ, lắm vợ mê hầu, hầu thiếp sanh nhiều con.

- Lại còn lời đoán theo quẻ Lý như vầy: Quẻ Thiên Trạch Lý, giàu sang, có thế lực mạnh mẽ, sanh 5 con vẻ vang (Sinh khí thuộc Mộc ứng với số 5). Nhưng tổn hại vợ cả mà yêu mê vợ thứ, chỉ vì cha ông phối hợp gái tơ (Kiền thuộc cha và ông lão, Đoài thuộc thiếu nữ).

BẾP SỐ 9: BẾP KHẢM PHỐI VỚI CỬA KHẢM

(ở Bát trạch là bếp Phục vị đắc vị. ở Kinh Dịch là quẻ Bát Thuần Kiền).

- Bếp Khảm phối Cửa Khảm, hai Thủy tỷ hòa thừa Phục vị Mộc lâm Khảm Thủy tương sanh đắc vị. Cho nên: tiền tài rất phúc hậu, sản nghiệp hưng long. Đó là sơ niên rất tốt như vậy, thuận lợi như vậy. Nhưng vì hai Khảm thuần Dương thiếu Âm tất nam nữ đoản thọ, về sau lâu số nhân đinh thưa bớt dần dần, những bệnh sẽ xảy đến là sưng phù da thịt, bệnh thủy trướng, sa thai (lọt con), bạch đái, sán khí (sưng dái), băng lậu.

- Lại còn lời đoán cho quẻ KHảM như vầy: Quẻ Bát Thuần Khảm, 9 năm lợi lộc, bọn trung nam kiêu ngạo, khoe khoang, hoang dâm, phóng đãng, làm tổn hại vợ con.

BẾP SỐ 10: BẾP KHẢM PHỐI VỚI CỬA CẤN

(ở Bát trạch là Bếp Ngũ quỷ – đại hung. ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Sơn Kiển).

- Cửa cấn khắc Bếp Khảm là ngoài khắc vào trong rất hại cho nên trong, trung nam bệnh chết (Khảm thuộc trung nam). Lại là Bếp Ngũ quỷ nguy hại hơn các Bếp hung khác, tiểu nhi thọ thương vì ngực bụng tích chứa hòn cục, huynh đệ phân cách, vợ chồng ly dị, sanh đẻ nguy, kinh nguyệt bế tắc, thắt cổ trầm sông, tai nạn phỏng cháy, trộm cướp, quan pháp nhiễu nhương).

- Lại còn lời đoán về quẻ Kiển như vầy: Than ôi quẻ Kiển: nào là bệnh phù thũng (da thịt sưng phù lên), bệnh da vàng bạch, nào là bệnh trĩ, bệnh điên cuồng, nào là điếc lác, ngọng nghịu… Thương thay cho gia bại nhân vong, thân mạng trôi giạt khốn cùng.

BẾP SỐ 11: BẾP KHẢM PHỐI VỚI CỬA CHẤN

(Đây là Bếp Thiên y thất vị. ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Lôi Truân).

- Bếp Khảm phối Cửa Chấn được cách Thủy Mộc tương sanh và là Bếp Thiên y, cái Bếp phú quí cực phẩm (đẳng cấp cao). Sơ niên sanh 3 con, gia đình hòa thuận, phước lộc thịnh phát, vẻ vang. Nhưng bởi Khảm với Chấn thuần Dương tất làm bất lợi cho âm, về lâu sau phụ nữ chết sớm, số nhân khẩu chẳng thêm.

- Lại còn lời Đoán theo quẻ Truân như vầy: Quẻ Truân định chắc làm phú ông (nhà giàu), con cháu tài trí hơn người: khoa cử đỗ đầu, chiếm giải Trạng nguyên, được vua yêu mến và ban ân. Phước tự Trời cho, sanh 3 con trai.

BẾP SỐ 12: BẾP KHẢM PHỐI VỚI CỬA TỐN

(Đây là Bếp Sinh khí đắc vị. Nơi Kinh Dịch là quẻ Thủy Phong Tĩnh).

