Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Tốn thủy hợp cục

Thứ ba 06/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Việt Hải

Huynh đệ liên phương nhập Hàn uyên,
Hỷ khán dương toàn, hữu song phong ( 2  núi nhọn).
Mão, Canh nhị long, Tốn sa khởi,
Kinh lược chi sĩ, trấn uy phong.
Tốn vi trưởng nữ thủy triều nhập,
Trinh tiết nữ nhi, mỹ mạo nông ( đẹp nồng hậu).
Hoặc nhân nữ gia, chí tài phú ( vì vợ mà giàu)
Hoặc nhân thê quý đắc ân vinh ( vì vợ được sang).
Nhược thị Nga mi sơn tại Tốn,
Cung phi, phụ mã lưỡng tương phùng.
Tốn, Bính, Đinh hiệu: tam dương thủy,
Triều lai, hỷ quý, Kim dương trung ( con dê vàng; là núi)
Đông Mão, Tây Canh, giai Quỷ vị ( quẻ quan quỷ).
Nghĩa môn, thọ khảo, phước vô cùng,
Tốn thủy, long, ngộ thiếu nam mạch ( cấn vị)
Thọ toán giảm hề, phước phong long ( thịnh vượng)
Tam dương thủy triều, nhập Canh, Chấn ( Mão)
Khai phủ, lập ấp, vị tam công ( quan lớn)
Cánh xuất Tiên ông dữ Phật tử
Bồng lai, tiên cảnh thiệu phàm phong"
( Vượt cả trần thế tục, cõi phàm nhân)

Tốn thủy phá cục:

"Tốn thủy phá cục đa khất cái ( đi ăn mày)
Bão hoa sơn, kiến, triệu dâm phong ( làm gái điếm).
Thứ hoặ sơn sa, thủy tà trách,
Thất nữ, ( con gái) hoài thai, hiếu tư thông.
Tốn, Tỵ song triều, phá đường cục,
Há kham Tốn thương, khởi cao phong.
Hương khúc hữu nữ, nhan như ngọc,
Trụy thai điếm ố, xuẩn phong dong."

Xét đại khái: Tốn, Tỵ tương kiêm, như bắt Tỵ vị sinh khí, Tốn vi vượng khí, tắc nam vi Phụ mã. Nhược bắt Tỵ vi   vượng khí, Tốn vi tiết khí, Tắc nữ tác cung phi.
Như mộ nhà họ Vương: Hợi long, Bính hướng, kiêm Tỵ, hợi tam phân ( 3 phân) có Tốn thủy lai, đem La kinh chiếu ( ở nội bản) thì Bên Tả  không kiêm tỵ, bên hữu không tạp ( lẫn) Thìn.
Hợi long, Bính hướng thì là rất tốt, lợi lắm. Nhưng có biết đâu là: Bính kiêm Tỵ ba phân lấy hướng khắc thủy, lại bị phạm lãnh thoái chi bệnh.

Tân thủy hợp cục:

"Tân thủy tối tú, tư ( giữ về việc) văn chương,
Trạng nguyên, khôi thủ, tính danh dương.
Tốn long niên thiếu đăng khoa giáp,
Hàn lâm, học sĩ, cận long quang đền rồng.
Cánh hữu như hoa nữ nhân mạo ( mặt),
Gia đa Kim bạch, châu thúy hương.
Cấn, Mão, Hợi long, kiến thử xứ ( thấy phương Tốn),
Thủy minh, sa tú nhập Minh đường.
Á bảng minh kinh, nhân tranh tiễn,
Âm long, âm thủy, thích ( đến) tương đương.
Hợi sơn nhất trượng ( cao một trượng) khả chí phú,
Tân sơn thập hướng ( 10 trượng) phú kham thương.
Tuy nhiên kim bạch khoa ( khoe) phú túc,
Quá phòng dị tính chân nan dưỡng."

Nghĩa là: Tuy khoe khoang là giàu có, nhưng nhiều con, khác họ tức là con hoang, hoặc con ngoại, thật là khó nuôi đâu có được toàn hảo.

Tân thủy phá cục:
Phá cục, bất giác gia lãnh thoái ( suy đốn)
Vi cái ( ăn xin) vô cứu ( không người cứu) chí tuyệt mạng.

