Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3

Ngày đăng: Thứ sáu 04/07/2008 12:00:00 (GMT +7)

Sự lý giải này sẽ chứng tỏ tính nhất quán và hoàn chỉnh, tính quy luật, tính hợp lý, còn về khả năng tiên tri thì có lẽ không cần phải đặt ra.
Bởi vì, những phương pháp tiên tri vẫn ứng dụng từ trước khi có đồ hình Hà Lạc và Tiên Hậu thiên trong văn minh Hán cả ngàn năm, sau đó cả ngàn năm. Cho đến bây giờ, với sự phục hồi của nền văn hiến Lạc Việt , nó vẫn tiếp tục tiên tri như đã tiên tri từ hàng thiên niên kỷ. Chỉ có khác chăng là: Khi rơi vào trường hợp sai lệch này - rất hãn hữu trong ứng dụng cụ thể - thì tuỳ các nhà tiên tri sẽ thuận theo những qui luật được chứng minh trong sách này, hay cứ theo sách Hán cổ.
Những điều mà người viết hân hạnh trình bày với bạn đọc, chủ yếu là phục hồi và chứng minh cho một lý thuyết khoa học và một thực tại đứng đằng sau nó, trên cơ sở khoa học, nhân danh những tiêu chí khoa học hiện đại.
Tuân thủ tiêu chí khoa học, người viết tiếp tục trình bày những tính hợp lý trong việc lý giải độ số cục ứng dụng trong Tử Vi là một yếu tố quan trọng trong những hiện tượng liên quan đến nó.

Tính hợp lý của độ số cục trong tử vi và Lạc thư hoa Giáp

Hầu hết những người có tìm hiểu về Tử Vi đều biết cục số của Tử Vi lưu truyền trong cổ thư chữ Hán là:

Thủy - NHỊ Cục.
Mộc Tam Cục.
Kim Tứ Cục
Thổ Ngũ Cục
Hỏa - LỤC Cục

Bây giờ chúng ta cùng quán xét độ số trên Hà đồ với độ số cục do cổ thư viết bằng chữ Hán thì chúng khác nhau ở cục số của Thủy / Hỏa.
Điều này được mô tả như sau:

Như vậy; chúng ta cũng nhận thấy rằng sự sai lệnh này ở đúng vị trí của hai hành Thuỷ/Hỏa. Chúng ta cũng biết rằng:

Hành của cục trong Tử Vi chính là hành của tháng an Mệnh theo năm sinh của đương số.

Bởi vậy, khi Thuỷ/ Hỏa đã đổi chỗ cho nhau trong Lục thập hoa giáp thì hành của cục cũng sẽ đổi Thủy & Hỏa. Điều này được miêu tả so sánh như sau:

Qua sự so sánh trên, chúng ta lại thấy một sự trùng khớp hợp lý giữa độ số cục trong Lạc thư hoa giáp với Hà đồ, vốn là nguyên lý căn bản của nó.
Còn bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán thì ngay cả người Hán cũng chẳng biết nguyên lý nào tạo ra nó và rối mù. Trước hết là không có tính nhất quán bởi độ số cục ngay từ đồ hình khởi nguyên của nó là Hà đồ (Đã chứng minh ở trên: Nguyên lý nghịch chiều tương sinh của Hà đồ).
Người viết đã hân hạnh trình bày về tính qui luật và khả năng tiên tri là hai trong số những tiêu chí để thẩm định một lý thuyết khoa học.

Không có tính qui luật thì không có khả năng tiên tri.

Xét về góc độ khoa học thì khả năng tồn tại một phương pháp tiên tri là hệ quả tất yếu của một lý thuyết khoa học đã hoàn chỉnh. Bởi vậy, tính qui luật là không thể thiếu được, đó là yếu tố cần trong một lý thuyết thống nhất và hoàn chỉnh. Điều này không thể tìm thấy trong các bản văn chữ Hán lưu truyền từ hàng ngàn năm nay. Bởi vì, một lý thuyết tiền đề bị thất truyền. Khả năng tiên tri trong các phương pháp ứng dụng từ các cổ thư này - vốn là hệ quả của một lý thuyết - bị hạn chế bởi những sai lệch.

