x

Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long mạch của Việt Nam

Thứ bảy 19/04/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tác giả: Việt Hải

Long mạch của Việt Nam

Xem Địa mạch thuộc về nước Việt Nam thì có mấy cái đại long sơn như sau:

A. Đại cán long là dãy Trường Sơn hay Hoành Sơn vẫn là một phát nguyên từ vùng núi nước Trung Hoa qua tỉnh Vân Nam chạy dài về phía hữu ngạn sông Đà, qua miền Bắc Việt vùng Thượng Lào vào miền Trung Việt và Ai Lao giáp nhau, suốt đến miền Nam Việt Nam mới đình chỉ. Phía Đông và Nam là biển Nam Hải, phía Tây Nam thì sông Cửu Long là giới hạn long mạch.

B. Dẫy núi Ba Vì ( Tản Viên sơn) cũng nối liền từ miền núi tỉnh Vân Nam nước Tầu, qua vùng Phong thổ, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hưng Hóa, Sơn Tây; dẫy núi này một bên là sông Nhị Hà là giới mạch bên tả ngạn, bên hữu là sông Đà và sông Mã ở về miền Bắc Việt Nam, qua vùng Hà Đông, Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định v.v…

C. Dẫy núi Tam Đảo, cũng phát nguyên từ tỉnh Vân Nam nước Tầu, qua vùng Bảo Lạc, Nguyên Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Yên v.v… là đại cán long, qua tỉnh Phúc Yên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định là vùng bình dương Bắc Việt.
D. Dẫu núi Huyền Đinh cũng phát nguyên từ dẫy núi Thập Vạn đại sơn về nước Tầu, qua vùng Đông Hưng, Móng Cái, Yên Châu, Tiên Yên, Quảng Yên, Hải Phòng. Một chút đi qua vùng Lục Nam, Đông triều, Sùng Nghiêm đến Phả Lại giáp Lục đầu giang, băng qua vào miền bình dương ( đồng bằng) tỉnh Hải Dương v.v…
Những dẫy núi kể trên đều là những đại cán long, tức là Thái tổ sơn của các Thiếu tổ sơn ở trong những vùng ấy, đã nẩy ra bao nhiêu chi, phái, tức là Tổ tông sơn, khắp nước Việt Nam. Có nhiều chỗ đã chạy lìa thoát sa cả ra ngoài biển là các cồn đảo ở ven biển Việt Nam, những chỗ đó là Băng hồng long mạch, thường có những đất quý lắm đấy!

Có hai phép tầm long:

1. – Sơn pháp
2. – Bình dương pháp.