Phúc đoạn: Xưa có ngôi đất, hình Ngũ mã bôn đảo, ở huyện Phân thủy (trung hoa) Lại thái Tổ để cho họ Hồ, là họ nhà vợ của Tần Cối, vì vậy Tần cối nuôi đứa cháu gái nuôi ấy, đỗ trạng nguyên là do đất ấy là Khảm long, Nhâm sơn, Bính hướng Tốn thượng cao phong, rồi lấy Khảm long nhất biến vi tốn, Tốn phong vi Tham lang cát tú giã. Đấy là một cái kinh nghiệm.
Lại còn một ngôi Bính long nhập thủ, đặt bọn bần hướng Thân, đối ngay vào ngọn tháp núi Tinh sơn, có một nhà thuất sĩ tới huyệt nói: Đáng tiếc! Vì có một ngọn văn bút ở Khôn Thân! Người cũng được đọc kinh Ngọc xích rõ rệt rồi chứ?
Đấy nói: Phát văn thì bút ở Tốn, Khôn Thân là bút từ tụng ( thưa kiện).
Đem hai cái long: Khảm, Khôn mà nói: Khôn long nhập thủ, nhất biến thượng hào của quẻ Khôn là Cấn, Cấn vi Tham lang, Tốn Tân vi Cự môn, Thân vi Phá quân.
Khảm long nhập thủ; nhất biến Khảm thượng hào vi Tốn, Tắc Tân Tốn vi Tham lang, Cấn vi Cự môn, Khôn vi Phá quân. Tham, Cự, thì cát, Phú quân thì hung, cát thì làm văn bút, hung thì làm tụng bút! Cớ vậy.
Nay lấy ngôi đất Bính long nhập thủ: Cấn quái nhất biến Khôn vi tham lang, Tái thứ biến Khảm vi Cự môn, Thân nạp vu Khảm, chính Ngọc xích Kinh bảo là: Cự môn là cát phương tức thị Văn bút cớ vậy. Nhưng trong phép ai tính, hễ ai được vượng thần, thì chỉ được phát tài giàu có thôi. Còn như Văn bút, tụng bút thì ở trong 24 phương vị đều có định rõ cả. Tiên hiền chỉ đem một cái Khảm và một cái Khôn để bàn thôi, muốn người ta lấy đấy mà suy ra cái khác.

Cấn thủy hợp cục:

"Tham lang sinh khí Cấn thủy viên ( là cục)
Cấn, Bính thiếu nam ( trai thứ 3) tinh bất phàm.
Cấn thủy hợp cục Thiên thị tú ( sao Thiên thị)
Thế nhân tài bảo ( của báu) tự kỳ gian ( khoảng).
Nhược kiến sa hình trù quỷ dạng ( hình sương khố)
Du dương thủy nhập, hướng phần tiền ( trước mộ)
Xuất sĩ quan tư, ký ( đã) nhiêu hậu ( nhiều lắm)
Phú kham dịch quốc, phi đẳng nhân ( không phải thường)
Sa như đê tiểu, thủy tính đoản ( ngắn hẹp)
Diệc chủ bảo loãn ( no ấm) lạn hòa, tiền ( tiền lúa để nát)
Bính long, ngộ thử sa, thủy tú
Hoàng giáp thanh danh dương thế truyền
Tam thai tủng tú, thủy ngưng tụ
Dữ Quốc vi nhân, lộc miên miên."
(Thông gia với nhà vua, nhiều lộc lâu dài)

Cấn thủy phá cục:

"Cấn thủy phá cục đa lãnh thoái ( suy bại)
Diệc chủ tuyệt diệt, tự bất điên ( ngàn đời)
Tuy hữu văn chương bất hiển đạt
Thử phương khuyết hãm, phong bất toàn! ( xấu)."