Ứng dụng của cục số trong Lạc thư hoa Giáp và tử vi

Từ khi cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp” được phát hành 1999, đã được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về ảnh hưởng của sự thay đổi hành Thủy & Hỏa trong Lạc thư hoa giáp trong ứng dụng .Do đó, người viết xin được dành phần này để nói rõ hơn về thực chất của sự thay đổi hai hành Thủy & Hỏa trong bảng Hoa giáp.
* Sự thay đổi Thủy Hỏa trong bảng hoa giáp chỉ giới hạn trong hai hành Thủy và Hỏa, không có sự thay đổi ở các hành khác.
* Sự thay đổi Thủy Hỏa trong bảng hoa giáp chỉ giới hạn ở nạp âm trong chu kỳ 60 hoa giáp, không phải là sự thay đổi ở những vấn đề liên quan khác giữa Thủy & Hỏa trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Có người cho rằng sự thay đổi này trong bảng hoa giáp thì Thủy & Hỏa trong thập Thiên Can và Địa chi cũng phải thay đổi là một sai lầm. Thí dụ như cho rằng: Bính Đinh Hỏa phải đổi thành Thủy, hoặc Tỵ Ngọ Hỏa cũng đổi thành Thủy là sai lầm.
* Sự thay đổi Thủy & Hỏa trong bảng hoa giáp là một sự hiểu chỉnh hạn chế chỉ ứng dụng trong hai hành Thủy & Hỏa, chứ không phải là một sự phủ định tính tương tác của Ngũ hành trong bảng hoa giáp với những vấn đề liên quan.
* Sự thay đổi hành Thủy & Hỏa trong Lạc thư hoa giáp so với Lục thập hoa giáp chứng tỏ sự sai lệch trong cổ thư chữ Hán truyền lại, là một trong sự phát triển tất yếu tiến tới sự hoàn chỉnh, nhất quán, nhằm chứng tỏ quan niệm cho rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh và là một lý thuyết thống nhất, giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người với khả năng tiên tri. Học thuyết này thuộc về dân tộc Việt, là nền tảng của danh xưng văn hiến với lịch sử gần 5000 năm của dân tộc Việt và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. Quan niệm này nhân danh khoa học, nên nó phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí của khoa học hiện đại.

Bảng Hoa giáp là một trong những nguyên tắc căn bản về thời gian trong những ứng dụng của học thuật cổ Đông phương. Cho nên,tính tất yếu của sự hiệu chỉnh hai hành Thủy & Hỏa này sẽ dẫn đến sự hiểu chỉnh trong một số sự ứng dụng liên quan. Những bộ môn ứng dụng nào không liên quan đến nạp âm Ngũ hành trong bảng Hoa giáp sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự hiệu chỉnh này. Thí dụ trong Tử Vi sự hiệu chỉnh này sẽ ảnh hưởng tới những người có cục và Mệnh thuộc Thủy và Hỏa.
Trong trường hợp chúng ta lấy Tử vi theo các chương trình Tử vi vi tính đã lập sẵn - vốn căn cứ theo bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán - thì chỉ khi:
* Gặp mạng Thủy và Hỏa sẽ đối chiếu với bảng Lạc thư hoa giáp để hiệu chỉnh lại. Thí dụ: trước đây mạng là: Giáng Hạ Thủy, nay là Lư Trung Hỏa.
* Gặp cục Thủy & Hỏa thì sửa đổi lại và tất yếu những chòm sao và sao liên quan đến Cục Thủy hay Hỏa phải an lại theo đúng tính chất của cục đó.
Thí dụ:
Theo sách cổ chữ Hán, đương số có Thủy Nhị Cục. Vì Thủy cục nên Trường sinh bắt đầu từ Thân. Nay theo Lạc thư hoa giáp là Hỏa Nhị Cục, Trường sinh bắt đầu từ Dần.
* Tất cả những câu phú và phương pháp luận đoán liên quan đến Thủy & Hỏa vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng ứng dụng cho bảng Lạc thư hoa giáp. Thí dụ:
Người có mệnh (Hoặc hạn) gặp Tử Phủ cư Dần tốt cho Hỏa và không tốt cho Thủy vẫn nguyên giá trị.
Nhưng điều này ứng dụng cho Lạc thư hoa giáp.
Sự luận đoán đúng sai vẫn còn tuỳ thuộc vào yếu tố khả năng của người luận đoán. Nhưng cùng một người luận đoán và một phương pháp luận đoán sẽ là sự kiểm chứng tính chính xác của Lạc thư hoa giáp.
Một trong những tiêu chí khoa học là:

Không có tính quy luật thì không thể có khả năng tiên tri. Nền văn minh Lạc Việt, từ những di sản văn hoá phi vật thể đã chứng tỏ tính hoàn chỉnh, nhất quán, tính quy luật, khả năng giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan và khả năng tiên tri. Người viết rất cảm ơn sự quan tâm của quí vị nghiên cứu về môn Tử Vi sẽ có thời gian thực nghiệm tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp, nhân danh nền văn minh Lạc Việt với gần 5000 năm văn hiến.
Để dễ dàng cho sự chứng nghiệm cụ thể trong ứng dụng, bạn đọc quan tâm có thể vào website vietlyso.com thuộc Trung tâm nghiên cứu nguyên lý học thuật cổ Đông phương để chép về trình Tử Vi Lạc Việt .

Giáp hợp kỷ hóa Thổ

Lạc thư hoa giáp & vận khí trong “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”

Tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp không chỉ giới hạn ở sự ứng dụng liên quan quan đến phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành đối với các cổ thư chữ Hán được công bố sau thời Hán. Ngay cả đối với cổ thư chữ Hán mà theo nội dung bản văn có từ trước Hán cũng chứng tỏ tính hợp lý của nó. Đó chính là sự lý giải của Lạc thư hoa giáp trong một nguyên lý bí ẩn được lưu truyền sau đây, trong cổ thư chữ Hán:

Giáp hợp Kỷ hoá Thổ.
Ất hợp Canh hoá Kim
Mậu hợp Quí hoá Hỏa
Nhâm hợp Đinh hoá Mộc
Bính hợp Tân hoá Thuỷ.

Tiền đề này được ghi nhận trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn – một cuốn sách được coi là cổ nhất trong các sách liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành – thời Hoàng Đế có niên đại ước tính 4000 năm trước CN. Trước cả thời vua Đại Vũ tìm ra Lạc thư trên lưng rùa và phát hiện ra Ngũ hành khỏang 2000 năm (Xét theo danh tính nhân vật thể hiện trong nội dung bản văn). Tất nhiên đây là điều vô lý! Các nhà nghiên cứu hiện đại – trong đó có cả Trung Hoa – cho rằng: Thời đại ra đời của cuốn Hoàng Đế nội kinh chỉ có thể xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước CN. Tôi không bảo họ sai. Họ có quyền đưa ra những luận cứ để tìm một giả thuyết hợp lý cho niên đại xuất hiện của cuốn Hoàng Đế nội kinh. Nhưng với bất cứ giả thuyết nào thì cũng là sự phủ nhận giá trị niên đại lịch sử - thời Hoàng Đế – theo nội dung cuốn sách. Đây sẽ là một hiệu ứng dây chuyền dẫn đến sự xét lại toàn bộ giá trị lịch sử của tất cả các thư tịch cổ chữ Hán liên quan đến học thuật cổ Đông phương. Điều này đã xảy ra trên thực tế, bởi chính các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa, do tính mâu thuẫn nội tại trong nội dung tương quan thể hiện thời gian lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành từ cổ thư chữ Hán và cả từ những sai lệch có tính căn bản trong học thuyết này . Điều này được minh chứng ngay sau đây.
Trong phần: Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của Thập Thiên Can, người viết đã hân hạnh trình bày với quí vị về sự giải thích tính tương hợp của thập Thiên Can. Điều mà từ cổ thư chữ Hán cho đến những nhà nghiên cứu hiện đại cũng rất mơ hồ (Đã chứng minh). Nhưng trong tiền đề này, sự bí ẩn đã tăng thêm phần ngạc nhiên nữa là:

Tại sao: Giáp hợp Kỷ lại hoá Thổ ?….

