Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 1

Ngày đăng: Thứ bảy 05/07/2008 12:00:00 (GMT +7)

Chủ đề này có nội dung chính là sự tiếp tục chứng minh khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết các hiện tượng liên quan cho nguyên lý căn bản trong học thuật cổ Đông phương là Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Trong phần này , nguyên lý căn bản đó chứngminh tính hợp lý trong việc giải thích cách nạp chi trong bốc Dịch, vốn là một hiện tượng vẫn chưa có một sự lý giải hợp lý trong cổ thư chữ Hán từ hàng ngàn năm qua.
Trong bốc Dịch thì nạp Chi và nạp Giáp là hai thành tố liên quan đến nhau. Để bạn đọc dễ nắm bắt vấn đề được đặt ra, người viết giới thiệu qui tắc nạp giáp trong bốc Dịch, dù nó không phải chủ đề chính của phần này.

Nguyên tắc nạp Gíáp trong bốc dịch từ cổ thư chữ Hán

Sự liên hệ của Thiên Can trong bốc dịch không phải chủ đề chính trong phần này, nhưng vì là sự liên hệ gần gũi, nên người viết xin được giới thiêu để quí vị quan tâm tham khảo.

”Lãi Hải Tập” nói:
”Thuyết về Nạp Giáp, từ Giáp là 1 đến Nhâm là số 9, đó là số Dương bắt đầu và cuối hết vậy, vì vậy quay về Càn, Dịch thuận số vậy. Ất là số 2 đến Quý là số 10, số Âm bắt đầu và hết ở đó, vì vậy quay về Khôn, Dịch nghịch số vậy.
* Càn nhất sách, một lần tìm mà được nam là Chấn.
Khôn nhất sách, một lần tìm mà được nữ là Tốn.
Vì vậy:
Canh nhập Chấn.
Tân nhập Tốn.
*Càn lại sách tìm lần nữa, mà được nam là Khảm.
Khôn lại sách tìm lần nữa mà được nữ Ly.
Vì vậy:
Mậu quy về Khảm.
Kỷ xu theo Ly.
* Càn sách tìm lần thứ 3 mà được nam là
Cấn.
Khôn
sách tìm lần thứ 3 mà được nữ là
Đoài.
Vì vậy:
Bính theo Cấn.
Đinh theo Đoài.
Dương sinh ở Bắc mà thành ở Nam, vì vậy Càn bắt đầu ở Giáp Tí mà kết thúc ở Nhâm Ngọ.
Âm sinh ở Nam mà thành ở Bắc, vì vậy Khôn bắt đầu ở Mùi mà kết thúc ở Quý Sửu.
Chấn Tốn sách tìm một lần (từ Càn Khôn), vì vậy Canh Tân bắt đầu ở Tí Sửu (tức là Chân bắt đầu ở Canh Tí, Tốn bắt đầu ở Tân Sửu).
Khảm Ly sách tìm lần nữa (lần thứ 2 từ Càn Khôn), vì vậy Mậu Kỷ bắt đầu ở Dần Mão (tức là Khảm bắt đầu ở Mậu Dần, Ly bắt đầu ở Kỷ Mão).
Cấn Đoài ba lần sách tìm (từ Càn Khôn), vì vậy Bính Đinh bắt đầu ở Thìn Tỵ (tức là Cấn bắt đầu ở Thìn là Bính Thìn, Đoài bắt đầu ở Tỵ là Đinh Tỵ”.

(Tư liệu của Thiên Kỳ Quí. Mục “Bói Dịch” .Tuvilyso.com)

Đồ hình nạp Giáp 12 chi

Như vậy, đoạn trích dẫn trên cho thấy nội dung thể hiện nguyên tắc nạp Thiên Can phối với 8 quẻ. Nguyên tắc này không liên quan trực tiếp đến chủ đề của phần này, nhưng người viết xin được làm rõ tính qui luật của nguyên tắc này như sau:

* Càn & Khôn là hai quái căn bản.

