Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Lập hướng bộ

Thứ ba 06/05/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Việt Hải

Vì phải nhận xét tường tận tất cả nội, ngoại sơn sa, thủy lộ, tình hình của địa cục ấy. Nhất là cái long nhập thủ ( mạch vào huyệt) phải tế nhận đích xác và am hiểu lý khí: Âm, Dương, Ngũ hành, Thuận, Nghịch, Sinh, Khắc, v.v… để chế hỏa, xu cát, tỵ hung, thì mới lập hướng được đúng phép. Vì hướng có hợp với long, với thủy lai, thủy khứ của cục địa, thì mới là hướng cát; Hướng cát, thì mới phát phúc, nếu hướng sai một ly, thì không phát phước, mà phát họa ngay, rất là mau chóng; thì uổng phí công lao lội suối, trèo non, dẫu đã tìm được Long chân, Huyệt đích, cũng như là không.
Vậy Lập hướng lại là việc trọng yếu hơn cả. Nên có câu kết luận: “ Lập hướng vi lý khí đệ nhất nan sự”, “ Hướng nhược bất sai, tắc vô dư sự hỹ”. Nghĩa là: Lập hướng là việc khó hạng nhất về lý khí. Nếu hướng không sai, thì về lý khí không còn lo sự gì khác nữa. Xem như thế thì việc lập hướng rất là quan hệ. Vì là phần kết quả của ngôi hộ, hoặc là ngôi nhà ở, phát phước hay sinh họa, là do ở sự lập hướng. Vậy phải thận trọng chớ nên coi thường.
Xưa nay từng nghe tiếng dư luận của những dong sư thiên học, cũng như những người không biết, chỉ bàn nói về huyệt đúng hay sai, chứ không thấy kể gì đến Tọa, Hướng. Có lẽ họ tưởng: chỉ cần là đúng huyệt thôi, còn Hướng thì cứ trông vào chỗ thấp có nước trữ, tụ, hoặc có núi, gò tác án là phải hướng rồi. Nếu chỉ có thế thôi, mà ngôi mộ hay là nhà ở được kết, phát phú quý, thì gì mà chẳng làm được, cần gì mà phải đọc sách nữa. Đó là địa lý cũng như người điếc không sợ súng, người mù đâu biết tránh chông gai. Bởi vì họ không được đọc sách, hoặc có sách mù không hiểu nghĩa, lại không có thầy biết rõ mà giảng dạy truyền cho, thì đâu có biết là lý khí tối nan. Còn quan hệ hơn là Dược sư bào chế thuốc, Y sư khám mạch người.
Bởi vì sơn, thủy biến hóa thiên hình, vạn trạng, tuy địa hình địa cục, sơn sa bày trí, cũng có chỗ tương tự, nhưng Thủy lộ lai, khứ không giống nhau, hoặc đường án, chứng ứng, mỗi chỗ một khác, thường không ngay thẳng với huyệt sơn khai diện, hoặc không cân đối với tả, hữu Thành nộn v.v… Được sơn tề, án chính, thì lại không hợp với lý khí vượng, sinh; được Hướng Vượng, Sinh, thì lại không có án triều, thủy tụ v.v… thật là khó nghĩ. Có chỗ cục hảo, huyệt hảo, sơn, thủy hữu tình, mà không lập được hướng cát, bỏ thì tiếc, làm thì sợ. Vì vậy, có sách bàn: “ Đường chính án thiên, cứ đường nhi vọng”, “ Đường thiên Án chính, cứ Án nhi quan”! “ Bất ngoại hồ sơn tề Án chính”. Nghĩa là: “ Minh đường đối với huyệt ngay thẳng, mà án sơn lệch, thì cứ trông thẳng vào minh đường. Nếu đường lệch mà án ngay, thì cứ hướng thẳng vào Án, không thể ngoài hai cái sơn tề Án chính được. Có cách nói: “ Thiên thành chi huyệt, tất hữu thiên nhiên cai hướng, bất khả cầu công lập sáo, nhi phản thiên địa chi chính khí hồ?” ( Nghĩa là: có cái huyệt tự nhiên thành, thì hẳn có cái hướng tự nhiên có sẵn, chẳng nên cầu kỳ khôn khéo để lập hướng khác, mà làm trái mết cái chính khí của thiên địa thì sao?)
Phái thì chuyên về phương pháp của Ngọc Xích Kim, Thanh Lang bí quyết; Phe thì chuyên về Bát sơn tiễn thủy; Cánh thì chuyên về cửu cung phi tinh; Nôn thì dụng Đảo trượng phóng tống v.v… Có hai chữ Lập hướng, mà bao nhiêu là Sảo cộng, diệu kế, lý luận về phương pháp tác dụng khác nhau. Sách thì nói: Phép này ít hiệu nghiệm. Kinh thì bảo: Phép kia linh ứng hơn.Đại ý khác nhau như thế, chứ không phải là mâu thuẫn tuyệt đối, so sánh thì: Phép đúng với cái này, nhưng sai với cái kia. Phép thì hợp với long, nhưng trái với cục. Cách được Long, Cục, thì không được Đường, Án. Ít khi được hoàn toàn.Xét kỹ ra, thì phép nào cũng có cái tốt, có cái không tốt. Chỉ có khác hơn là cái hay nhiều, cái dở ít, chứ không phép nào được thập phần hoàn hảo, nhưng cũng nên biết cả thì hay, khi gặp địa huyệt phải đem cả ra mà xét thử trước, hễ phép nào hợp với long huyệt, cục ấy được nhiều cái tốt lành hơn thì dùng. Các phương pháp sẽ lần lần kê như sau:

Phương pháp lập hướng

Pháp Lập hướng thì ở miền núi cao cũng có khác miền đất bằng vài điểm là:
- Ở miền núi cao có thể Lập hướng Bắc, và hướng trông về phía thấp được.
- Ở miền đất bằng thì không nên lập hướng Bắc, và khong nên trông về phía thấp, tức phải lập hướng về phía đất cao.

Hỏi: Tại sao lại khác nhau như thế?
Đáp: Bởi vì phương Bắc nhiều lãnh khí, như miền Bắc cực toàn là băng tuyết đóng thành đại khối kinh niên, nên hễ có gió Bắc là rét lạnh không chịu nổi, nếu không được che bọc kín gió. Nhưng ở miền núi đồi có nhiều núi cao bao bọc huyệt trường, gió không thổi lọt vào, thì lập hướng Bắc được. Ở miền sơn cao rất là hậu khí, vì sơn cao với thủy thâm, có đại mạch vẫn lưu thông với nhau, bởi thế nên núi cao chừng ngàn thước mà vẫn có nước từ trên chẩy xuống quanh năm không hết; nên có thể hướng vào chỗ thấp, không có nước tụ đường cũng được, vì khí vẫn sung túc hữu dư.
Ở miền đất bằng, ít nơi có núi khởi cao, đến cả Long, Hổ sa bao vây cũng thấp, nếu có gió bấc thổi hắt vào mặt, thì khí tán và lãnh khí xung quan (mộ) hỏng. Vậy không nên lập hướng Bắc, vì là vô sinh khí, nên bảo “ Tuyết lý tỏa hàn mai”. Nghĩa là: Ví như cây mai ở trong vùng tuyết lạnh phong tỏa, bị gió rét héo mòn, thì tươi tốt làm sao được. Ở miền bình dương, đất phẳng không có nước tụ, thì vô khí. Nếu lập hướng vào phía thấp không có nước tụ đường, lại thấp dần dần chảy rốc đi hết là tuyệt khí, thì hỏng. Nên phải hướng về phía cao, để có nghịch thủy chảy lại Minh đường, thì mới hữu khí, mới kết phát. Vì lẽ ấy nên hai miền lập hướng khác nhau.
Nếu ở miền núi, mà không có sơn cao che ở phương Bắc, thì cũng không lập hướng Bắc được. Ở miền Bình dương mà có sơn sa cao ở phương Bắc che gió, thì cũng lập hướng Bắc được. Ở miền sơn cước mà có thủy tụ đường thì càng hay. Ở miền Nam nước Việt ít gió Bắc, khí hậu ấm và nóng nhiều, không cần kỵ hướng Bắc. Còn về lý khí, phương pháp tác dụng tất cả hai miền đều cùng chung một luật lệ, nhưng cũng tùy trường hợp của Địa hình, thế cục, mà định liệu, nên gia, nên giảm, sẽ do trí óc tinh thông mà linh động, thì sẽ hay thêm hơn nữa không chừng.

