Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rở anh em thuận hoà
Hồng Bàng là tổ nước ta
Nước ta lúc ấy hiệu là Văn Lang
Hồ Chí Minh
Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Ngọc Xích kinh thuyết
Thứ ba 06/05/2008 12:00:00 (GMT +7)
Tác giả: Việt Hải
Vậy thì cái khí ở phương Khôn – Thân phát nguyên, thì cái tủy làm ranh giới ở bên tả long, thuộc phương Canh; cái nước làm ranh giới bên hữu long, thuộc về phương Đinh, hai dòng nước này tất hợp ở phương Sửu – Cấn, chính là hợp với câu “ Đẩu ngưu nạp Đinh Canh chi khí”.
Vậy những người xem đất, trước hết phải xem cái đại thế thủy đi về phưng nào. Như thủy đi về phương Đông Nam, tất thị phát nguyên từ Tây Bắc. Thủy chảy về Tây Bắc tất thị phát nguyên tự Đông Nam. Đông khứ tất thị Tây lai; Tây khứ tất thị Đông lai. Mọi nơi đều như thế. Trước phải nắm chắc cái cục ấy nhất định đã, sau mới xem cái thủy nhỏ đi ngang, đi dọc, ở bên trong, hoặc thuận, hoặc nghịch, có thể ngồi mà định được. Hoặc cái đại thủy và tiểu thủy đều chảy về phía Đông Bắc, mà trong khoảng giữa có cái tiểu tào ( lạch nước nhỏ) phản lại, quay về phía Tây nam, cái tiến khí nhập thủ là Cấn, đấy là thuận thủy trực xung, mà nghịch hồi kết huyệt, nên biết cái thể đoạn ấy là chân, có thể lập hướng Khôn Thân được. Nếu cái lạch nước nhỏ làm ranh giới ấy, lại chảy ra Đông bắc là thuận kết, thì không nên lập hướng thuận thủy. Đại ý là như thế, lấy đấy mà suy ra những cái khác. Tóm tắt: Cái Đại thủy ở bên ngoài, thì định long thân. Cái tiểu thủy ở bên trong, thì xem chỗ long mạch nhập thủ.
Bình Dương lập hướng thu thủy huyết
Khi đến Huyệt trường, đã định được huyệt rồi, nên biết rõ cái thủy nó phát nguyên ở phương nào, dẫn đến Minh đường Thủy khẩu xuất khứ ở phương nào; Đem La kinh chiếu xem đúng phương vị, nếu hợp thủy cục, thì lấy thủy cục mà thu nạp, hợp Kim cục thì lấy Kim cục thu thủy, hợp Hỏa cục, Mộc cục thì lấy Hỏa cục, Mộc cục mà thu thủy, Vậy bảo: “ Nhận thủy lập Hướng” là nghĩa thế đấy. Chỉ cốt là phương Thai, Dưỡng, Trường Sinh, Quan đới, lâm quan, Đế vượng được thủy chảy lại Minh đường, Thủy ở phương Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, theo đường thủy chảy ra chỗ thủy khẩu, nên mới bảo: “ Lai ư Sinh vượng, khư ư tù tạ” là nghĩa thế. Nếu được Thai, Dưỡng, Trường Sinh, thủy lai thì đại vượng nhân đinh. Quan đới, Lâm quan, thủy triều đường thì “ Chung tư thiên khẩu” ( là có hàng ngàn cháu chắt). “ Vượng thần tụ cục, thì lộc du nghi” ( là phương Đế vượng có nước tụ ở Đường cục; thì tài lộc càng nhiều). Là bởi có thủy hợp cách như thế. Lại có câu: “ Sinh giữ vượng đồng quy, Nhân cộng tài hàm cát”. Nghĩa là: Nước Sinh và Vượng cùng chảy vào Minh Đường thì người và của đều thịnh vượng). Nếu nước ở phương Thai, Dưỡng, Trường Sinh, quan đới, lâm quan chảy đi là Thủy phá, thì bị dọa thai, chết non, chảy phá ở phương Đế Vượng, thì tài lộc tiêu hao. Phương Mộ - khố mà chảy lại trước mặt, thì nhân đinh tuyệt tự.Phương Mộc dục mà nước chảy lại, thì sinh ra dâm loạn ứng phát rất mau. Ngọc Xích Kinh cũng bảo rõ: “ Nhận thủy lập hướng”. Lấy hướng mà tiêu thủy, nạp thủy. Ý nói là: cái phương vị của thủy, thì vốn là không có cát, hung. Cát hay hung, là do ở hướng di chuyển. Vậy phúc hay họa, theo ở hướng mà phát sinh.