* Sự hoán vị lần thứ nhất của hào đầu tính từ dưới lên (Nhất sách) được hai quái là Chấn &Tốn.

CÀN KHÔN NHẤT SÁCH

* Sự hoán vị lần thứ hai của hào 2 tính từ dưới lên, được hai quái là Khảm & Ly

CÀN KHÔN NHỊ SÁCH

* Sự hoán vị lần thứ 3 của hào 3 tính từ dưới lên được hai quái là Cấn Đoài.

CÀN KHÔN TAM SÁCH

Bây giờ chúng ta sắp thập Thiên Can theo thứ tự từ 1 đến 10 (Từ trái sang phải/ Thuận chiều) như sau:
1/ Giáp – 2/ Ất – 3/ Bính – 4/ Đinh – 5/ Mậu – 6/ Kỷ - 7/ Canh – 8/ Tân – 9/ Nhâm – 10/ Quí.
Trong đó: 1/ Giáp, 2/ Ất, 9/ Nhâm,10/ Quí thuộc về hai quái khởi nguyên là Càn / Khôn như lời trích dẫn đã viết:

”Từ Giáp là 1 đến Nhâm là số 9, đó là số Dương bắt đầu và cuối hết vậy, vì vậy quay về Càn, Dịch thuận số vậy. Ất là số 2 đến Quý là số 10, số Âm bắt đầu và hết ở đó, vì vậy quay về Khôn, Dịch nghịch số vậy.”

Bởi vậy, với ba cặp quái còn lại của sự giao hoán Càn / Khôn sẽ tương ứng theo chiều từ phải sang trái (Nghịch chiều) của 3 cặp Thiên Can còn lại như sau:

Sách hào 1: Chấn & Tốn - Ứng với 7/ Canh & 8/ Tân.
Sách hào 2: Khảm & Ly - Ứng với 5/ Mậu & 6/ Kỷ
Sách hào 3: Đoài & Cấn - Ứng với 3/ Bính & 4/ Đinh.

Những quái thuộc Dương là: Càn, Khảm, Cấn, Chấn liên hệ với Thiên Can Dương.
Những quái thuộc Âm là: Khôn, Ly, Tốn, Đoài liên hệ với Thiên Can Âm.
Như vậy, phương pháp nạp giáp với bát quái mang tính qui luật. Phần tiếp theo đây chúng ta tìm hiểu về phương pháp nạp chi là nội dung chính của phần trình bày này.

Nguyên tắc nạp chi trong bốc dịch từ cổ thư chữ Hán

Phương pháp nạp chi này có thể tóm tắt như sau:
Trong bốc Dịch chia làm 8 nhóm quẻ phân Âm Dương như sau:

Nhóm Dương:

Nhóm Âm:

Cụ thể phương pháp nạp chi trong cổ thư chữ Hán được truyền lại như sau:

Đồ hình nạp Giáp và chi

Bây giờ chúng ta cùng xem lại qui tắc nạp chi theo sách cổ chữ Hán truyền lại như sau:

Quẻ Dương:
* Càn – hào đầu tính từ dưới lên nạp chi
* Khảm – hào đầu tính từ dưới lên nạp chi Dần
* Cấn – hào đầu tính từ dưới lên nạp chi Thìn
* Chấn – hào đầu tính từ dưới lên nạp chi (giống quẻ Càn)

Quẻ Âm:
* Tốn – hào đầu tính từ dưới lên nạp chi Sửu
* Ly – hào đầu tính từ dưới lên nạp chi Mão
* Khôn – hào đầu tính từ dưới lên nạp chi Mùi
* Đoài – hào đầu tính từ dưới lên nạp chi Tỵ

Tất cả những sách chữ Hán cổ để lại đều ghi nhận qui tắc nạp chi như trên và là một qui tắc phổ biến trong ứng dụng để luận quẻ. Những qui tắc này, được mặc nhiên coi là đúng không phải từ bây giờ mà là hàng ngàn năm nay.
Nhưng căn cứ vào đâu để có quy tắc “Nạp chi” này ?
Tất nhiên, hiện tượng này đã được các nhà lý học cổ kim và các nhà nghiên cứu mổ xẻ, phân tích trải cũng hàng ngàn năm. Nhưng có thể nói:

Tất cả mọi sự phân tích đều chỉ nhằm giải thích cho sự hợp lý của qui tắc “Nạp chi” đã tồn tại trên thực tế, chứ không phải sự giải thích từ một nguyên lý có tính tiền đề của qui tắc đó và không phải là sự lý giải hợp lý từ nguyên lý tiền đề này.

