Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rở anh em thuận hoà
Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang
Hồ Chí Minh
Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phụ tinh thủy pháp ca ( Tăng bổ)
Thứ ba 06/05/2008 12:00:00 (GMT +7)
Tác giả: Việt Hải
Thể khuy âm, á, vô nhân lân ( quẻ câm không ai gần)
Đệ tứ Liêm trinh tối hung lệ!
Thất hỏa, thoái tài ôn hoàng lụy.
Ngũ quỷ phát tài, nhân thổ huyết ( mửa ra máu)
Đới Cự, đới Vũ, tam phân Liêm.
Cự phát phú hê, Vũ phát quý,
Nhược thị Liêm trinh, đơn thủy triều.
Sở trị công vị, tuyệt bất nhiêu ( các phòng đều bị)
Biệt phòng năng đắc Cự, Vũ giả.
Ngũ quỷ Tốn tài, nhạ huyết lao ( Dẫn bệnh do Lao)
Văn, Liêm nhị thủy, như tương hỗn,
Hồ mị xâm nhân, Mệnh nan đào ( khó trốn
Ngũ di phùng trước, Tham lang tinh.
Thông minh, tài phước, thả đa đinh,
Cự môn đệ lục, chi tường cát.
Y, thực, phong tục, sương khố doanh
Lộc tồn hành sự, đa cuồng vọng ( điêu càn)
Tâm tính ngoan chuân, vi đạo tăng ( tu hành)
Đệ bát Văn khúc hiếu dâm loạn,
Đổ bác, khi dâm, phong giới hạn!
Dĩ thượng Cửu tinh hợp thành bát ( 8 quái)
Mồi nhất cá tính, quản nhất quái
Quái trị cát tinh tòng cát suy ( xét xem)
Quái trị hung tinh tòng hung, thuyết ( đoán xét)
Nhị thả cát tinh, nhập dương cung
Hung tinh tiên nhập tứ âm quái ( 4 quẻ âm)
Hung tinh nhược du tứ dương thần ( 4 quẻ dương)
Cát tiện nhập âm, bất tương tạp ( không hỗn tạp)
Dụng thử, Dương Công hợp Lại Công,
Liêu Công dụng chi, biện thủy pháp
Đãn tư nhất quái, hữu sổ thủy ( vài dòng nước lẫn lộn)
Lưỡng điều, tứ điều, các nghi thanh.
Kiền nạp Giáp hề, Khôn nạp Ất,
Cấn nạp Bính hề, Tốn nạp Tân.
Đông: Chấn nạp Canh, dữ Hợi, Mùi…
Tây: Đoài nạp Đinh, Tỵ, Sửu Kim
Nhâm dữ Dần, Tuất, Ly cung nạp,
Khảm Quý, Thân, Thìn nạp thủy âm.
Dả như Ly cung Tham lang trị,
Trung hữu Dần, Tuất dữ bắc Nhâm,
Hợp đoán Tham lang cổ thị cát ( vốn là lành)
Tứ điều khởi vô phân biệt tình.
Vô thủy, hữu lộ, diệc phi nghi ( cũng chẳng phải ngờ).
Phạm tội, tao hình, duy tai cửu!
Tý, Ngọ, Thìn, Tuất long, Dậu thủy!
Thử phương như hàm, Tốn, Mão long.
Vi quan trận vong! Toàn quân phúc ( cả binh sĩ phản)
Tân, Dậu nhị thủy triều nhập hoài
Tuy phá, nan miền cổ hồn ai ( chết vợ sớm )"
Chu cục thủy hợp, thủy phá
Kiền thủy hợp cục:
Kiền là Thiên, Phụ, phương vị. Kiền và Giáp là thuần Dương. Kiền long, hướng Khôn – thân, được Kiền thủy lai, hoặc Oa phong khởi. Ngọ long, Thìn long, mà phương Kiền có nước, hay ở đống cao cũng vậy. Thìn là ngôi thứ 5 của địa chi, nguyên Kim long ở đấy. Kiền ở Tây – Bắc là Thiên môn, chẳng những phát quan, mà còn là đất phát Đế vượng, Thần tiên.