Giả như: Thủy tự phương Tốn – Tỵ chảy lại, chuyển sang phương Thân, Canh, Dậu rồi đi ra phương Sửu, Cấn, đấy là Kim cục thủy hành, nếu lập hướng Tốn – Tỵ thì vượng nhân đinh, lập hướng Canh, Dậu thì Dinh tài lưỡng vượng. Nếu trông theo nước chảy đi, lập hướng Sửu, Cấn, mà bên tả, bên hữu nước ôm thu lại không bị thủy trực lưu thì cũng hay phát tài, vượng đinh, ý là thủy ở hai phương Sinh – vượng qua trước huyệt, rồi hội họp ở Sửu, Cấn, chảy vòng cong mà tiêu khứ. Đấy là “ Kim cục, thu Kim cục thủy” là như vậy.
Nếu lập hướng về Hỏa cục, thì không phải là Trường sinh thủy thượng đường. Vậy nhân đinh hao tốn: Lập hướng về Mộc cục thì Sinh, Vượng thủy cũng đều không nhập đường cục. Vậy Đinh, Tài đều chẳng phát. Lập thủy cục hướng, thì tuyệt thu đáo đường, Sinh, Vượng phản bội, trái cục, đều sai cả. Đại ý là như thế, sẽ suy ra mọi cái khác.
Tứ lộ hoàng tuyền
Lập hướng, kỵ Thủy lộ, phạm Hoàng Tuyền.
Bài quyết
1% - Canh, Đinh, Khôn thương, thị Hoàng Tuyền.
2% - Ất, Bính tu phòng, Tốn thủy tiên,
3% - Giáp, Quý hướng trung, ưu Kiến Cấn.
4% - Tân, Nhâm thủy lộ, phạ đương Kiền.
Theo nghĩa đơn, của chữ trong mỗi câu:
1% - Phương Canh và Đinh, thì trên phương Khôn là Hoàng tuyền.
2% - Phương Ất và Bính, thì nên phòng nước phương Tốn trước hết.
3% - Trong hướng Giáp và hướng Quý, thì lo thấy ở phương Cấn.
4% - Phương Tân và Nhâm, thì sợ đường nước ở ngay phương Kiền.
Nói như thế thì làm sao mà hiểu được, nếu thiên học! Bởi vì bài quyết bí hiểm, nên có ít người am tường thôi. Còn đa số Thời sư không hiểu, cứ bàn ra, tán vào, mãi cũng đều vô lý, nghe nói vớ vẩn mà buồn cười.
Vậy tôi giải thích rõ, để Độc giả khỏi nghi vấn.
Nghĩa rộng: Giáp, Canh, Nhâm, Bính, là Tứ dương can ( 4 thiên can thuộc dương). Ất, Tân, Đinh, Quý là Tứ âm can ( 4 thiên can thuộc âm), ở về 4 phương chính, mỗi phương có 2 can một âm, một dương.
Kiền, Khôn, Cấn, Tốn gọi là tứ duy, cũng là hàng Thiên can, ở bốn phương ngưng ( bốn phương góc) cộng là tám phương ( bát quái).
Giáp, Canh, Nhâm, Bính bốn phương can hợp với bốn địa chi: Tý, Ngọ, Mão, Dậu ở bốn phương chính. Theo về lý khí của vòng Trường Sinh, thì bốn phương này, vừa là bốn phương Vượng, vừa là bốn phương Tử của bốn Đại cục.
Ất, Tân, Đinh, Quý; bốn âm can, hợp với bốn địa chi: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, ở bốn phương bàng, theo về lý khí của vòng Trường sinh, thì bốn phương này, vừa là 4 phương dưỡng, vừa là bốn phương Mộ, của bốn Đại cục.
Kiền, Khôn, Cấn, Tốn: bốn Thiên can hợp với bốn địa chi: Dần, Thân, Tỵ, Hợi ở bốn phương ngung ( Tứ duy), theo lý khí của vòng Trường Sinh, thì bốn phương này, là bốn phương sinh, vừa là bốn phương Tuyệt của bốn Đại cục khác nhau.
Thí dụ: Câu: Canh, Đinh, Khôn, thương thị Hoàng tuyền:
Như lập hướng Canh, là hướng vượng của Kim cục, thì Khôn là Lâm quan, thì thủy ở Khôn phải chảy lại trước huyệt, nếu chảy đi là thủy phá lâm quan, thì bị Hoàng tuyền.
Như lập hướng Đinh, là Dưỡng hướng ở thủy cục, thì Khôn là Trường sinh, thì thủy ở phương Khôn cũng phải chảy triều lại trước huyệt, nếu chảy đi là thủy phá sinh phương, thì bị Hoàng tuyền. Nhưng trái lại cũng lập hướng Đinh, nhưng ở Mộc cục, thì Đinh lại đổi là Mộ, Khôn đổi là Tuyệt, thì thủy ở Khôn phải cho chảy đi, nếu chảy lại, là Tuyệt thủy lưu nhập thì bị phạm Hoàng Tuyền.
Nghĩa như thế mà quyết, chỉ có một câu 7 chữ, thực là bí hiểm. Nếu thiển học, lại không được minh sư truyền, thì đâu hiểu thấu, nếu không có trí óc thông minh.