Điều này cũng dễ hiểu. Vì khi những nguyên lý lý thuyết và những tiền đề căn bản của nó đã thất truyền thì căn cứ vào đâu để bảo nó sai?
Trước khi tiếp tục chứng minh cho tính hợp lý của Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt trong việc lý giải nguyên lý nạp chi trong bốc Dịch, chúng ta cùng tìm hiểu, so sánh một số những phương pháp và cách lý giải liên quan trong cổ thư chữ Hán.

1. Phương pháp nạp chi theo Âm Dương của chi

Đoạn trích dẫn dưới đây trong sách “Tinh lịch khảo nguyên” nói về phương pháp nạp chi theo Âm Dương của Địa chi: “Khảo Nguyên” nói rằng:

”Đó là phương pháp lấy sáu hào cúa Bát Quái phân ra mà nạp với lục thời của Địa Chi. Hễ Càn tại nội quái thì là Giáp nạp với Địa Chi Tí Dần Thìn. Tức là sơ cửu Giáp Tí, cửu nhị Giáp Dần, cửu tam Giáp Thìn. Tại ngoại quái thì là Nhâm, nạp với Địa Chi Ngọ Thân Tuất, tức là cửu tứ là Nhâm Ngọ, cửu ngũ là Nhâm Thân, thượng cửu là Nhâm Tuất. Hễ Khôn tại nội quái thì Ất nạp với Địa Chi Mùi Tỵ Mão, tức là sơ lục là Ất Mùi, lục nhị là Ất Tỵ, lục tam là Ất Mão. Tại ngoại quái thì là Quý, nạp Sửu Hợi Dậu, tức là lục tứ là Quý Sửu, lục ngũ là Quý Hợi, thượng lục là Quý Dậu. Bởi vì là Càn Khôn đều nạp với hai Can cho nên phân ra làm nội ngoại hai quái. Ngoài ra sáu quẻ, chỉ nạp một Can, dựa vào thứ tự phối với nhau với chỗ nạp lục thời có thể được.
Phương pháp cúa Bát Quái nạp với Địa Chi, là Chi Dương đều thuận hành, Chi Âm đều nghịch chuyển. Bát Quái dựa vào chỗ thứ tự của Âm Dương, chỗ nạp Địa Chi đều lệch nhau một ngôi vị.
Chỉ có chỗ nạp của Chấn với Càn là giống nhau, đại khái ý tứ là trưởng tử thừa tiếp thể của cha. Khôn không khởi ở Sửu mà khởi ở Mùi, đặc biệt cùng với Lạc thư số ngẫu khởi ở Mùi.
Ở đồ hình Hậu thiên, Khôn đóng ở Tây Nam, nhạc luật Lâm Chung là địa, thống nhất mà ứng với khí của tháng Mùi, hợp nhau. Tại chỗ có ở trong thuật số, chỉ có Nạp Giáp hết sức gần với lý lẽ. Nay ‘Hỏa Châu Lâm” chiêm quẻ, chỗ dùng đúng chính là loại phương pháp này”.
(Chú ý: Bát Quái cũng có phân Âm Dương. Dương Quái là Càn Khảm Cấn Chấn, Âm Quái là Tốn Ly Khôn Đoài. Ý nói “Dương thuận Âm nghịch và lệch nhau một vị”, tức như quẻ Càn khởi đầu là Tí Dương Chi đi thuận theo Dương Chi đến Tuất là hết 6 hào Dương, Khảm khởi đầu là Dần Dương Chi đi thuận theo Dương Chi đến Tí hết 6 hào Dương, Cấn khởi đầu là Thìn Dương Chi đi thuận theo Dương Chi đến Dần là hết 6 hào Dương. Riêng Chấn và Càn khởi giống nhau nên ở đây không lập lại nữa. Âm Quẻ chuyển nghịch, như quẻ Tốn khởi đầu là Sửu Âm Chi chuyển nghịch theo Âm Chi đến Mão là hết 6 hào Âm, Ly khởi đầu là Mão Âm Chi chuyển nghịch đến Tỵ là hết 6 hào Âm, Khôn khởi đầu là Mùi Âm Chi chuyển nghịch theo Âm Chi đến Dậu là hết 6 hào Âm, Đoài khởi đầu là Tỵ Âm Chi chuyển nghịch theo Âm Chi đến Mùi là hết 6 hào Âm).

