Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 2

Ngày đăng: Thứ sáu 04/07/2008 12:00:00 (GMT +7)

Bây giờ, chúng ta lại xét đến độ số được sử dụng trong “Tinh lịch khảo nguyên”.

Tinh lịch khảo nguyên viết:

Trong 49 giảm bớt đi, số thừa đủ 10 trở đi dư 1, 6 là Thủy; dư 2, 7 là Hỏa; dư 3, 8 là Mộc; dư 4, 9 là Kim; dư 5,10 là Thổ, đều dùng chỗ Ngũ hành sinh làm nạp âm, như thế thì giống với Hà đồ. Lại như phép đếm cỏ thi dùng sách thừa để định cơ (lẻ) ngẫu (chẵn), như thế dùng số thừa để định Ngũ hành, lý đó đúng và hợp nhau vậy. Như Giáp là 9, Tí là 9; Ất là 8, Sửu là 8, tổng cộng là 34, lấy 49 trừ cho 34 dư ra 15, bỏ 10 không dùng, lấy 5 là Thổ mà Thổ sinh Kim, vì vậy đặt là Kim. Bính Dần, Đinh Mão hợp số là 26, lấy 49 trừ cho 26 dư ra 23, bỏ 20 không dùng, lấy 3 là Mộc mà Mộc sinh Hỏa, vì vậy đặt là Hỏa. Mậu Thìn, Kỷ Tỵ hợp số là 23, lấy 49 trừ cho 23 dư ra 26, bỏ 20 không dùng, lấy 6 là Thủy mà Thủy sinh Mộc, vì vậy đặt là Mộc. Canh Ngọ, Tân Mùi hợp số là 32, lấy 49 trừ đi cho 32 dư ra 17, bỏ 10 không dùng, lấy 7 là Hỏa mà Hỏa sinh Thổ, vì vậy đặt là Thổ. Ngoài ra phỏng theo như thế”.

Đây chính là số của Hà đồ và Tinh lịch khảo nguyên cũng công nhận điều này (Phần in đậm). Vì số Hà đồ mang tính qui luật thể hiện sự vận động của ngũ tinh cho nên sự trùng khớp này chứng tỏ bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán cũng phải dựa trên một nguyên tắc hoặc qui luật có liên hệ với Hà đồ. Về tính qui luật và nguyên tắc trong bảng lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, người viết trình bày và minh chứng như sau:

Bắt đầu từ:

1. Hành Kim

Giáp Tí-Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim vương (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim mộ (Quý).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hỏa là:

2. Hành Hỏa

Mậu Tí - Kỷ Sửu = Tích Lịch Hỏa (Sinh); cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Sơn hạ Hỏa (Vượng); cách 8 năm đến: Giáp Thìn - Ất Tỵ = Phúc Đăng Hỏa (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hỏa - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc là:

3. Hành Mộc

Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh); cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng); cách 8 năm đến Mậu Thìn-Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thủy là:

4. Hành Thuỷ

Bính Tí-Đinh Sửu = Giáng hạ Thủy (Sinh); cách 8 năm đến: Giáp Thân-Ất Dậu =Tuyền trung Thủy (Vượng); cách 8 năm đến: Nhâm Thìn-Quý Tỵ = Trường Lưu Thủy (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thủy - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ là:

5. Hành Thổ

Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ - tổng số là 24 năm.
Qui luật cách bát sinh tửSinh Vượng Mộ - được lặp lại với nguyên tắc nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết 60 năm của một hoa giáp.

Xin bạn đọc xem hình sau đây:

Nguyên lý nạp âm
Lục thập hoa giáp trong cổ thư chữ Hán
Ngược chiều kim đồng hồ trên Hà đồ sau một chu kỳ 24 năm

Như vậy, người viết đã chứng tỏ một tính quy luật và nguyên lý trong việc sắp xếp nạp âm 60 hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán, liên quan đến Hà đồ. Mặc dù đây là một nguyên lý sai. Nhưng chính tính qui luật nghịch chiều của nguyên lý này đã làm nên sự trùng khớp về độ số với Hà đồ của bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán mà Tinh lịch khảo nguyên nói tới; và sự trùng khớp về Ngũ hành giữa Ngũ Âm (Mang qui luật Ngũ hành) và hành khí của nạp âm trong Lục thập hoa giáp mà Chu Hy nói tới.
Tính qui luật là một trong những yếu tố cần của một lý thuyết khoa học. Nhưng đó lại chưa phải là yếu tố đủ và quyết định. Sự sai lầm của tính qui luật chủ quan trong nguyên tắc này trong việc lập thành bảng 60 hoa giáp từ cổ thư chữ Hán thể hiện ở những điểm sau đây:

1. Hà đồ là một đồ hình biểu lý cho sự tương tác của vũ trụ với Địa cầu theo chiều thuận kim đồng hồ (Sự vận động của các thiên thể theo chiều nghịch. Đây chính là biểu lý của Lạc thư =Dương: Biểu lý cho vật thể/ thiên thể = Âm. Hà đồ = Âm: Biểu lý cho sự tương tác theo chiều thuận: Dương). Do đó, không thể căn cứ trên đồ hình căn nguyên của nó mà lại đi theo chiều ngược với chính nguyên lý của nó.
2. Chính vì sai lầm của nguyên tắc ngược chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, nên qui luật cách bát sinh tử chỉ thể hiện giới hạn trong chính hành đó (Sinh - Vượng - Mộ) mà không thể hiện được ở các hành tiếp nối. Thí dụ:
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Kim thì đáng lẽ phải là hành Thủy (Con do Kim sinh; Kim sinh Thuỷ) thì trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hành Hỏa?
Nhưng có thể nói rằng: Ngay chính cả cái nguyên tắc sai này cũng không được phát hiện trong cổ thư chữ Hán cho đến tận bây giờ. Những phương pháp tính toán trong Tinh lịch khảo nguyên mới chỉ có tính tiếp cận với độ số Hà đồ mà thôi.
Chính những sai lệch này đã đẩy nền văn minh Đông phương trở thành huyền bí, khi mà những nguyên lý của một siêu lý thuyết vũ trụ quan thất truyền trải hàng thiên niên kỷ. Đã hàng ngàn năm trôi qua, mặc dù hết sức cố gắng, người ta cũng không thể khám phá những bí ẩn của nền văn hoá phương Đông huyền vĩ. Đơn giản chỉ là:

Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.

Bởi vậy, ông Thiệu Vĩ Hoa - một nhà nghiên cứu nổi tiếng Trung Hoa hiện đại - đã phải thừa nhận rằng:
Nạp âm Ngũ hành trong bảng 60 Giáp Tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp Tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”. Sự phục hồi những nguyên lý của học thuật cổ Đông phương chỉ có thể thực hiện từ nền văn minh Lạc Việt, mà hậu duệ chính là dân tộc Việt Nam hiện nay. Để phục hồi lại nạp âm của bảng Hoa giáp này, chúng ta cũng phải tìm trong Hà đồ.

Hà đồ và nguyên lý thuận trong cấu thành La 5c thư hoa Giáp từ văn minh Lạc Việt

Trong phần trên, người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm của bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán là:

Chu kỳ cách bát sinh tử và nguyên lý Sinh - Vượng - Mộ của một hành trong 24 năm kết thúc thì chuyển sang hành khác – theo chiều ngược kim đồng hồ trên Hà đồ.

Người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán là một nguyên tắc sai so với nguyên lý tạo nên nó là Hà đồ.
Bởi vì, Hà đồ là đồ hình biểu lý cho sự tương tác có tính qui luật của ngũ tinh - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ - trong Thái Dương hệ. Điều này đã được chứng minh trên thực tế qua trình thiên văn Skymap pro. Các hành tinh vận động theo chiều ngược kim đồng hồ, nên sự tương tác sẽ theo chiều thuận và đây cũng chính là chiều Ngũ hành tương sinh của Hà đồ; thuận với chiều tương sinh của Ngũ hành trong 4 mùa của Địa Cầu.
Do đó, tính hợp lý với phương pháp “Sinh Vượng Mộ”“Cách bát sinh tử” theo đồ hình biểu lý của nó là Hà đồ thì cũng phải theo đúng qui luật này.
Vậy, thực chất bản thể nguyên Thủy của bảng hoa giáp theo nguyên lý của Hà đồ phải là thuận theo chiều tương sinh của nó. Phần tiếp theo đây chứng tỏ điều này.