( Tôi ( tác giả) đã kinh nghiệm, thấy đất Thìn long, được Kiền sơn khởi, Kiền thủy lai, chính là lăng mộ đức thánh Trần Hưng Đạo, ở núi Vạn Kiếp, miền Bắc Việt, quả nhiên sách dạy không sai).
Kiền thủy phá cục:
Cấn, Bính, Tốn long, thấy Kiên thủy lai, Bính – Đinh – Mão – Tốn 4 long, hoặc 4 hướng này, thấy Kiền Hợi song triều, hoặc Tuất, Kiền song triều ( hai phương cùng chầu vào) cũng vậy, thì hay sinh nhiều bệnh tật như phong, lao, thổ huyết v.v…
Giáp thủy hợp cục:
Giáp thủy hay Giáp sa, gặp Kiền long thì phú quý lớn.
Giáp thủy phá cục:
Giáp khởi cao phong ( núi) hay cao phụ ( gò) đều là bất cát, hoặc Giáp long, Giáp thủy đi cùng với Mão, là âm, dương hỗ tạp thì không tốt.
Khôn thủy hợp cục:
Khôn, Ất là Thổ, là Địa mẫu quái danh là tên quẻ Phụ bật.
KIỀN, KHÔN, KHẢM, LY là hợp cục.
CHẤN, ĐOÀI, CẤN, TỐN là phá cục.
Đoán vân:
"Ất, Quý, Kiền, Ly tứ long thân,
Hỷ phùng Khôn thủy, Khôn sa triều.
Nhược dữ Thân phương, song hợp đáo,
Võ văn Nam, Nữ, đệ khoa cao."
Do Tiên thiên, thì Khôn nạp Khảm, Hậu thiên thì Khôn nạp Ất, vậy là Tiên thiên Kiền Hậu thiên.
Kiền long ngộ Khôn thủy, là Thiên địa định vị. Ất nạp về Kiền, tức là quy nguyên thủy ( gốc trước) vậy.
Khôn thủy phá cục:
Mão long, Khôn thủy, hoặc Khôn sơn, đều khắc cả. Nếu cùng Mùi thủy song nhập ( đi đôi vào) Mùi thiểu, Khôn đa, ngộ dương cục, thì phải Nam bại. Mùi nhiều, Khôn ít, là Âm cục, thì phải phái Nữ suy.
Nhưng Khôn với Thân cùng hợp, thì lại tốt vì Tiên thiên Hậu thiên hội nhất phương.
Ất thủy hợp cục:
Ất thủy ngộ ( gặp) Khôn long và Nhâm long thì quý lắm.
Do Tiên thiên, thì Nhâm nạp về Kiền, nên Kiền gặp Ất thủy là Thiên địa định vị.
Hậu thiên, Ly nạp Nhâm, sinh khí Tham lang thì rất hay.
Thìn, Ất thủy song triều đắc hiền thê, quý tử.
Ất thủy phá cục:
Ất thủy phá cục chiêu tai họa tối đa. Nếu cùng Mão thủy, là Mão thủy hỗn tạp lưu nhập thì bị khắc thê 3-4-5 phen.
Tý quý thủy hợp cục:
Quý, Tý tại Bắc phương: Khảm nạp Quý, Thân, Thìn. ( Tý, Quý, nhị thủy lai, hoặc sơn sa cao khởi, đắc Ly long nhập huyệt, thì giàu sang).
Tý quý thủy phá cục:
Tam điều: Mão, Hợi, Cấn, âm long.