(Tư liệu của Thiên Kỳ Quí. Bài “Nạp Giáp”. Pháp Vân. Mục “Bói Dịch”. Tuvilyso.com)

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
”Khảo Nguyên” chỉ giải thích một hiện tượng đã có sẵn và không hề có chứng minh (Tương tự như “Lã Hải Tập”. Nhưng phương pháp nạp giáp thể hiện bởi sự lý giải trong sách “Lã Hải Tập” có tính qui luật. Đã dẫn giải).
Bây giờ chúng ta khảo sát phương pháp nạp chi trong cổ thư chữ Hán qua cách lý giải của “Khảo Nguyên”.
Trước hết, chúng ta đều biết rằng:
Âm lịch phân một chu kỳ năm có 12 địa chi là:
1) . 2) Sửu . 3) Dần . 4) Mẹo . 5) Thìn . 6) Tỵ . 7) Ngọ . 8) Mùi . 9) Thân . 10) Dậu . 11) Tuất . 12) Hợi.
Theo qui tắc:

“Chi Âm nạp quái Âm và chi Dương nạp quái Dương”
“Chi Dương đều thuận hành, chi Âm đều nghịch chuyển”.

Như vậy, trong chu kỳ của 12 năm Địa chi, chỉ có thể phân Âm Dương của 12 Địa chi theo hai phương pháp như sau:

* Phương pháp 1
Phân chi Dương ra chi Dương và chi Âm ra chi Âm, như sau:

Dương:
1/ Tý – 3/ Dần – 5/ Thìn – 7/ Ngọ - 9/ Thân – 11/Tuất.

Âm:
2/ Sửu – 4/ Mão – 6/ Tỵ - 8/ Mùi – 10/ Dậu – 12/ Hợi.

Phân Âm Dương 12 chi theo phương pháp 1

* Phương pháp 2
Sáu chi đầu liên tiếp là Dương và sáu chi sau liên tiếp là Âm, như sau:

Dương:
1/ Tý – 2/ Sửu – 3/ Dần – 4/ Mẹo – 5/ Thìn – 6/ Tỵ.

Âm:
7/ Ngọ – 8/ Mùi – 9/ Thân – 10/ Dậu – 11/ Tuất – 12/ Hợi.

Phân Âm Dương 12 chi theo phương pháp 2

Trên cơ sở này, chúng ta bắt đầu so sánh thực tế qui tắc nạp chi theo cổ thư chữ Hán với cách phân Âm Dương 12 chi theo phương pháp 2.

* Nạp chi theo phương pháp 2
Phương pháp này phân Âm Dương của 12 chi như sau:

Chi Dương:
Gồm 6 chi đầu là:
Tý – Sửu – Dần – Mẹo – Thìn – Tỵ.