- Sơn pháp là phép xem mạch ở miền núi, như miền Thượng du tức gọi là Sơn cốc hay Sơn khê cũng vậy, Xưa gọi là Lũng long ( thung lũng). Ở vùng sơn khê, tuy rừng núi hiểm trở khó đi, nhưng dễ nhận được long hành, vì long mạch đột khởi cao thành núi đồi, ở xa cũng trông thấy, nên rõ được tông tích và dễ định được cục to hay nhỏ v.v…
- Bình dương pháp, là phép xem mạch ở miền đồng bằng, hay là bình nguyên, vì long mạch phần nhiều là đi chìm lặn xuống đất, ít khi nổi cao lên; xa trông thì bằng phẳng, rộng lớn, ruộng đất bao la một tầm; đến gần mới biết cao, thấp, hơn nhau, thường không nhìn thấy chỗ cuống mạch dẫn đi, nên không rõ tông tích long, vậy phải căn cứ vào giới thủy, là những lạch nước ( ruộng trũng) lấy nước làm giới hạn long mạch mà định cục v.v… Sẽ có họa đồ riêng về mục Bình dương pháp.
Tầm long ( là tìm mạch và tìm đất hay tìm huyệt cũng vậy). Phải lấy sơn, thủy làm căn bản ( gốc); có đủ sơn thủy thì sẽ tìm. Nếu những chỗ có sơn mà không có thủy, hoặc có thủy mà không có sơn thì không nên tìm huyệt ở chỗ ấy, vì không phải là chỗ có huyệt; mà dầu có thấy hình như kết huyệt, cũng không phải là quý huyệt vì không đủ khí mạch.
- Hỏi: Thế nào là sơn, thủy?
- Đáp: Sơn, nghĩa chính là núi. Thủy, nghĩa chính là nước. Nói chung, gọi là non nước hay là núi sông, nhưng về khoa Địa lý thì hai chữ sơn thủy lại áp dụng khác. Nghĩa là, tất cả chỗ núi non, đồi bãi ruộng nương, gò đống, hễ cao hơn chỗ thấp một chút cũng mới gọi là thủy!
Tất cả những chỗ có nước như: Biển, hồ, sông, ngòi, khe, lạch, ao, chuôm, ruộng trũng hơn một chút cũng đều gọi gồm một tiếng là thủy. Chứ không phải riêng núi mới gọi là sơn! Riêng sông mới gọi là thủy!
Bởi vậy, trong sách địa lý có câu: “ Cao nhất thốn vi sơn, đê nhất thốn vi thủy”. Nghĩa là: Cao hơn một tấc gọi là sơn, thấp hơn một tấc, gọi là thủy. Vậy ghi lấy hai câu này để áp dụng và xưng hô ( gọi tên) về khoa địa lý, cho khỏi nghi hoặc, lầm tưởng.
Trong phép, địa lý, thì sơn là Âm, thủy là Dương. Sơn ví như phụ (vợ); thủy ví như phu ( chồng). Nếu có sơn mà không có thủy, là có âm mà không có dương, tức như đàn bà không chồng! Có thủy mà không có sơn, là có dương mà không có âm, tức như đàn ông không vợ! Thiếu một thì làm sao mà sinh con đẻ cái? Vậy câu: “ Cô âm bất sinh độc dương bất phát” hoặc câu: “ Thuần âm bất sinh, thuần dương bất phát” cũng đều chỉ vào nghĩa đó.
Nếu sơn đa, thủy thiểu; hoặc thủy cường, sơn nhược; nghĩa là Núi nhiều, nước ít hay là nước mạnh, núi yếu, là “ sơn bất xứng thủy, thủy bất xứng sơn”, là không phải đất hay vẹn toàn!
Trái lại, sơn thủy tương xứng, tức như vợ chồng đều khỏe mạnh thì mới là tốt! Vậy có câu: “ Âm dương điều hòa, vạn vật phát sinh” chính là cùng nghĩa đó.
Tuy tổng quát gọi có hai cái là sơn với thủy, nhưng biến hóa ra thiên hình vạn tướng, không chỗ nào giống chỗ nào, cũng tựa hồ như thân hình, mặt người, mỗi người mỗi vẻ, không ai giống ai. Kẻ thì được người hỏng nết, người thì được nết hỏng người; cũng có người được cả tài lẫn đức, nhưng lại kém cái khác v.v… Vậy có câu: “ Nhân vô thập toàn”, “ Địa an năng thập toàn tai”! chính là nghĩa đó! Về phần tầm long chia ra làm hai mục như sau:

MỤC I
Sơn pháp tầm long
Tinh thần

Trước khi nhập sơn tầm long, phải am hiểu tinh thần của sơn xuất hiện ( tức tinh phong). Tinh phong không chỉ có một thể, còn biến thể ra nhiều thứ khác như là:

A. - Ngũ tinh
B. - Lão cửu tinh
C. – Thiên cơ cửu tinh
D. – Lục phủ tinh.

A. Ngũ tinh là Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là năm (5) tinh phong chính thể kết hình.
Kim tinh thì đầu tròn, chân rộng, hình như cái nồi, chõ úp hoặc như hình bàn nguyệt đột cao, hay thấp phẳng ở bình địa.
Mộc tinh đầu cũng tròn, nhưng thân thẳng cao, hoặc nằm dài, hình như cái hốt.
Thủy tinh thì đầu bình và cong queo, lan man ra như vằn sóng hoặc như con rắn bơi nước, hoặc như cái đai lưng v.v…
Hỏa tinh thì đầu nhọn, chân rộng, như hình tam giác hoặc như mũi dao, mũi dáo nhọc v.v…
Thổ tinh thì đầu bình, hình vuông 4 góc.
Ngũ tinh cao đại còn có tên gọi là:
Hiến thiên kim – Xưng thiên mộc – Trướng thiên thùy – Diệm thiên hỏa – Tấu thiên thổ.
Ngũ tinh ty tiểu ( thấp bé ) còn gọi là:
Toan tử kim – Nga mi kim – Châu ngọc kim – Đào địa mộc – Giao cho mộc – Triết khúc mộc.
Chẳng qua nhận thấy tựa hình gì, thì đạt tên cái ấy; nghĩa là cốt nhận được đúng tinh thể thôi.

B. Lão cửu tinh là: Tham lang, Cự môn, Lộc tồn, Văn khúc, Liêm trinh, Vũ khúc, Phá quân, Tả phụ, Hữu bật.
Tham lang là chính Thổ tinh.
Lộc tồn là Thổ tinh, Kim tinh kiêm thể, hình như cái trống để đứng, chân soạc ra như hình trái dưa v.v..
Văn khúc là Thủy tinh, hình như con rắn uốn cong.
Liêm trinh là mấy cái hỏa tinh dính liền nhau, đầu nhọn, hình như ngọn lửa bùng lên, hoặc là đá liền tầng cao vót lên, xa trông như răng cưa, răng lược.

Vũ khúc là Kim tinh.
Phá quân hình như lá cờ đuôi nhọn gió bay, đầu tròn, chân nhọn như mũi kiếm, mũi dáo. Hoặc như cái lọng rách, mảnh ván xẻ kẻ ra, đầu cao đuôi thấp.
Tả phụ hình như cái khăn phủ đầu, hoặc cái mũ, bên cao, bên thấp, là Hộ vệ tinh.
Hữu bật là “ Ẩn diệu vô hình” ( là ẩn náu hình bóng, không thấy rõ) như chỗ long mạch quá giáp, quản điền ( qua chỗ giáp thấp xuống, đi suốt ruộng, đất bằng phẳng) không thấy xống tích gồ lên.

C. Thiên cơ cửu tinh là: Thái âm, Thái dương, Kim thủy, Tử khí, Thiên tài, Thiên cương, Cô diệu, Táo hỏa, Tảo đãng.
Thái âm là Kim tinh mỏng, thấp.
Thái dương là Kim tinh cao.
Kim thủy là Kim tinh, Thủy tinh kiêm thể, hai tinh hợp hình có một đầu.

Tử khí là Mộc tinh.
Thiên tài là Thổ tinh, có ba thể là Bình não thiên tài, Song não thiên tài, Thốt não thiên tài.
Thiên cương thì đầu là Kim tinh, chân là Hỏa tinh, là Kim tinh, cao đại, thô mạnh, ngoan ác tinh.
Cô diệu là Thổ, Kim kiêm thể, không tròn, không vuông, phi độn, thô xuẩn.

Táo hỏa là Hỏa tinh.
Táo đãng là Thủy tinh rộng lớn, nhiều khúc, nhiều văn, như làn sóng uốn lên, uốn xuống. Hình như lá sen, lá súng v.v..

D. Lục phủ tinh là Thái dương, Thái âm, Tử khí, Nguyệt bột, Kế, La. Còn gọi là Lục diệu, Tam thai cũng thế.
Những tinh này không phải là tầm thường, mà ít có lắm! Đó là “ Quý khí sở sinh” (Khí mạch thanh cao nẩy ra). Trên đỉnh núi cao đại, lại đột khởi lên tinh phong nhỏ nữa, hoặc ở nơi bình địa có tinh phong lớn. Rồi trên tinh phong lớn, lại đột lên tinh phong nhỏ; nói chữ là: “Phong thượng khởi tinh phong”.