Tội phạ Tý, Sửu, cộng triều phần ( triều vào mộ)
NGHĨA LÀ: Ba phương Hợi, Mão, Cấn là Âm long, nếu Tý và Sửu thủy triều về phần mộ, thì rất sợ. Vì là dương thủy phá cục, thì xấu lắm. Nhâm, Tý, Quý long hoặc Thủy, thường sinh ra người 6 ngón tay, hoặc 6 ngón chân.
Thân thủy hợp cục:
Thân thủy lai, gặp Tý, Quý, Thìn long, thì tốt, nếu Mão long, Thân thủy, lập Thân hướng là sát ( xấu). Nhưng long Chấn, huyệt dịch, mà gặp bắt Thủy thì nên dụng thủy pháp chế hóa đi, thì lại phát danh tướng cao quan.
Thân thủy phá cục:
Mão long, Canh hướng, Thân thủy lai, thì nhân mạng bị tuyệt diệt!
Thìn thủy hợp cục:
Quyết vân:
"Đại vượng tài sản, thị Thìn thủy
Kiền long, Thìn thủy, vi tối mỹ!
Thử thủy khứ, lai, giai bất câu,
Tổng thị xung khai mộ khố lũy."
Nghĩa là: Nước ở phương Thìn là đại vượng về tài sản – Kiền long gặp Thìn thủy thì rất tốt – Nước ở phương này chảy lại hay chảy đi đều hay cả, không câu nệ - Tóm lại là nước xung khai thành lũy ở phương Mộ khố.
Khôn long đắc Thìn thủy, hoặc Thìn long đắc Thìn thủy, thì phát Trạng nguyên, Tể tướng, nhưng cũng ít có như vậy.
Thìn thủy phá cục:
Dậu long thấy Thìn thủy, hoặc Sửu, Mùi hướng thấy Thìn thủy lai, tối hung. Độc lắm.
Ngọ thủy hợp cục:
Nhâm, Tý, Quý, Dần, Tuất long, thấy Ngọ thủy là hợp cục. Thử thủy khứ lai, câu sậu phạt. Nghĩa là: nước phương Ly này chảy đi hay triều lại, cũng đều mau phát.
Ngọ thủy phá cục:
Tý, Bính hướng, Ngọ thủy lưu động, thì phụ nữ hay bị thổ huyết hoặc ói mửa ra máu. Mão, Cấn long thấy Ngọ thủy triều, thì sinh ra người bị đau mắt hoặc mù. Hợi long, Ngọ thủy lai, thì Nhâm mệnh đa tổn thương. Nếu Dậu phương là thủy khẩu xuất khứ, thì sinh ra loạn dâm.
Kiền long thác nhân ( bó thắt như cái hầu ở họng) thì hay có hỏa hoạn ứng, nên đào thấp đi, hoặc xây đắp gò cao lên để chế hóa.
Nhâm thủy hợp cục:
Ngọ long đắc Nhâm thủy hoặc Nhâm sa tú ứng, thì phát văn võ toàn tài, đơn thủy thì phú, đại thủy thì phát quý, thủy lai thì tại gia cũng được phát, thủy khứ thì ly hương mới phát phú quý.
Nhâm thủy phá cục:
Phá cục là những phương khắc sát với Nhâm.
Dần thủy hợp cục:
Dần thủy, là Trường sinh thủy, vượng đinh tài, Khôn, Ất hoặc Ly, Khảm long, hoặc Kiền, Thân long, đắc Dần thủy lai thì phát phú quý.
Dần thủy phá cục:
Cấn phương là bát sát, Không long, Cấn hướng, Dần thủy là lai, là đới sát, thì bị tài hỏa bênh tật, hoặc hổ giảo ( cọp cắn) Dần, Giáp phương có gò nhỏ và dài thì sinh du đãng tử. Có gò tròn, thì phát đại sĩ ( thầy tu), phù thủy ( thầy bùa).
Tuất thủy hợp cục:
Thìn long Tuất thủy, Kiền long, Thìn thủy,
Tuất long Tuất sa, lập Thìn hướng, Thìn thủy triều lai là thượng cách, Nhị thập tứ long, có thìn long là vượng nhất cả.