Bính thủy hợp cục
"Bính thủy hợp cục đa phú thọ,
Phạm tội chi gia, dụng thử cứu ( nước Bính cứu tội)
Bính, Đinh: Sá văn, sơn, thủy triều
Hoàng ân hạo hạo thao nguyên hựu ( ơn vua rộng lắm)
Cấn long, Bính thủy, khả thôi quan ( nước quý)
Nạp giáp chi lý, nghi tham thấu.
Phàm địa phi sa, quý nan cầu,
Bát cá quy nguyên, thủy tối tú.
Sa hình án hốt xuất Công khanh,
Khố, quý chi hình phú hào dụ ( phúc hậu)
Mão, Tân, Hợi long, thực nghiệm chi
Diệc nghi thủy triều, như phúc thấu ( tụ họp)"
Quy nguyên, là thủy nạp giáp, có thể gọi Thôi quan lực ( sức mạnh rất hay) cũng như sa quý, triều bão huyệt.

Bính thủy phá cục
"Phá cục bại gia; hoặc hỏa thiêu
Phế nghi bất khởi đa tai cửu.
Thủy lộ Bính, Ngọ, tịnh lưu lai,
Dần, Ngọ, Tuất niên họa nan cứu."
Bính thủy mà phá cục thì tai họa dữ dội lắm. Nên bảo nóng như bỏng cháo sôi trong nồi vạc.
Xét xem cái ngôi dương cơ của nhà họ Dư đời xưa, ở trung hoa, Tiên hiền đã kinh nghiệm:
Hợi long nhập thủ, thừa được Cấn khí, kết một cái hình Thái âm tinh loan đầu, đặt tọa Nhâm hướng Bính, kiêm Tỵ Hợi tam phân, ở phía bên hữu, đón cái thủy ở phương Tân, hợp với cái đại khê ( lạch nước lớn), lại được cả Bính thủy triều chảy về phương Mão, xuất khẩu khứ, trên phương Tốn có sơn sa hình tròn như Thái âm tinh, tác án triều, bên thanh long loan bão, thu tận nguyên đầu thủy, đằng sau lưng về phương Kiền lại có phong khí cao hơn trăm trượng ( một trượng ta là 4 thước tây) ở phương Mão, Ngọ là có Vượng phong tròn trĩnh khởi cao.
Thấy năm con trai, ngành nào cũng đinh tài đại vượng. Ngành thứ hai ( con thứ) đầu tiên phát võ khoa, sao 20 năm, về tiền tài sút kém, nhưng nhân đinh có mấy trăm hơn, về con thứ ba thịnh vượng nhất cả. Vì long hành Cấn khí, Cấn vị thuộc về tam nam ( con thứ ba), nên đến năm Bính Thân sinh người, năm Mậu Thìn thì phát khoa ( Đậu thi) đến năm Bính Tuất được vời đến bổ nhiệm. Thấy Cấn long, thừa nạp Bính thủy là Thôi quan thu thủy chứng ứng, linh nghiệm như vậy.

Dậu thủy hợp cục:
"Vũ khúc hiệu vi Thiếu nữ tú ( Sao thuộc con gái thứ 3 -4 -5-6-7)
Đoài, Đinh, Tỵ, Sửu, kim quang thấu.
Dậu thủy hợp cục, nhã nhi thanh,
Ngư ( cá) Đại ( đồi mồi) sa sinh đăng chiếu hữu.
Dậu sa, Dậu thủy, Tốn cao phong,
Quý cận Quân vương, y cẩm tú
( áo gấm, vóc hoa đẹp)
Đoài, Đinh nhị long, xuất văn quan.
Duy hữu sơn triểu kiêm thủy tú."

Đất nhà họ Lại: Đinh long nhập thủ, thừa Mão khí kết huyệt, Thái âm tinh loan đầu, đặt huyệt tọa Mão, hướng Dậu, Dậu thủy nghịch triều, theo về phương Hợi khứ khẩu xuất. Hướng trông thẳng vào đỉnh ngọn núi như đầu con hạc ở phưng Dậu, cao chừng mấy trăm trượng hơn, xa độ mấy dặm, ở gần long thân có hình Thiên mã sơn ở phương Tuất, rất tú lệ, ở phương Tốn có sơn đoan hậu củng triều, thực là Đinh long, Dậu thủy quy nguyên nạp giáp, có thể gọi là thôi quan hợp cách, đặt táng sau một thế kỷ, đinh tài đại vượng, và nhiều huynh, đệ đồng khoa. Đấy là bởi có Thiên mã là nô sa ở phương Tuất, liền gần ứng vào mộ. Về sau phòng thứ 3 đại phát văn khoa, là ở phương Dậu có sơn sa vượng khởi, vì ở xa, nên ứng chậm như vậy.