Những học giả Trung Hoa hiện đại cũng đã có những cố gắng giải thích hiện tượng này. Xin quí vị quan tâm xem đoạn trích dẫn sau
đây:
Trong cuốn Dự đoán theo tứ trụ ông Thiệu Vĩ Hoa có đưa ra hai cách lý giải sau đây:

1- Giáp hợp với Kỷ hóa Thổ là năm Giáp, năm Kỷ lấy Bính làm đầu, Bính Dần là tháng giêng của năm Giáp, năm Kỷ. Bính là Hỏa, Hỏa sinh Thổ nên Giáp hợp Kỷ hóa Thổ.
Ất hợp với Canh hóa Kim là nói năm Ất, năm Canh lấy Mậu làm đầu, Mậu Dần là tháng giêng của năm Ất, năm Canh. Mậu là Thổ, Thổ sinh Kim nên Ất hợp Canh hóa Kim.
Bính hợp với Tân hóa Thủy là nói năm Bính, năm Tân lấy Canh làm đầu, Canh Dần là tháng giêng của năm Bính, năm Tân. Canh là Kim, Kim sinh Thủy nên Bính hợp với Tân hóa Thủy.
Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc là nói năm Đinh, năm Nhâm là lấy Nhâm làm đầu, tức Nhâm Dần là tháng giêng của năm Đinh, năm Nhâm. Nhâm là Thủy, Thủy sinh Mộc nên gọi Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc.
Mậu hợp Quí hóa Hỏa, tức là năm Mậu, năm Quí lấy Giáp làm đầu, Giáp Dần là tháng giêng của các năm Mậu, năm Quí. Giáp là Mộc, Mộc sinh Hỏa nên Mậu hợp Quí hóa Hỏa.

2- Có ý kiến nói mười can hóa hợp với nhau là do phương vị của 28 ngôi sao trên trời quyết định.
Mười can hóa hợp là Dương hợp với Âm , Âm hợp với Dương, là Âm Dương hóa hợp. Sách “Chu Dịch” có câu: “Một Âm, một Dương gọi là một đạo.” Âm Dương hợp với nhau như nam nữ hợp với nhau để thành đạo vợ chồng.
Trong sách Hoàng Đế Nội kinh với suy đoán vận khí, tác giả Đàm Thành Mậu cũng nhắc tới tiền đề trên mà ông đã ứng dụng trong việc suy đoán vận khí cho những lý luận trong y học. Ông lý giải như sau:
”Tại sao thuộc tính của Thiên Can hóa năm vận lại không đồng nhất? Đó là bởi vì Thiên Can ghép với Ngũ hành là lấy quan hệ năm phương, năm mùa để xác định, mà năm vận thì căn cứ vào biến hóa tượng Trời, cũng chính là sự biến hóa của các sao trên trời”.

Qua phần trích dẫn, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
Cho đến tận bây giờ trải hàng thiên niên kỷ - các nhà lý học Trung Hoa cũng chỉ có những sự lý giải mơ hồ tiền đề nói trên. Như vậy, mặc dù nền văn minh Hoa Hạ tự nhận là cội nguồn của nền Lý học Đông phương, nhưng những hậu duệ tài năng của nền văn minh Hoa Hạ trong suốt hàng ngàn năm vẫn không thể lý giải được bí ẩn những giá trị văn hoá mà họ cho là của chính họ. Không chỉ một hiện tượng này, mà hàng loạt những hiện tượng tương tự khác đã chứng tỏ không hề có tính thừa kế trong sự hình thành và phát triển, liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh Hoa Hạ. Nhưng những bí ẩn đó lại được lý giải một cách hợp lý, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính qui luật và khả năng tiên tri hoàn hảo từ nền văn minh Lạc Việt. Điều này được chứng tỏ với Lạc thư hoa giáp – mà nguồn gốc của nó từ đồ hình huyền bí trong nền Lý học Đông phương là Hà đồ, Pháp Đại uy nỗ – trong văn minh Lạc Việt.
Trước khi đi vào chứng minh tính hợp lý trong việc lý giải các vấn đề liên quan của Lạc thư hoa giáp, Bạn đọc quan tâm xem lại đồ hình Lạc thư Hoa giáp của người Lạc Việt thể hiện bằng hình tròn dưới đây:

Qua đồ hình này quí vị cũng nhận thấy rằng:
Một chu kỳ Lạc thư hoa giáp (Một Kỷ/30 năm) được chia làm năm phần (Ngũ Vận) và một vận gồm 6 năm (Lục khí). Điều này không bao giờ có thể được thực hiện ở bảng Hoa Giáp trong cổ thư chữ Hán vì sự sai lệch giữa hành Thủy và Hỏa.
Trên cơ sở Lục Khí và Ngũ vận theo Lạc thư hoa giáp chúng ta so sánh với chu kỳ 60 năm vận khí được thể hiện trong sách Hoàng Đế nội kinh Tố vấn như sau:



Qua bảng trên cho chúng ta thấy một sự trùng khớp hoàn toàn những khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành với Ngũ Vận và lục khí trong Lạc thư hoa giáp và cũng là sự giải thích hoàn hảo cho tiền đề bí ẩn là luận đề của riêng phần này, Giáp hợp Kỷ hoá Thổ. Điều này được nói rõ hơn như sau:

1. Giáp hợp Kỷ hoá Thổ.
Từ Giáp Tý đến Kỷ Tỵ (Một vận/6 năm).
Bắt đầu từ Thái Cung Thổ vận, kết thúc ở Thiếu Cung Thổ vận.

2. Ất hợp Canh hoá Kim.
Từ Canh Ngọ đến Ất Hợi (Một vận/6 năm).
Bắt đầu từ Thái Thương Kim vận, kết thúc ở Thiếu Thương Kim vận.

3. Bính hợp Tân hoá Thuỷ.
Từ Bính Tý đến Tân Tỵ (Một vận/6 năm).
Bắt đầu từ Thái Vũ Thủy vận, kết thúc ở Thiếu Vũ Thủy vận.

4. Nhâm hợp Đinh hoá Mộc.
Từ Nhâm Ngọ đến Đinh Hợi (Một vận/6 năm).
Bắt đầu từ Thái Giác Mộc vận, kết thúc ở Thiếu Giác Mộc vận.

5. Mậu hợp Quý hoá Hỏa.
Từ Mậu Tý đến Quý Tỵ (Một vận/6 năm).
Bắt đầu từ Thái Chuỷ Hỏa vận, kết thúc ở Thiếu Chuỷ Hỏa vận.