Xưa đã nghiệm đất nhà họ Dư: Tân long, Tốn hướng, thực Tuất khí, tọa Tuất đinh, dụng Thìn sa, nhị hướng Tỵ, kỷ tử ( người con) đến năm Giáp Tuất đậu Tiến sĩ nhập Hàn lâm viện, đó là Tuất long cùng phất Khoa giáp rõ ràng.
Tuất thủy phá cục:
"Phá cục gia trung, tất ngộ hung,
Khắc thê, sát tử, họa liên phùng.
Sinh nhâm âm á, ngu si túng ( câm điếc ngu si)
Hoặc ngộ đao thương, ác bất động."
Như Mão long Tuất thủy lai, thì sinh người câm ngọng, Cấn long, Tuất thủy lai, thì sinh người mù, điếc. Canh, Dậu long mà thấy Tuất phương có sơn sa nhọn như đao kiếm, thì sinh người làm giặc cướp, mà bất đắc kỳ tử v.v… ( Chết về đâm chém).
Mão thủy hợp cục:
Canh long, Chấn ( Mão) hướng, phát giã như lôi ( như sám sét). Vì Canh là Kim, Chấn là Không, Kim ngộ không, thì tiếng kêu như còi hét.
Canh long, Mão thủy năng sậu phí ( chóng giàu). Hợi Mùi long, Mão thủy, thì phát văn võ kiêm toàn, nếu được cao phong khởi, thì xuất Anh hùng dũng tướng. Quyền sinh, quyền sát.
Mão thủy phá cục:
Phá cục, thì sinh người du đãng, đạo tặc, dâm loạn. Như Khôn, Thân long, ngộ Mão thủy lai, hoặc khứ, cũng bị đâm chém hoặc tù tội v.v….
Canh thủy hợp cục:
"Mão long Canh thủy, khả Thôi quan,
Vô quý cao thăng, cảnh bất nan.
Khâm hoài, đảm lược, nhân vô địch,
Khứ lai giai phú, hợp gia hoan.
Canh sa cao khởi, tinh kỳ dạng,
Tái đắc đầu mâu, chương binh quyền.
Tứ thân bát tướng, triều lai chỉ,
Danh bá chư bang, trấn đại phiên.
Mão long Canh sa như thử nghiệm,
Nhược thị Tốn long, Canh sa tủng.
Vi quan thanh chính, bất tham ô,
Thử thị canh thủy, Canh sa tú."
Giải nghĩa: Mão long nhập thử ( Mạch vào huyệt) mà thấy có nước ở phương Canh đáo, thế là Thôi quan thủy ( Nước quý cách) – Phát làm quan võ, quyền cao quý, làm nên rất dễ - Trong túi áo có đủ chiến lược, can đảm không ai kịp. Nước đi hay triều lại đều hợp cách giàu sang cả họ - Phương Canh có sơn khởi cao, hình dạng như cờ trận – Lại có hình như đầu mâu – đao kiếm thì nắm cả binh quyền – Bốn phương tám phía, sơn đều cao vót triều lại. Tức lừng danh cả thế giới, trấn hết mọi cường địch – Đây là kinh nghiệm về Mão long Canh sa – Nếu là Tốn long mà có Canh sa cao vót lên – Thì làm quan thanh liêm chính trực không tham ô – Đây là có canh thủy và có Canh sa tú ứng.
Canh thủy phá cục:
"Như kỳ phá cục, đơn canh thủy,
Thâu thiết Trường Sinh bất tiếu nam.
Canh, Thân tịnh triều xạ nhập chủng,
Bị nhan sắc mậu, tối hung ngoan.
Nhược Bính, Đinh phương, Sa thủy cứu,
Hại chúng thành gia, phúc lộc toàn.
Mão, Canh, nhị thủy phá đường cục,
Hiến pháp nan đào, hình tội thảm.