- Bếp Khảm Dương Thủy phối Cửa Tốn Âm Mộc được cách Âm Dương Thủy Mộc tương sanh và là Bếp Sinh khí đắc vị tức thị Tham lang Mộc tinh được ngôi, cho nên: sanh 5 trai anh hùng, ruộng nương cùng tiền của đều phong thịnh, khoa cử đậu liên tiếp, nam thông minh nữ tuấn tú, con hiếu cháu hiền, lục súc hưng vượng… Thật là một cái Bếp đại kiết vậy. Lại còn lời đoán theo quẻ Tỉnh như vầy: Quẻ Tỉnh, cây gặp nước, Âm Dương phối hợp, con cháu rất hưng long, ruộng nương cùng dâu tằm đều thêm lợi ích, đã giàu có lại sang trọng, nhân đinh ngày thêm đông.

BẾP SỐ 13: BẾP KHẢM PHỐI VỚI CỬA LY

(Đây là Bếp Diên niên đắc vị. ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Hỏa Ký tế).

- Bếp Khảm hiệp với Cửa Ly, Âm Dương chính phối, là được Bếp Diên niên đắc vị, tức thị Vũ khúc Kim tinh đặng ngôi cho nên: phú quí song toàn, nhân đinh càng thêm rất đông. Nhưng vì Khảm Thủy khắc Ly Hỏa mà về sau lâu trung nữ đoản thọ, sanh ra bệnh đau tim đau mắt (Bởi Ly bị khắc và Ly thuộc trung nữ, thuộc tim, mắt).

- Lại còn lời đoán theo Quẻ Ký tế như vầy: Quẻ Ký tế, có thành chớ không có bại. Tuy tương khắc mà Âm Dương cải phối, Trời cho thịnh vượng gia tài, nam nữ đều có phước và trường thọ. Bất quá là buồn sầu vì mắt bị bệnh tật vậy thôi, nhưng ở nhằm hung trạch có thể mắt bị mù. (Chú ý: Trên nói trung nữ đoản thọ vì Ly bị khắc, với lại nói nam nữ đều trường thọ vì Diên niên có nghịa là sống lâu ảnh hưởng cho cả Khảm Ly. Hãy suy luận và rút kinh nghiệm.

BẾP SỐ 14: BẾP KHẢM PHỐI VỚI CỬA KHÔN

(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. ở Kinh Dịch là Quẻ Thủy Địa Tỷ).

- Cửa Khôn khắc Bếp Khảm là ngoài khắc vào trong, tai họa nặng và đến mau. Lại là Bếp Tuyệt mệnh rất dữ; gây hại cho hàng trung nam (Khảm bị khắc). Sanh nhiều chứng bệnh như: phong cuồng, điếc lác, câm ngọng, bệnh phù thũng, da vàng, thủy trướng, cổ họng nghẹt hơi, kinh nguyệt phụ nữ chẳng thông hoạt, các chứng hư lao.

- Lại có lời đoán theo Quẻ Tỷ như vầy: Quẻ Tỷ, dâm dương, lọt thai, nhân mạng tự ải (treo cổ), trầm sông, đâm chém, phá tán tiền của, các họa hoạn đến cấp kỳ. Bất quá sanh được một con là may.

BẾP SỐ 15: BẾP KHẢM PHỐI VỚI CỬA ĐOÀI

(Đây là Bếp Họa hại – hung. ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Trạch Tiết).

- Bếp Khảm bị Cửa Đoài làm hao tán khí lực cho nên sự tổn hại ứng vào hạng trung nam. Bếp Khảm Thủy thừa Họa hại Thổ là hung tinh khắc cung, con cháu lâm cảnh bại tuyệt, sanh non hoặc thai bằng, các bệnh thũng, cổ trướng, di tinh, thổ huyết.

- Lại có lời đoán theo quẻ Tiết như vầy: Quẻ Tiết sanh ma chướng độc hại người, tán tài, kiện tụng, bị trộm cướp, những vụ hẹn hò dâm bôn, trốn chạy.