Kim tinh nhỏ mà cao là Thái dương.
Kim tinh nhỏ, mỏng, thấp là Thái âm.
Mộc tinh nhỏ, gọi là Tử khí.
Thủy tinh nhỏ gọi là Nguyệt bột.
Hỏa tinh - - - La.
Thổ tinh - - - Kế.

Những tinh nhỏ này, có một cái đã là quý! Có hai, ba cái càng quý thêm. Nếu đứng xa mà trông thấy những tinh này thì quyết đoán là vùng đó có quý huyệt đại địa, không sai!
Đấy là những quý cách, thế mà xưa nay không mấy người biết, vì ít sách có. Duy có vài vị hiền triết bàn đến là: Dương Công ( Dương Quân Tùng), nói ở bộ Hám long kinh: Ngô Công ( Ngô Cảnh Loan) bàn ở bộ Vọng long kinh, và ở bộ Lý gia hoạt sáo có câu: “Trùng quý trùng âm vi tể phụ) chính là những tinh đó. Nghĩa là : Có cách “ trùng quý, trùng âm” thì làm đến chức Tể phụ ( tức Tể tướng hay Thủ tướng). Ngoài ra không thấy sách nào bàn đến nữa.

Ngũ hành thuộc âm dương
Trong ngũ hành, thì ba (3) hành: Kim, Mộc, Hỏa thuộc dương. Hai (2) hành: Thổ, Thủy thuộc âm.

Ngũ hành thương sinh
Thổ sinh Kim – Kim sinh Thủy – Thủy sinh Mộc – Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ.
Thí dụ: Hành long, thấy đột khởi Thổ tinh, rồi liên tiếp đến Kim tinh, là Thổ sinh Kim; lại ở vào phương thuộc Thổ ( là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Khôn, Cấn) là Thổ vượng; biết một hành thì suy ra năm hành cũng như thế. Tức là: Mộc cư Đông, Hỏa cư Nam, Thủy cư bắc, Kim cư Tây, Thổ cư Trung ( ở giữa) vừa kể trên, là vượng địa thì tốt lắm!
Mộc cư Bắc, Hỏa cư Đông, Thổ cư Nam, Thủy cư Tây, Kim cư Tứ mộ ( Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) và Khôn, Cấn thuộc Thổ, là được sinh địa thì tốt.

Ngũ hành tương khắc
Thổ khắc Thủy – Thủy khắc Hỏa – Hỏa khắc Kim – Kim khắc Mộc – Mộc khắc Thổ.
Thí dụ: Thổ ở phương Đông, là phương thuộc Mộc khí, tức là Mộc khắc Thổ, là Thổ bị sát khí, thì Thổ chết, là xấu. Lấy một mà suy ra năm, đều cũng như thế cả.

Mời xem các phần khác:

  1. Bảo Ngọc Thư - Lời giới thiệu
  2. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Tam thập nhất cách
  3. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quyết đoán địa cách
  4. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tam thập lục thủy kiềm
  5. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Phụ lục: Ngọc Tủy Kinh - Bình Dương
  6. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Hữu đệ nhất cách
  7. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu đệ thất cách
  8. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu thập thất cách
  9. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Hữu nhị thập nhị cách
  10. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Cáo Bạch
  11. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Địa lý phong thủy
  12. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Viên cục
  13. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Ứng tinh, Biến tinh, Gián tinh
  14. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Thai phục
  15. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Quan, Quỷ, Cầm, Diệu
  16. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Đại khái hình đồ
  17. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Biện hổ thạch
  18. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Long Tổ
  19. Bảo Ngọc Thư (Phần 1) - Bình Dương pháp tầm long
  20. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tọa Khôn, hướng Mão
  21. Bảo Ngọc Thư (phần 1) - Tư Mã Đầu và Dạt Tăng vấn, đáp