Bính, Đinh, nhị thủy, danh sá văn,
Nhược đắc triều lai, miễn họa hoạn."
Giải nghĩa: Nếu chỉ có một Canh thủy mà là phá cục – Sinh con trai bất nhân, trộm cướp sống dài – Nước cả hai phương Canh Thân, cùng lại như xạ nhập ( bắn vào mộ) – Thì mê gái đẹp mà bị giết – Nếu có Sa thủy ở phương Bính, Đinh cứu cho – Thì làm hại mọi người, mà vinh thân phì gia; lại thọ khang – Hai cái nước: Mão và Canh mà phá dương cục – thì khó mà trốn thoát tội chết thê thảm của pháp luật – Hai cái nước ở phương Bình và Đinh, gọi là Sá văn tinh – Nếu được hai thủy ấy triều lại, thì khỏi cả hoạn nạn.
Hợi thủy hợp cục:
"Hợi thủy vãng, lai, năng hợp cục,
Đại vượng nhân đinh, tính tài lộc.
Đoài Tốn nhị long, kiến thử thủy,
Giáp khoa cập đệ, gia phú túc.
Mão long, Hợi thủy, vi nạp Giáp,
Văn, võ toàn tài, thực thiên lộc.
Hợi long, Hợi thủy, Hợi sa khởi,
Quan cư đài các, phát cảnh tốc ( mau phát).
Thả ấm nhân gia, đa tích thiện.
Cấn, Bính nhị long, vưu phú túc."
Hợi thủy phá cục:
"Phá cục hư lao, tổn thiếu niên,
Thổ huyết yểu vong, đa tật bệnh.
Ngọ long, kiến chi, hại đinh tài,
Hoành quá ( chảy quá) huyệt khinh, chung tiêu phước."
Mùi thủy hợp cục:
"Mùi thủy hợp cục, vượng đinh tài,
Khố thủ, điền viên, tối lạc hoài ( vui lòng).
Tân, Tốn nhị long, Mùi thủy nhập.
Vi quan đắc lộc, tiến hoành tài.
Xuất nhân câu cận, tín phật đạo ( đều tin tu đạo),
Mão long, Mùi thủy, phân lai, khứ.
Thủy lai lôi kích, gia tiệm phú,
Thủy khứ lôi kích gia tiệm suy.
Cấn Hợi nhị long, Mùi thủy nhập,
Cự phú, hà tu, tiến hoành tài ( của ngang tắt).
Đoài, Đinh nhị long, bản tương phối ( vốn sánh đôi),
Khoa Giáp liên đăng, chí tam thai ( đỗ liền 3 cấp)"
Mùi thủy phá cục:
"Phá cục, khán kinh, thời niệm phật
Ni cô, tăng đạo, bái liên đài.
Thìn, Tuất nhị long, Mùi thủy nhập,
Vưu triều quan, quả, yểu triết tai ( chết non).
Bội nghịch bất trung, nan chế phục,
Thi sơn lộ tử bất văn hồi."
Nghĩa là: Sinh ra người bất trung bất hiếu ngỗ ngược. Phơi thây ở ngoài đường hoặc rừng núi không a biết mà báo tin về.
Mời xem các phần khác:- Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Lạc thư tử đại cục
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Trâm quyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Tốn thủy hợp cục
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phụ tinh thủy pháp
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Ngọc Xích kinh thuyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bài quyết ca về Long gia trường sinh
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Lập hướng bộ
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bát sơn chiếu thủy kinh phiên quái quyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bát sơn tiễn thủy kinh định cục
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phiên quái quyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Ngọc kính chính kinh Sơn, Thuỷ, Kiến, Phá định cục loạn
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phiên quái quyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Thẩm vận
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Hung thủy vị danh
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Cát thủy vị danh
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Chú Tử
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Nhị thập Tú Long lập hướng Phân - Kim - Pháp
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Thế đại phận thuộc Cát - Hung