Chi Âm:
Gồm 6 chi sau là:
Ngọ - Mùi – Thân – Dậu – Tuất - Hợi.
Sách “Khảo nguyên” viết

Hễ Khôn tại nội quái thì Ất nạp với Địa Chi Mùi Tỵ Mão, tức là sơ lục là Ất Mùi, lục nhị là Ất Tỵ, lục tam là Ất Mão. Tại ngoại quái thì là Quý, nạp Sửu Hợi Dậu, tức là lục tứ là Quý Sửu, lục ngũ là Quý Hợi, thượng lục là Quý Dậu. (Đã dẫn)

Với sự ghi nhận cách giải thích trong sách “Khảo nguyên” và thực tế nạp chi của Bát quái được mô tả dưới đây:

Chi Dương:
1) Tý: Càn & Chấn – 2) Sửu: Tốn – 3) Dần: Khảm – 4) Mẹo: Ly - 5) Thìn: Cấn – 6) Tỵ: Đoài.

Chi Âm:
7) Ngọ: 0 – 8) Mùi: Khôn . 9) Thân: 0 – 10) Dậu: 0 – 11) Tuất: 0 – 12) Hợi: 0

Như vậy, chúng ta thấy rằng: Mặc nhiên, hai quái Càn và Khôn được nạp chi theo theo phương pháp 2 của 12 Địa chi. Tức là Càn nạp Tý (Đầu chi Dương và kết thúc ở Tỵ) và Khôn nạp Mùi (Chi Âm đầu tiên khởi từ Ngọ kết thúc ở Hợi).Với cách phân Âm Dương theo phương pháp 2 thì trước hết nó giải thích được việc quái Chấn không thể nạp chi Ngọ. Vì chi Ngọ thuộc phần Âm của cách phân Âm Dương nói trên.
Như vậy, với phương pháp 2 và thực tế nạp chi qua phần trình bày ở trên thì quí vị cũng nhận thấy rằng:
* Ngoại trừ hai quái Càn / Khôn nạp theo đúng phương pháp 2: Càn đầu quái Dương nạp Tý đầu chi Dương.
Khôn đầu quái Âm nạp Mùi đầu chi Âm theo phương pháp 2.
Nhưng tất cả những quái khác đều không tuân thủ qui luật này. Bởi vì: Nếu theo phương pháp 2 thì các chi Sửu – Mẹo – Tỵ đều thuộc chi Dương, không thể nạp quái Âm là Tốn – Ly – Đoài.
Đã có lời giải thích rằng:
Theo nguyên lý “Âm thuận tùng Dương” nên các quái Âm tương quan với quái Dương phải nạp chi Âm kế quái Dương. Nhưng so với chính lời giải thích này thì đó lại là sự bất hợp lý ngay trong phương pháp phân Âm Dương của phương pháp 2. Bởi vì, với phương pháp này thì các chi Sửu - Mẹo - Tỵ không được coi là các chi Âm.
* Ở chi Dương – theo phương pháp 2 – thì chỉ có 3 chi nạp quái, thừa ở chi đầu: vì có đến hai quái nạp chi Tý là Càn / Chấn? Còn đuôi thì thiếu, do không nạp chi Ngọ.
* Ở chi Âm – theo phương pháp 2 – thì chỉ có 1 chi được nạp quái. Đó là chi Mùi / nạp Khôn. Còn các chi khác thuộc Âm – theo cách phân Âm Dương của phương pháp 2 – đều không nạp quái nào.
* Ở các quái Dương nạp chi theo chiều thuận từ Càn / Tý => Khảm / Dần => Cấn / Thìn đến Chấn quay lại Tý. Nhưng ở các quái Âm thì chiều của các quái với chiều thuận của chi không có tính qui luật như trên:

2) Sửu nạp Tốn đến 4) Mẹo nạp Ly thuận chiều, nhưng 6) Tỵ nạp Đoài đến 8) Mùi nạp Khôn thì quái và chi lại nghịch chiều.
Bởi vậy, nếu phân Âm Dương của 12 chi theo phương pháp 2 thì tạp loạn, không theo qui luật nào (!?). Như vậy, theo “Khảo nguyên”, khi xét về Quái Dương thì thiếu, Âm thì loạn. Nếu xét về chi thì Dương thì thừa mà Âm thì thiếu.
Như vậy, sự ứng dụng phân Âm Dương của 12 chi theo phương pháp 2 (Được định tính bằng: Khôn – đầu quái Âm - nạp chi MùiCàn – đầu quái Dương – nạp chi Tý) không phải là nguyên lý nạp chi trong bốc Dịch.