Dậu thủy phá cục:
"Phá cục, dâm loạn bất kham ngôn,
Tốn long, Dậu thủy sát tương đấu.
Vô thủy, hữu lộ, diệc phi nghi!
Phạm pháp, tao hình, tội, hung cữu.
Tý, Ngọ, Thìn, Tuất, tứ long hướng ( 4 phương)
Thất nữ ( con gái) du tình ( chữa hoang) tùy nhân tẩu."

Nhận xét: những nước chảy triều vào sinh đường, nước chảy ra thủy khẩu phóng đi, đều lấy ở trước phần mộ, , đứng đấy, mà trông thấy, làm chủ đích. Nếu đoán về công vị ( thuộc các phòng). Thí dụ: như một ngôi, lập Tân sơn Ất hướng, có Dần thủy ở trước hướng chảy lại, Nhâm thủy tòng tả lai, ngọ thủy hữu lai hội vào minh đường, tòng tả, Tuất phương khứ, thì lấy Ngọ thuộc về Trưởng, Tuất là thứ 2, Dần là thứ 3 đều tốt lành cả, sẽ lấy đấy mà suy cái khác.

Đinh thủy hợp cục:
"Đinh thủy hợp cục, Nam cực tinh,
Nam, nữ khang ninh tối đa thọ. 
Bình thủy, Đinh thủy danh: Sá – văn,
Gia vô hung họa, phước tần hựu ( lần đến)
Xạ xách kim môn đệ nhất lưu;
Dậu long, Đinh phương, sa thủy tú,
Cấn long, Đinh phong, thủy đặc triều.
Vương, Hầu huyết thực, ngôn phi mậu."

Đinh thủy phá cục:
"Đinh thủy phá cục đa phúc thống ( nhiều bị đau)
Thoái bại chi thời, vô khả cứu."
Thủy pháp thì lấy Tốn, Bính, Đinh: làm tam dương, sa pháp thì lấy Bính, Ngọ, Đinh; tam hỏa tề huy ( sáng đều nhau) vi tam dương. Tất cả Sa, đục, hễ thấy ở phương Đinh thì không nên thấy ở phương Tốn; hễ thấy ở phương Tốn thì không nên có ở phương Đinh, vì kỵ sát.

Tỵ thủy hợp cục
"Tỵ thủy hợp cục vượng đinh tài,
Mão long hỷ kiến thử thủy lai ( nước ở Tỵ lại)"

Tỵ nạp vu Đoài, thử tức Hậu thiên hợp thập, phu pháp chi pháp giã.
"Sích xà nhiễu ân, bội kim chương,
Cấn, Hợi nhị long, thực kham tài ( nên làm)"

Tỵ thủy phá cục
"Phá cục thổ huyệt dữ lao tễ;
Thiếu niên đa tổn, kiến xà tai ( nạn rắn cắn)
Dậu long, Tỵ thủy, hoặc phong xạ ( gió bắn vào)
Sát thân táng giã, hình ngục mai ( chồn)"

Nhận xét: Bát sát phương, chẳng những sợ một thủy lộ, còn sợ cả khuyết hãm không khoáng, gió thổi vào huyệt nữa.
"Sửu long, Tỵ thủy, đa sát mậu ( bị giết)
Lý hiệp kim kê, phạ xà hại.
Tỵ hướng, Tốn thủy đa lãnh thoái ( suy bại)
Tốn hướng, Tỵ thủy, nhập khẩu tai ( họa ở miệng)
Sơn hướng khắc thủy, họa khinh hoãn ( nhẹ, chậm)
Thủy khắc hướng, trọng họa tốc lai ( họa đến mau)
Tốn, Tỵ song lưu, thủy khắc thủy
Hà năng nhất thước ( gáo) cứu bần tai ( vậy thay)!
Canh thân, Ất, Mão, đồng Tân, Dậu
Cấn, Dần, Nhâm, Hợi nhất lệ bài ( một thể lệ cả)"
Nói về lý sát, mọi cái, tức là Đoài, Tốn chẳng nên thấy nhau. Ở trên đây là 6 cái nước thường thường là phạm bát sát vậy đem cái thủy pháp chân quyết, hợp với địa bàn, ra đây, để cứu cho người si manh.
Tỵ, Hợi đều thuộc về phương Trường sinh,Tỵ là địa hộ ( cửa ngõ của đất) rất nên mở. Tốn thuộc Tỵ, Tỵ thuộc Tốn, nên nói như vậy.
"Âm long thủy khẩu, tỵ oa tắc ( tắc là bị lấp)
Phụ nhân bất dựng tuyệt anh hài!"