Hiện tượng của một tiền đề bí ẩn trong các phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương - một lần nữa - lại cho thấy chỉ có thể lý giải từ Lạc thư hoa giáp được phục hồi từ văn minh Lạc Việt, bởi tính chất thể hiện Ngũ vận và Lục khí trong một Kỷ của nó. Trong bảng Hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán không thể nào thể hiện được điều này. Do đó, người ta không thể nào có sự liên hệ so sánh. Đó là nguyên nhân chính để các nhà nghiên cứu Lý học Đông phương trải qua hơn 2000 năm không phát hiện được sự bí ẩn của bài phú truyền nói trên. Sự tương ứng ngũ âm vận của bài phú truyền với ngũ vận trong Lạc thư hoa giáp lại chứng tỏ rõ nét tính đồng đẳng trong sự tuơng quan giữa vận khí trong một vận với Thiên Can.
Như vậy, với sự chứng minh ở trên đã chứng tỏ rằng:
Tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp dựa trên nền tảng căn bản của nó là Hà đồ đã chứng minh quan điểm cho rằng:
Hà đồ là nền tảng ứng dụng của khoa thiên văn cổ Văn Lang, hệ quả và sự phát triển của hệ thống vũ trụ quan Âm Dương Ngũ hành. Từ đó, khẳng định tính nhất quán và hoàn chỉnh của học thuyết này đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội Đông phương cổ và cội nguồn của nó không thể bắt đầu từ nền văn minh Hoa Hạ. Sự phục hồi và hiệu chỉnh từ những vấn đề có tính căn bản của học thuyết này qua phương pháp ứng dụng từ văn minh Lạc Việt đã chứng tỏ rằng:
Nền văn minh Văn Lang đã tồn tại huy hoàng gần 3000 năm. Đó là một sự lý giải hợp lý cho thời gian hình thành, phát triển của một học thuyết tầm cỡ mà sự ứng dụng của nó bao trùm lên mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và con người một cách sâu sắc vi diệu. Đây cũng là một sự chứng minh chủ nhân đích thực của Âm Dương lịch Đông phương thuộc về nền văn minh Văn Lang, khẳng định câu ca dao của tổ tiên truyền lại và được dân gian trân trọng lưu truyền qua hàng thiên niên kỷ.

Ai về nhắn họ Hy – Hòa
Nhuận năm sao chẳng nhuận vài trống canh.

Bởi vậy – mặc dù có một số di tích khảo cổ tìm được trên vùng đất sinh sống của người Hoa Hạ (Tại Ân Khư / Thủ đô của nhà Ân Thương thuộc Trung Hoa cổ đại) và những thư tịch lưu truyền sau này về Âm Dương lịch gần như hoàn toàn bằng bản văn chữ Hán – thì ngay cả những hiện tượng mang tính hình thức đó, cũng không đủ cơ sở để chứng minh văn minh Hoa Hạ là chủ nhân đích thực của Âm Dương lịch Đông phương, vì những sai lệch và mơ hồ của nó. Sự tồn tại của những di vật khảo cổ trên đất nước Trung Hoa hiện nay, không có nghĩa rằng cội nguồn của nó – có niên đại tính bằng thiên niên kỷ - thuộc về văn minh Hán. Cũng như những bản văn cổ có nội dung liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành được thể hiện bằng hình thức văn tự Hán, thì điều này cũng không chứng tỏ được cội nguồn của nội dung ấy thuộc về văn minh Hán. Bởi vì, với một đế chế bao trùm các quốc gia lân bang bị chinh phục, thì phải có sự thống nhất về ngôn ngữ và chữ viết là một điều kiện tất yếu để bảo đảm tính thống nhất của đế chế. Trải hàng ngàn năm – đây không phải là con số định lượng thời gian vô cảm nói trong một giây – thì tất cả mọi tinh hoa của các dân tộc bị chinh phục tất yếu phải chuyển sang văn tự Hán. Do đó, với hình thức văn tự Hán không phải là điều chứng tỏ nội dung cội nguồn cũng thuộc về văn minh Hoa Hạ, khi mà tính mâu thuẫn trong lịch sử phát triển của thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái, cùng với những mâu thuẫn trong tương quan nội dung của nó không thể lý giải được.
Điều này chứng tỏ rằng nền văn minh Hoa Hạ chỉ tiếp thu một cách không hoàn chỉnh một nền văn minh đã mất và bị Hán hoá.
Những chứng minh ở trên cho thấy:

Nền văn minh Lạc Việt – một thời trải gần 3000 năm kỳ vĩ ở miền Nam sông Dương tử – là chủ nhân đích thực của nền Lý học cổ Đông phương.