BẾP SỐ 16: BẾP KHẢM PHỐI VỚI CỬA KIỀN

(Đây là Bếp Lục sát – hung. ở Kinh Dịch là quẻ Thủy Thiên Nhu).

- Bếp Khảm Thủy thừa Lục sát cũng Thủy; Thủy nhiều tất ưa dâm. Lại còn thêm có Cửa Kiền Kim tiếp sanh Thủy nữa là quá độ, khiến cho cha ông (Kiền) vì khô tinh kiệt sức mà chết, trung tử là hàng con giữa (Khảm) vì vụ dâm mà chạy trốn, phụ nữ đoản thọ, sanh non, băng huyết, bệnh thủy trướng, phù thũng, mộng tinh, tà dâm, trong nhà bấn loạn và ô trọc.

- Lại có lời đoán theo quẻ Nhu như vầy: Quẻ Nhu, tiểu nhi khó nuôi, con cháu ngỗ nghịch mà ngu ngoan (vô trí thức), trai thì ở vậy (không lấy vợ) phụ nữ thì góa bụa cam chịu cô tẻ lạnh lùng… Lại Khảm với Kiền thuần Dương tất hại Âm, sanh tật bệnh và nhiều điều bất lợi.

BẾP SỐ 17: BẾP CẤN PHỐI VỚI CỬA CẤN

(Đây là Bếp Phục vị Mộc thất vị. ở Kinh Dịch là quẻ bát thuần Cấn).

- Bếp Cấn phối Cửa Cấn là hai Thổ chồng chất lên thành núi, sơ niên cũng được thuận lợi, khá giả. Song vì thuần Dương thừa Phục vị Mộc thất vị (Phục vị với Cấn tương khắc), sanh lắm tật, trẻ con mạng sống không toàn, phụ nữ đoản thọ. Về sau lâu về vụ ăn uống mà sanh bệnh thũng da vàng, bụng bành trướng to lên, lòng không vui.

- Lại còn lời đoán theo quẻ Cấn như vầy: Quẻ Bát thuần Cấn, tiền tài tấn tới thêm, người khác họ hoặc con nuôi ở chung nhà. Dương thắng Âm phải suy cho nên âm nhân tật bệnh, bất lợi.

BẾP SỐ 18: BẾP CẤN PHỐI VỚI CỬA CHẤN

(Đây là Bếp Lục sát – hung táo. ở Kinh Dịch là quẻ Sơn Lôi Di).

- Cửa Chấn Mộc khắc vào Bếp Cấn Thổ là ngoài khắc vào trong, tai họa đến cấp kỳ, lại thừa Lục sát là hung táo, khiến cho trẻ con chẳng an, sanh bì tật (ngực bụng chứa vật) lá lách hư, bao tử lạnh, trụy thai, vợ con bị tổn hại. Và vì thuần Dương chẳng trưởng tấn, lâu năm tuyệt tự, khốn cùng. - Lại còn lời đoán theo quẻ Di như vầy: Quẻ Di, không giữ gìn được gia thất, sanh ra những chuyện khoét tường dòm ngõ, phân cách, chia ly… Lại bệnh vàng da, do ăn uống mà đau tỳ vị thường không khỏi chết. Phá bại sản nghiệp và chẳng có con trai nối dòng là hai điều không tránh được.

BẾP SỐ 19: BẾP CẤN PHỐI VỚI CỬA TỐN

(Đây là Bếp Tuyệt mệnh – đại hung. ở Kinh Dịch là Quẻ Sơn Phong Cồ).

- Cửa Tốn Âm Mộc khắc Bếp Cấn Dương Thổ là từ ngoài khắc vào trong và là Âm khắc Dương: chồng và con trai bị tổn hại nặng. Lại là Bếp Tuyệt mệnh rất hung và bởi Âm thắng Dương cho nên đàn bà góa nắm quyền, con nuôi chưởng quản gia đình, về sau lâu ắt sẽ có tới ba đời hoặc ba người tuyệt tự. Mộc với Thổ tương khắc nên sanh ra các chứng bệnh kinh phong, tê bại, bệnh lá lách, phù thũng, da vàng.