Nghĩa là: Âm long thủy khẩu, mà bị cái sa ở Tỵ phương lấp kín thì đàn bà không có thai, bị tuyệt thai ( trẻ còn nhỏ chưa thành người, gọi là Anh hài)
"Dương long Tỵ khẩu, viên đốn khởi,
Tuy nhiên hài dựng, giã trụy thai."

Nghĩa là: Dương long, mà thủy khẩu ở phương Tỵ, lại có gò tròn khởi lên ở đấy, thì tuy rằng có thai (  có bầu) nhưng bị sẩy ( rớt mất) tức là đẻ non.

Sửu thủy hợp cục:
"Sửu thủy hợp cục, vượng điền trang,
Sản tức ngưu, dương, mục mãn đường.
Xuất nhân sùng tín âm cầu Phật, 
Mão long, Sửu thủy, trấn triều cương.
Cấn long, văn, võ, song mư, sĩ.
Bính, Canh nhị long phát văn chương,
Đoài long nhược kiến, Sửu thủy nhập.
Khoa mục thanh danh, đương thế dương
Mùi long, Sửu thủy tín Phật đạo,
Sửu long, Mùi thủy phát ngưu, dương"
( nhiều trâu, tức là giàu có)

Sửu thủy phá cục:
"Sửu thủy phá cục đa yểu triết ( chết non)
Quan ( góa vợ), Quả ( góa chồng), tăng, ni, đạo, bất lư
Thìn, Tuất nhị long, Sửu thủy nhập
Phiên quan, phúc quách, nhân tao ương ( gặp họa)
Hoành nghịch, ác tử ( chết khổ) da lại tật
Sát mậu, công sự, họa phi thường ( họa to)
Tốn hướng Sửu thủy, nhập chủng, trạch ( mộ, nhà ở).
Nghiệt ( ác) đồng Tỵ, Dậu hung nan dương
Tứ mộ ( mộ khố) Ngư đại ( túi cá) phi vi cát
Lộ tử giang thi ( chết xiềng thây) khốc nhất trừ
Kiền, Khôn nhị long, kiến thử xử ( chỗ Sửu phương)
Tiêm đao ( đao nhọn) Sa xuất, đồ khoái lang.
Thủy pháp ca biên: trấp tứ hướng ( 24 hướng)
Bát can, tứ duy ( Kiền, Khôn, Cấn, Tốn) thập nhị
Thôi quan hữu chí ( phép hay) vô ca quyết.
Hữu chí, vô ca, cố biến chí."

Quyết vân:
"Cát tinh thất vị ( mất ngôi) giã sinh họa,
Hung tinh đắc vị ( được ngôi) hữu cát thần
Kỳ trung cánh luận tiêu sa pháp
Cao, đê, trung đẳng, phân tam tứ.
Sa cao phước hậu, đê lực bạc.
Viễn sa tuy hảo, phát đa trì ( chậm, lâu)
Học giả thử ca ( bài ca này) năng thục độc
Chân quyết ngộ lai ( nhớ lại) như diện sư."