Lập hướng

Lập hướng phải liền với Điểm huyệt, tuy phân thứ tự khởi hành trước sau, nhưng đền lúc được ngừng bước, thì hai việc phải đi song song với nhau, cũng như việc Điểm huyệt phải đi liền với Tầm long.
Vậy trước khi định huyệt, cũng đã tạm biết là hướng sẽ phải trông về phía nào rồi, dầu chưa tính đến lý khí. Vì đã thấy Long sơn khai trướng, Huyệt tinh khai diện, Thủy lộ quy khố v.v… Nhưng phải xem long thuộc âm hay dương, để phối hướng phối thủy, thì mới được. Muốn biết Long là Âm hay Dương thì phải lấy chính ngũ hành mà luận định. Trước phải biết hai mươi bốn phương vị đã phân hoạch rõ ở trong La kinh ( Địa bàn) như là:
- Từ phương Hợi đến Nhâm, Tý, Quý bốn phương thuộc hành Thủy.
- Dần, Giáp, Mão, Ất, Tốn, năm phương thuộc Mộc.
- Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, bốn phương thuộc Hỏa.
- Thân, Canh, Dậu, Tân, Kiền, năm phương thuộc Kim.
- Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Khôn, Cấn, sáu phương thuộc Thổ.
Đấy chính là Ngũ hành. Nhưng Tả toàn long, thuận chuyển là thuộc dương long; Hữu toàn long nghịch chuyển là Âm long.
Tuy đã biết Tam cát, Lục tú phương là Quý long, nhưng phải theo thập nhị vị của vòng Trường sinh, xem có được gặp phương vị hợp với lý khí thì mới là chân cát long.

Thập nhị vị vòng tràng sinh
Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.

Thí dụ cách khởi tràng sinh:
Hợi, Nhâm, Tý, Quý, bốn phương thuộc Thủy. Long mạch ở phương Tây thuận chuyển vào phương Hợi, đến phương Nhâm, phương Tý, phương Quý, là TẢ TOÀN LONG thuộc Dương, thì khởi Trường sinh ở phương thân, thuận chuyển đi, thì Mộc dục ở Dậu, Quan đới ở Tuất, Lâm quan ở Hợi, Đế vượng ở Tý, Suy ở Sửu, Bệnh ở Dần, Tử ở Mão, Hộ ở Thìn, Tuyệt ở Tỵ, Thai ở Ngọ, Dưỡng ở Mùi ( đi thuận chiều như kim đồng hồ luân chuyển)
Nhưng nếu Long mạch ở Phương Đông, nghịch chuyển vào phương Quý đến phương Tý, phương Nhâm, rồi đến Hợi, thì lại là HỮU TOÀN LONG thuộc Âm. Trường sinh phải khởi ở mão? Nghịch hành ( đi ngược) thì Mộc dục ở Dần, Quan đới ở Cửu, Lâm quan ở Tý, Đế vượng ở Hợi, Suy ở Tuất, Bệnh ở Dậu, Tử ở Thân, Mộ ở Mùi, Tuyệt ở Ngọ, Thai ở Tỵ, Dưỡng ở Thìn. Lấy một cục Thủy làm cách thức, sẽ suy ra bốn cục khác cũng thế.
Xem cái long nhập thủ, mà gặp được SINH, VƯỢNG, DƯỠNG, QUAN ĐỚI, LÂM QUAN thì tốt, gặp Thai thì bình thường, gặp SUY BỆNH, TỬ, MỘ, TUYỆT thì xấu, 5 vị này mà gặp Tam cát, Lục tú phương, thì còn tạm được, nếu gặp tạp long phương vị, thì không nên dùng.
- 5 phương thuộc hành Mộc: Tả Toàn Long thì Trường Sinh khởi từ Hợi thuận chuyển; Hữu Toàn Long thì Trường Sinh khởi từ Ngọ nghịch chuyển.
- 4 phương thuộc Hỏa: Tả toàn long thì Trường Sinh khởi từ Dần thuận chuyển; Hữu Toàn Long thì Trường Sinh khởi từ Dậu nghịch hành.
- 5 phương thuộc Kim: Tả Toàn Long thì Trường Sinh khởi từ Tỵ thuận hành; Hữu Toàn Long thì Trường Sinh khởi từ Tý nghịch hành.
- 6 phương thuộc Hỏa: Tả Toàn Long và Hữu Toàn Long an theo cách an như Sành Thu đã kể giải rõ ở trên.

Mời xem các phần khác:
  1. Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu
  2. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Lạc thư tử đại cục
  3. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Trâm quyết
  4. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Tốn thủy hợp cục
  5. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phụ tinh thủy pháp ca ( Tăng bổ)
  6. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phụ tinh thủy pháp
  7. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Ngọc Xích kinh thuyết
  8. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bài quyết ca về Long gia trường sinh
  9. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bát sơn chiếu thủy kinh phiên quái quyết
  10. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Bát sơn tiễn thủy kinh định cục
  11. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phiên quái quyết
  12. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Ngọc kính chính kinh Sơn, Thuỷ, Kiến, Phá định cục loạn
  13. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Phiên quái quyết
  14. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Thẩm vận
  15. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Hung thủy vị danh
  16. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Cát thủy vị danh
  17. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Chú Tử
  18. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Nhị thập Tú Long lập hướng Phân - Kim - Pháp
  19. Bảo Ngọc Thư (Phần 3) - Thế đại phận thuộc Cát - Hung