Chính những giá trị văn hiến đồ sộ với bề dày của nền văn minh này, nên cho đến tận bây giờ, dù qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử, nhưng chỉ với những di sản ít ỏi còn lại, cũng đủ để phục hồi lại những giá trị đích thực của nó.
Chính sự phát triển của tri thức khoa học hiện đại, cho đến ngày nay, mới đủ hình thành những tiêu chí khoa học để thẩm định một chân lý. Và lúc ấy mới hội đủ những nhân duyên để phục hồi nền văn minh Khoa Đẩu kỳ vĩ của người Lạc Việt. Di huấn của tổ tiên đã để lại qua truyện Trê Cóc:
Cóc Mẹ (Biểu tượng của văn minh Lạc Việt) không ở dưới nước (Tức là đã mất nước). Nên đàn nòng nọc (Văn minh Khoa Đẩu) bị cá Trê lấy mất. Cóc mẹ thưa kiện bị sự thiển cận chỉ nhìn thấy hình thức giống Trê của Nòng Nọc nên xử Mẹ Cóc thua kiện (Những bản văn ghi lại những giá trị văn hoá Phương Đông bằng chữ Hán). Mẹ Cóc đau khổ vì mất con. Nhưng Nhái Bén đã khuyên Mẹ Cóc hãy chờ đợi: Chính những quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và con người khi đủ nhân duyên thì con của Cóc sẽ về với Mẹ Cóc.

Nền văn minh Khoa Đẩu rực rỡ và đầy tính nhân bản sẽ trở về với chủ nhân đích thực của nó là người Lạc Việt.

Mẹ Cóc đã đợi chờ. Phải chăng thời gian đã đủ nhân duyên như lời một bài ca nổi tiếng Hòn vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương:

Ta cố đợi ngàn năm
Một ngàn năm nữa sẽ qua…

 

Mời xem các bài khác:

  1. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời nói đầu
  2. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Lê Gia
  3. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Hoàng Tuấn
  4. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 1
  5. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 2
  6. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 3
  7. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 1
  8. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 2
  9. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 3
  10. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 4
  11. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1
  12. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 1
  13. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 2
  14. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 3
  15. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 2
  16. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 3
  17. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 1
  18. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 1
  19. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 2
  20. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - Phụ chương
  21. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3 - Phụ chương
  22. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 1
  23. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 2
  24. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 1
  25. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 2
  26. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Thay lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Hà đồ và  huyền không phi tinh trong phong thủy. Trong những yếu tố căn bản qui ước của phương pháp này, cổ thư chữ Hán ghi nhận sự vận động thay đổi ...

Nguyên lý quái Cấn nhập trung cung và Hà đồ. Thực tại vũ trụ của phong Thủy Lạc Việt: Sự chứng minh ở trên đã cho thấy rằng:   Hà đồ phối Hậu thiên ...

Tứ trạch trong Hậu thiên Lạc Việt và Hà đồ. Tính phi qui luật của Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư: Trước khi minh chứng tính hợp lý của nguyên lý căn ...

Phần III: Hà đồ trong không gian ứng dụng của học thuật cổ Đông Phương. Chương I: Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt và tính quy luật trong phong thuỷ. Trong ...

Phụ chương: Giải mã những hiện tượng văn hóa dân gian liên quan. Người viết một lần nữa xin được lưu ý bạn đọc quan tâm là:Tất cả những sự giải mã ...

Chương III: Hà đồ và hậu thiên bát quái Lạc Việt. 1. Nguyên lý căn bản của học thuật cổ Đông Phương: Trong phần trên, người viết đã chứng minh với bạn ...

Chương II: Nội dung của Hà đồ từ văn minh Lạc Việt. Hệ từ viết:”Hà xuất đồ,Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”.Mọi sự suy luận sẽ bế tắc và không ...

Phần II- Hà đồ trong văn minh Lạc Việt. Dịch viết: ”Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”

Chương III: Ứng dụng của Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Trong cổ thư chữ Hán trải hàng ngàn năm cho đến nay, người ta không thể nào tìm thấy sự ghi nhận ...

Chương II: Nội dung của Hà đồ qua cổ thư chữ Hán. Mặc dù tranh luận sôi nổi vậy, ngay cả những bậc túc nho khả kính thuộc văn minh Hán – cũng không thể ...