1. Nguyên tắc nạp âm Lạc thư Hoa giáp

Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ 60 năm

Nguyên lý nạp âm của Lạc thư hoa giáp vẫn ứng dụng những nguyên lý cơ bản được phát hiện trong cổ thư chữ Hán là:

* Qui luật Cách bát sinh tử.
* Chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ
* Căn cứ trên Hà đồ và tuân theo nguyên lý THUẬN chiều kim đồng hồ của đồ hình này, chúng ta sẽ có bảng Lạc thư hoa giáp. Qui luật sắp xếp của Lạc thư hoa giáp chỉ khác bảng lưu truyền qua cổ thư chữ Hán ở vị trí hai hành ThủyHỏa.
Điều này được trình bày như sau

Bắt đầu từ hành Kim:

1. Hành Kim

Giáp Tí- Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim Sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim Vượng (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim Mộ (Quý).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim - tổng cộng 24 năm.
Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thủy Bạn đọc lưu ý:

Thủy là con do Kim sinh.

Theo bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán thì sau hành Kim là Hỏa. Điều này không thể hiện được qui luật “Cách bát sinh tử”. Bởi vì Hỏa khắc Kim và không phải con (Tử) của Kim.

2. Hành Thuỷ:

Mậu Tí - Kỷ Sửu = Giản hạ Thủy (Sinh), cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Tuyền trung Thủy (Vượng), cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Trường lưu Thủy (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thủy - Tổng cộng 24 năm.
Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc (Mộc là con do Thủy sinh) là:

3. Hành Mộc:

Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh), cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng), cách 8 năm đến Mậu Thìn - Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc - Tổng cộng 24 năm.
Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hỏa (Hỏa là con do Mộc sinh) là:

4. Hành Hỏa

Bính Tí-Đinh Sửu = Lư trung Hỏa (Sinh), cách 8 năm đến: Giáp Thân-Ất Dậu = Sơn đầu Hỏa (Vượng), cách 8 năm đến: Nhâm Thìn - Quý Tỵ = Tích lịch Hỏa (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hỏa - Tổng cộng 24 năm.
Thuận
theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ (Thổ là con do Hỏa sinh) là:

5. Hành Thổ

Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ.
Đến đây là kết thúc một kỷ 30 năm của Lạc thư hoa giáp. Qui luật “Cách bát sinh tử” được lặp lại với nguyên tắc thuận chiều kim đồng hồ trên Hà đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết tạo thành bảng Lạc thư Hoa giáp với chu kỳ 60 năm. Nguyên tắc thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh) và vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử với Sinh - Vượng - Mộ, được minh họa bằng hình sau đây:

Nguyên tắc nạp âm Lạc thư hoa Giáp
Theo chiều tương sinh thuận chiều kim đồng hồ trên Hà đồ

Người viết xin được thể hiện chu kỳ của hai bảng Lạc thư hoa giápLục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán qua hình tròn để bạn đọc quan tâm dễ dàng so sánh tính tính quy luật và hợp lý giữa hai bảng như sau:

Qua hai đồ hình so sánh ở trên, qua những luận điểm chứng minh cho nguyên tắc và qui luật tạo thành bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán và Lạc thư hoa giáp từ nền văn minh Lạc Việt, bạn đọc cũng nhận thấy tính qui luật và sự trùng khớp hợp lý của những giá trị nội tại tạo nên bảng Lạc thư hoa giáp. Đồng thời, bạn đọc cũng nhận thấy tính bất hợp lý trong bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, chính vì sự sai lệch ngay từ nguyên lý của nó - Nghịch hành theo chiều ngược từ phải sang trái của Hà đồ. Trong khi đó, Hà đồ là đồ hình biểu lý Ngũ hành tương sinh theo chiều thuận. Đó chính là nguyên nhân để hàng ngàn năm trôi qua, biết bao học giả cổ kim thuộc văn minh Hoa Hạ không thể khám phá ra bí ẩn của nó.
Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.
Qua những chứng minh ở trên, người viết đã chứng tỏ rằng: Chính Hà đồ là nguyên lý của chu kỳ hoa giáp 60 năm trong Lý học Đông phương dù theo cách nào: Hán cổ hay Lạc thư hoa giáp.
Hà đồ là một đồ hình căn bản trong Lý học Đông phương và được chứng minh trong luận đề “Hà đồ và văn minh Lạc Việt”, đồng thời cũng được chứng tỏ trong di sản văn hoá dân gian Lạc Việt là bức tranh thờ Ngũ Hổ của phường Hàng Trống với danh xưng: Pháp Đại uy nỗ.
Đây là điều không hề có trong các bản văn Hán cổ.
Dưới đây là bảng Lạc thư hoa giáp từ nền văn minh Lạc Việt để quí vị quan tâm so sánh và ứng dụng thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp theo cổ thư chữ Hán.