- Lại còn lời đoán cho quẻ Cồ như vầy: Quẻ Cồ, tiểu nhi bất hòa, phụ nữ gầy xấu tổn thương, tuyệt tự, phá gia, tai ương bất ngờ không biết từ đâu đến (ngoài khắc trong).

BẾP SỐ 20: BẾP CẤN PHỐI VỚI CỬA LY

(Đây là bếp Họa hại – hung táo. ở Kinh Dịch là quẻ Sơn Hỏa Bí).

- Cửa Ly thuộc Hỏa, Bếp Cấn thuộc Thổ, lửa nóng đốt đất phải khô rồi lửa sẽ tàn rụi. Phụ nữ tánh cương bao làm khiếp sợ nam nhân. Trước tổn hại thiếu nam (Cấn), sau tổn hại trung nữ (Ly). Phụ nữ lộng quyền, con cháu vì vụ dâm bôn mà trốn tránh, tiểu nhi mang bì tật (bụng ngực chứa hòn cục), mắt mờ tai điếc, ngọng nghịu, phong cùi, tàn tật, bệnh lao. Lại xảy ra các việc tà ma, lừa phỉnh, sự hại đến bất ngờ. Tuy cũng có chút ít gia tài mà vợ chồng sai trái nhau, không cùng quan niệm.

- Chú ý: Bếp Cấn với Cửa Ly tương sanh nhưng tại sao lại luận đoán rất nhiều tổn hại như trên? Đó là bởi tương sanh nhưng biến sinh Họa hại là hung du niên. Nhưng Khôn với Ly hay Kiền với Khảm cũng tương sanh nhưng vì sinh biến ra Lục sát là hung du niên tất vẫn gây tai họa. Trái lại là Ly với Khảm tương khắc nhưng biến sinh ra Diên niên là kiết du niên cho nên vẫn luận tốt).

- Lại còn lời đoán theo quẻ Bí như vầy: Quẻ Bí, người chia ly, tiền của tiêu tán. Nữ nhân trôi giạt tha phương làm các việc thối tha, bị đồn dậy lên tiếng xấu, trong 8 năm sẽ chết hoặc trốn đi biệt tích. Hai hạng tôn ti (cáo thấp) và lớn nhỏ không chịu đựng nổi với nhau mà sanh rối loạn trong gia đình.

Mời xem các bài khác:

  1. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (1)
  2. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (2)
  3. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (3)
  4. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (4)
  5. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (5)
  6. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (6)
  7. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (7)
  8. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (8)
  9. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (9)
  10. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (10)
  11. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (11)
  12. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (12)
  13. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (13)
  14. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (14)
  15. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (15)
  16. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (16)
  17. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (17)
  18. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (18)
  19. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (19)
  20. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (20)
  21. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (21)
  22. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (22)
  23. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (23)
  24. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (24)
  25. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (25)
  26. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (26)
  27. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (27)
  28. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (28)
  29. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (29)
  30. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (30)
  31. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (31)
  32. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (32)
  33. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (33)
  34. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (34)
  35. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (35)
  36. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (36)
  37. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (37)
  38. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (38)
  39. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (39)
  40. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (40)
  41. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (41)
  42. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (42)
  43. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (43)
  44. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (44)
  45. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (45)
  46. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (46)
  47. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (47)
  48. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (48)
  49. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (49)
  50. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (50)
  51. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (51)
  52. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (52)
  53. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (53)
  54. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (54)
  55. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (55)
  56. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (56)
  57. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (57)
  58. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (58)
  59. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (59)
  60. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (60)
  61. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (61)
  62. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (62)
  63. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (63)
  64. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm (64)
  65. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm: Sự ứng nghiệm họa phúc của 64 kiểu bếp (2)
  66. Dương trạch tam yếu: Thiên VII - Ứng Nghiệm: Sự ứng nghiệm họa phúc của 64 kiểu bếp (3)