Lấy một câu: Canh, Đinh, Khôn thương thị Hoàng Tuyền mà suy ra ba cậu kia, cũng như thế.
Tức là: Hướng Bính, Giáp, Nhâm 3 hướng này cũng như hướng canh ở câu trên.
Hướng Ất, Quý, Tân, 3 hướng này cũng như hướng Đinh ở câu trên.
Phương Tốn, Cấn, Kiền, 3 phương này cũng như phương Khôn ở câu trên. Nếu không biết phép tiêu, nạp thủy ở trong 4 phương: Kiền, Khôn, Cấn, Tốn này thì phạm Hoàng tuyền. Vì vậy bảo là: Tứ lộ Hoàng tuyền. Hoàng Tuyền nghĩa là Suối vàng, là nơi vô khí ( Tứ xứ).
Bát sát hung kỵ
Lập hướng phải kỵ tám phương sát khí.
Quyết ca
1 - Khảm long, Khôn thỏ, Chấn sơn hầu;
2 - Tốn kê, Kiền mã, Đoài xà đầu;
3 – Cấn hổ, Ly trư, vi Sát diệu;
4 – Phạm chi Mộ, Trạch nhất tề hưu.
Giải nghĩa
1 – Phương Khảm thì kỵ khắc với phương Thìn ( Thìn thì ứng tinh là con rồng, nên gọi là bí danh là Long). Phương Khôn kỵ khắc với phương Mão ( Mão thì ứng tinh là con thỏ, nên gọi bí danh là thỏ). Phương Chấn kỵ khắc với phương Thân ( Thân thì ứng tinh là con khỉ,nên gọi bí danh là Hầu).
2 – Phương Tốn kỵ khắc với phương Dậu ( Dậu thì ứng tinh là con gà, nên gọi bí danh là kê). Phương Kiền thì kỵ khắc với phương Ngọ ( Ngọ là hứng tinh là con ngựa, nên gọi bí danh là Mã). Phương Đoài thì kỵ khắc với phương Tỵ ( Tỵ thì ứng tinh là con Rắn, nên gọi bí danh là Xà đầu).
3 – Phương cấn kỵ khắc với phương Dần ( Dần thì ứng tinh là con cọp, nên gọi bí danh là Hổ). Phương Ly kỵ khắc với phương Hợi ( Hợi thì ứng tinh là con heo, nên gọi bí danh là Trư). Tám phương nọ khắc với 8 phương kia nên bảo là sát diệu ( sao sát).
4 – Phạm vào đấy, thì mộ phần hay nhà ở đều cũng hỏng.
Thí dụ:
Lấy hai chữ Khảm long ở đầu câu, mà giải thích dưới đây. Như là: Mạch ở phương Tý nhập Huyệt, thì không nên lập hướng Thìn, hoặc mạch ở phương Thìn vào huyệt, thì cũng không nên lập hướng Tý. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị diệt vong!
Bởi vì phương Tý thuộc Thủy, phương Thìn thuộc Thổ, Thổ khắc Thủy, nên bị sát.
Xem một cái, hai chữ vừa giải thích trên đây, thì bảy cái kia, mỗi cái hai chữ, cũng đều như thế, suy ra thì rõ hết, không khó gì cả.
Ở miền Bình dương, xem Long nhập thủ cũng có chỗ khác khác với Sơn cương, nếu thấy long sơn khởi cao hơn hai bên một chút, thắt lại nhỏ hẹp, thì cũng lấy 24 phương định mạch khí, như ở miền núi đồi cao. Nếu long mạch bình thản (thấp và phẳng rộng), không nhận đích được Long tích, thì lấy phương nào ở gần nước hơn, mà định cục, lập hướng. Như là phương Nam gần nước thì lấy khảm cục long, lập hướng nam v.v… đại khái như vậy, đã kể rõ ở mục Điểm Huyệt.
Cục cũng kỵ khắc như phương, tức là Khảm cục, không nên lập thìn hướng; Khôn cục, không nên lập Mão hướng v.v…
- Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Lạc thư tử đại cục
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Trâm quyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Tốn thủy hợp cục
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phụ tinh thủy pháp ca ( Tăng bổ)
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phụ tinh thủy pháp
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bài quyết ca về Long gia trường sinh
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Lập hướng bộ
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bát sơn chiếu thủy kinh phiên quái quyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bát sơn tiễn thủy kinh định cục
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phiên quái quyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Ngọc kính chính kinh Sơn, Thuỷ, Kiến, Phá định cục loạn
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phiên quái quyết
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Thẩm vận
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Hung thủy vị danh
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Cát thủy vị danh
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Chú Tử
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Nhị thập Tú Long lập hướng Phân - Kim - Pháp
- Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Thế đại phận thuộc Cát - Hung