Từ sự chứng minh này thì Khôn không thể nạp chi ở Mùi.

Điều này được chứng minh như sau:
Theo cách phân Âm Dương của 12 Địa chi theo phương pháp 2 là:

Chi Dương:
, Sửu , Dần, Mão, Thìn, Ty.

Chi Âm:
Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Theo cách phân Âm Dương này thì chi Ngọ đứng đầu các chi Âm.
Do đó nếu phân Âm Dương của 12 Địa chi theo phương pháp này thì Quái Khôn – đứng đầu các quái Âm – chỉ có thể nạp chi Ngọ là chi đứng đầu các chi Âm và không thể nạp chi Mùi – đứng thứ hai trong các chi Âm theo cách phân chia này. Nếu xác định Mùi là chi đứng đầu các chi Âm (Để nạp Khôn - quái đứng đầu quái Âm), thì tự nó đã chứng minh cách phân Âm Dương của 12 địa chi theo phương pháp 2 không phù hợp với việc nạp chi trong bốc Dịch. Bởi vậy, chúng ta phải chọn phương pháp 1 là phương pháp duy nhất còn lại trong việc phân Âm Dương của 12 Địa chi. Từ đó chúng ta sẽ quán xét tính hợp lý của phương pháp nạp chi trong bốc Dịch.

* Nạp chi theo phương pháp 1
Phương pháp này phân chi Dương ra chi Dương và chi Âm ra chi Âm, như sau:

Dương:
1) Tý – 3) Dần – 5) Thìn – 7) Ngọ - 9) Thân – 11)Tuất.

Âm:
2) Sửu – 4) Mẹo – 6) Tỵ - 8) Mùi – 10) Dậu – 12) Hợi.
Theo phương pháp này và so sánh với thực tế sẽ là:

Quái Dương phối chi Dương
1) Tý: Càn & Chấn

3)Dần: Khảm
5) Thìn: Cấn
7)Ngọ / 0

Quái Âm phối chi Âm
2) Sửu: Tốn
4) Mão: Ly
6)Tỵ: Đoài
8) Mùi: Khôn

Đồ hình minh họa nạp chi theo phương pháp 1

Xét cách nạp chi theo phương pháp này, bạn đọc cũng thấy rằng những quái Âm thì nạp chi Âm và những quái Dương thì nạp chi Dương phù hợp với nguyên lý quái Âm nạp chi Âm và quái Dương nạp chi Dương. Phương pháp nạp chi này được lựa chọn vì tính hợp lý so với phương pháp nạp chi 2 đã trình bày ở trên.
Bây giờ chúng ta đi vào quán xét tính qui luật chi tiết cho từng quái:
Từ sự thể hiện ở trên, bạn đọc cũng dễ dàng nhận thấy rằng: Ở chi Dương thì các quái thừa chi đầu (Càn & Chấn) và thiếu chi cuối (Chi Ngọ không được nạp quái nào).
Nhưng nếu nạp chi theo phương pháp 1 thì chi Mùi không phải là đầu quái Âm, mà là chi Sửu.
Vậy, nếu coi Khôn là đầu quái Âm thì với cách phân Âm Dương 12 chi theo phương pháp 1:
Khôn cũng sẽ không thể nạp ở Mùi.
Vì lúc này chi Mùi cũng không phải là chi đứng đầu các chi Âm. Mà là chi Sửu.
Như vậy, với cả hai phương pháp phân Âm Dương cho 12 Địa chi đều chứng minh rằng:

Khôn không thể nạp chi Mùi.
Bây giờ chúng ta lại khảo sát một cách lý giải khác.
Sự lý giải này căn cứ theo tính chất qui ước của quái và sự nạp chi phụ thuộc vào tính chất này.