Giải nghĩa: Phép xem về nước tốt, nước xấu, ở trong vị, đặt ra thi ca, để cho dễ đọc, dễ nhớ.
- Bát can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Quý, và thêm tứ duy: Kiền, Khôn, Cấn, Tốn, gọi là 12 vị thiên can, hợp với 12 địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, cộng là 24 phương vị, gọi là Nhị thập tứ sơn, hay là Nhị thập tứ hướng, vẫn là một ý.
- Cách Thôi quan thì có và tất hay. Nhưng không có bài ca.
- Vì không có bài ca, nên phải kể biên ra những cách gọi là Thôi quan, để cho biết.
- Cát tinh mà không hợp chỗ, cũng sinh tai họa.
- Hung tinh mà gặp chỗ hợp của hung tinh thì cũng phát phước.
- Những câu ca, ở trong đó là luận về phép tiêu sa.
- Phân ra ba bậc là cao, đê, trung bình – Sa cao thì phước lực đầy – Sa thấp thì lực lượng mỏng.
- Sa ở ngoài xa, tuy tốt, nhưng chậm phát phước
- Học giả nên đọc kỹ những bài ca ấy.
- Nhớ lấy những cách hay, cách dở, ở trong chân quuyết biên trên, tức là như thấy chỉ dẫn ở trước mặt.
Xét xem Thủy pháp kể trên 24 cách hợp cục – 24 cách phá cục, cộng thành 48 ( bốn mươi tám) cách cục, cục tức là hướng.

Tóm lại: Đều theo thủy lộ mà lập hướng, thủy là âm triều vào, thì lập huyệt âm ( âm hướng); thủy là đương triều, thì lập Dương hướng, là hợp cục. Nếu Dương Thủy, mà lập âm hướng, hoặ âm thủy mà lập dương hướng, cũng đều là phá cục cả.
Tóm lại là: lấy tịnh âm, tịnh dương làm chủ yếu, phép này là chí lý lắm.
Phép này nói ở chỗ thủy, lại nói đến long, nói ở chỗ long, lại nói đến sa, nói ở chỗ sa, lại nói đến hướng. Nếu ở chỗ long ấy, mà lại có tinh phong cao, rộng, tốt đẹp, uốn cong ôm lại, thì rất là kỳ quý. Lại nói: Âm long lai phá dương thủy, dương long lai phá âm thủy, nhưng hành long khuất khúc, tiết âm, tiết dương thì lẽ nào có tịnh âm, tịnh dương. Tức là lấy một tiết ở chỗ đáo đầu kết huyệt ấy, mà là âm vị long, thì gọi là âm long, là dương vị, thì gọi là dương long.
Tuy nói là long, nhưng thực ra, là nói hướng, lấy hướng làm long vậy, vì có chỗ không nhận rõ long nhập huyệt, chỉ lấy tọa sơn mà định là cục, thì chỉ lấy hướng thôi, hướng tức là long đó.
Nói Dương long phá Âm thủy; Âm long phá dương thủy, nhưng không phải là long, chính là hướng, vậy lấy thủy là Âm triều, thì lập âm hướng, thủy là dương triều, thì lập dương thủy là đích.
Đại ý nhứ Tý sơn, Ngọ hướng, Thân thủy lai, Thìn phương khứ, với tọa sơn: Thân Tý Thìn tam hợp, há chẳng phải là dương triều dương hướng thì sao.
Lại cũng có sát thủy, khắc long, hướng, nếu lập hướng được phải phép, thì cũng có thể tiêu đi được nhẹ.

Mời xem các phần khác:
  1. Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu
  2. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Lạc thư tử đại cục
  3. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Trâm quyết
  4. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phụ tinh thủy pháp ca ( Tăng bổ)
  5. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phụ tinh thủy pháp
  6. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Ngọc Xích kinh thuyết
  7. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bài quyết ca về Long gia trường sinh
  8. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Lập hướng bộ
  9. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bát sơn chiếu thủy kinh phiên quái quyết
  10. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bát sơn tiễn thủy kinh định cục
  11. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phiên quái quyết
  12. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Ngọc kính chính kinh Sơn, Thuỷ, Kiến, Phá định cục loạn
  13. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phiên quái quyết
  14. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Thẩm vận
  15. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Hung thủy vị danh
  16. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Cát thủy vị danh
  17. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Chú Tử
  18. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Nhị thập Tú Long lập hướng Phân - Kim - Pháp
  19. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Thế đại phận thuộc Cát - Hung