2. Phương pháp nạp chi theo tính chất quái

Phương pháp này lý giải như sau:

Càn Khôn là thủ lãnh, chủ tể của Dương và Âm, do đó Càn khởi nạp (Chi) tại Tí, và Khôn khởi nạp tại Mùi ... Chủ tể Âm Dương, để cho rõ nghĩa xin gọi theo nghĩa gia đình cho dễ hiểu là Càn là Cha, Khôn là Mẹ sau đó sinh ra 6 con, ba trai và ba gái:
(1) Dương = Trưởng Nam = Chấn , (2) Âm = Trưởng Nữ = Tốn
(3) Dương = Trung Nam = Khảm, (4) Âm = Trung Nữ = Ly
(5) Dương = Thiếu Nam = Cấn, và (6) Âm = Thiếu Nữ = Đoài
Nạp Chi Càn (Cha) = Tí Dần Thìn Ngọ Thân Tuất (Chi Dương)
Nạp Chi Khôn (Mẹ) = Mùi Tỵ Mão Sửu Hợi Dậu (Âm)
Trưởng nam thay Cha cùng Trưởng Nữ hợp cùng để dẫn dắt các em gánh vác sự nghiệp), vì thế Chấn thay Càn nạp chi tại tí (Dương) đi lên theo chiều thuận ,hợp cùng Tốn nạp chi khởi tại Sửu (Âm) cùng đi lên theo chiều nghịch, tiếp theo thứ tự là Trung Nam hợp cùng Trung Nữ và Thiếu Nam hợp cùng Thiếu Nữ...
Tóm lược theo lý trên cách nạp chi của 6 con theo thứ tự như sau:

Quẻ Dương: nạp chi gồm chi Dương:
Theo thứ tự từ vai vế: Trưởng Nam rồi kế đến là Trung Nam, và sau mới là Thiếu Nam:
Chấn (Trưởng Nam) = Khởi tại Tí rồi Dần v.v...
Khảm (Trung Nam) = (Tiếp theo Tí) Khởi tại Dần rồi đến Thìn...
Cấn (Thiếu Nam) = (Tiếp theo Dần) Khởi tại Thìn, rồi đến Ngọ.vv.

Quẻ Âm: nạp chi gồm các chi Âm: (Cũng theo thứ tự trên): Trưởng Nữ, rồi đến Trung Nữ theo sau là Thiếu Nữ:
Tốn (Trưởng Nữ) = Khởi tại Sửu rồi đến Mão ....
Ly (Trung Nữ) = Khởi tại Mão ....
Đoài (Thiếu Nữ) = Khởi tại Tỵ ....
Tóm lại: Trời đất (cha mẹ) định vị tại Tí Mùi, và tiếp nối là 3 cặp theo vai vế:
1)Trưởng Nam cùng Trưởng Nữ khởi tại Tí Sửu (Chấn Tốn)
2)Trung Nam cùng Trung Nữ khởi từ Dần Mão (Khảm Ly)
3)Thiếu Nam cùng Thiếu Nữ khởi tại Thìn Tỵ (Cấn Đoài)
(Tư liệu Thiên Kỳ Quí. Bài “Nạp Giáp”. Pháp Vân. Mục “Bói Dịch”. Tuvilyso.com)

Qua đoạn trích dẫn ở trên thì cách giải thích này có một sự hợp lý hình thức cho sự giải thích của nó. Sự hợp lý hình thức rất tuyệt vời này thể hiện ở đoạn đã trích dẫn sau:
1)Trưởng Nam (Chấn) cùng Trưởng Nữ (Tốn) khởi tại Tí Sửu .
2)Trung Nam (Khảm) cùng Trung Nữ (Ly) khởi từ Dần Mão.
3)Thiếu Nam (Cấn) cùng Thiếu Nữ (Đoài) khởi tại Thìn Tỵ.
Chúng ta sẽ thấy tính qui luật liên tiếp về Địa chi qua các cặp Âm Dương là: Tí & Sửu, Dần & Mão, Thìn & Tỵ phối hợp một cách hài hoà với tính chất quái vị , biểu tượng bằng các cặp nam & nữ theo thuận tự lần lượt là Trưởng – Trung - Thứ (Út).
Nhưng tính mâu thuẫn của cách lý giải này là:
* Lặp lại mâu thuẫn của cách phân Âm Dương theo “từng đoạn 6 năm”. Tức là: Càn phối với Tý và Khôn phối với Mùi. Mâu thuẫn của phương pháp này đã chứng minh ở phần trên.
* Có mâu thuẫn nội tại theo cách giải thích này là: Nếu cho rằng:

”Trưởng Nam thay Cha cùng Trưởng Nữ hợp cùng để dẫn dắt các em gánh vác sự nghiệp, vì thế Chấn thay Càn nạp chi tại Tí (Dương) đi lên theo chiều thuận , hợp cùng Tốn nạp chi khởi tại Sửu (Âm) cùng đi lên theo chiều nghịch.”

Thì điều tất yếu quái Khôn (Mẹ) sẽ phải nạp chi Sửu cùng với Tốn (Trưởng Nữ) để bảo đảm tính nhất quán tương ứng với Càn (Cha) nạp chi Tý với Chấn (Trưởng Nam). Nhưng ở đây, Khôn (Mẹ) lại nạp chi Mùi !?
Để tiện theo dõi, bạn đọc xem hình mô tả như sau:

Đồ hình lý giải phương pháp nạp chi theo tính chất quái

Như vậy, qua những phần trích dẫn và chứng minh ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:

Thực tế nạp chi theo sách Hán cổ không có tính qui luật dù giải thích bằng bất cứ phương pháp nào, cho những nguyên tắc chính từ cổ thư chữ Hán để lại.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời nói đầu
  2. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Lê Gia
  3. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Hoàng Tuấn
  4. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 1
  5. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 2
  6. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 3
  7. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 1
  8. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 2
  9. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 3
  10. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 4
  11. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1
  12. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 1
  13. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 2
  14. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 3
  15. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 2
  16. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 3
  17. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 1
  18. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 1
  19. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 2
  20. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - Phụ chương
  21. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3
  22. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3 - Phụ chương
  23. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 2
  24. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 1
  25. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 2
  26. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Thay lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Chương II: Hà đồ và bí ẩn 60 hoa giáp. Phần này là một sự bổ sung rất quan trong cho cuốn sách đã xuất bản: “Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa ...

Phụ chương: Chia tay nền Đông y Trung Hoa. Trên website Tuổi Trẻ Online, thứ Ba, 24 .10 .2006 có bài viết rất đáng chú ý . Hiện tượng nêu trong bài viết này cho ...

Chương III: Lạc thư hoa Giáp. Lý giải các vân đề liên quan: Trên cơ sở tiêu chí khoa học cho một lý thuyết hoặc một phương pháp khoa học, thì tính hợp lý ...

Phụ chương: Giải mã bài khẩu quyết. Bài khẩu quyết học thuộc lòng cho những người mới học Tử Vi về nạp âm 60 hoa giáp là:

Hà đồ và nguyên lý nghịch trong cấu thành Hoa giáp từ cổ thư chữ Hán: Trong phần trên, người viết đã hân hạnh lưu ý bạn đọc về hai hiện tượng mang ...

Chương II: Hà đồ và bí ẩn 60 hoa giáp. Phần này là một sự bổ sung rất quan trong cho cuốn sách đã xuất bản: “Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa ...

Phần IV: Hà đồ và thời gian ứng dụng trong học thuật cổ Đông Phương. Trong phần trên, người viết đã chứng minh chính qui luật vận động và tương tác ...

Chương III: Di sản văn hiến Việt và những hiệu ứng vũ trụ trong thuyết Âm Dương ngũ hành. Trước khi tiếp tục minh chứng nền văn hiến Việt một thời huy ...

Chương II: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Thực tại vũ trụ và tính qui luật trong tử vi đẩu số”Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu ...

Hà đồ và  huyền không phi tinh trong phong thủy. Trong những yếu tố căn bản qui ước của phương pháp này, cổ thư chữ Hán ghi nhận sự vận động thay đổi ...