2. Lạc thư hoa giáp

Sách của người Lạc Việt viết về quy luật tuần hoàn 60 năm trong vũ trụ

Kỷ thứ nhất

Lục khí - Vận 1
Tam Âm Tam Dương
Giáp Tí. Ất Sửu ———————— Hải Trung Kim
Bính Dần. Đinh Mão ——————Tuyền Trung Thuỷ
Mậu Thìn.Kỷ Tỵ————————Đại Lâm Mộc

Lục khí - Vận 2
Tam Âm Tam Dương
Canh Ngọ. Tân Mùi ——————--Lộ Bàng Thổ
Nhâm Thân. Quí Dậu ——————Kiếm Phong Kim
Giáp Tuất. Ất Hợi———————-Trường Lưu Thủy

Lục khí - Vân 3
Tam Âm Tam Dương
Bính Tí, Đinh Sữu——————— Tích Lịch Hỏa
Mậu Dần, Kỷ Mão———————Thành Đầu Thổ
Canh Thìn, Tân Tỵ ———————Bạch Lạp Kim

Lục khí - Vận 4
Tam Âm Tam Dương
Nhâm Ngọ, Quí Mùi ——————-Dương Liễu Mộc
Giáp Thân, Ất Dậu——————--Lư Trung Hỏa
Bính Tuất, Đinh Hợi—————— Ốc Thượng Thổ

Lục khí - Vận 5
Tam Âm Tam Dương
Mậu Tí, Kỷ Sửu———————- Giáng Hạ thủy
Canh Dần, Tân Mão——————Tùng Bách Mộc
Nhâm Thìn, Quí Tỵ—————— Sơn Đầu Hỏa

Kỷ thứ II

Lục khí - vận 1
Tam Âm Tam Dương
Giáp Ngọ, Ất Mùi ———————Sa Trung Kim
Bính Thân, Đinh Dậu——————Đại Khê Thủy.
Mậu Tuất, Kỷ Hợi———————Bình Địa Mộc

Lục Khí - Vận 2
Tam Âm Tam Dương
Canh Tí, Tân Sữu———————-Bích Thượng Thổ
Nhâm Dần, Quí Mão——————Kim Bạch Kim
Giáp Thìn, Ất Tỵ———————-Đại Hải Thủy

Lục Khí - Vận 3
Tam Âm Tam Dương
Bính Ngọ, Đinh Mùi——————Thiên Thượng Hỏa
Mậu Thân, Kỷ Dậu——————- Đại Dịch Thổ
Canh Tuất, Tân Hợi—————— Thoa Xuyến Kim

Lục khí - Vận 4
Tam Âm Tam Dương
Nhâm Tí, Quí Sữu———————Tang Đố Mộc
Giáp Dần, Ất Mão——————— Sơn Hạ Hỏa
Bính Thìn, Đinh Tỵ———————Sa Trung Thổ

Lục khí - Vận 5
Tam Âm Tam Dương
Mậu Ngọ, Kỷ Mùi ———————Thiên Hà Thuỷ
Canh Thân, Tân Dậu——————-Thạch Lựu Mộc
Nhâm Tuất, Quí Hợi——————-Phúc Đăng Hỏa.

 

Trên thực tế, người viết bài này đã ứng dụng Lạc thư hoa giáp thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán, trong tất cả những vấn đề liên quan. Bảng dưới đây là sự hiệu chỉnh lại bảng Lạc thư hoa giáp trong cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp” của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Do sơ xuất nên tác giả đã bị nhầm lẫn về chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ trong hành Thuỷ.

Mời xem các bài khác:

  1. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời nói đầu
  2. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Lê Gia
  3. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Hoàng Tuấn
  4. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 1
  5. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 2
  6. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 3
  7. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 1
  8. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 2
  9. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 3
  10. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 4
  11. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1
  12. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 1
  13. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 2
  14. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 3
  15. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 2
  16. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 3
  17. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 1
  18. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 1
  19. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - Phụ chương
  20. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3
  21. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3 - Phụ chương
  22. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 1
  23. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 2
  24. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 1
  25. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 2
  26. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Thay lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Hà đồ và  huyền không phi tinh trong phong thủy. Trong những yếu tố căn bản qui ước của phương pháp này, cổ thư chữ Hán ghi nhận sự vận động thay đổi ...

Nguyên lý quái Cấn nhập trung cung và Hà đồ. Thực tại vũ trụ của phong Thủy Lạc Việt: Sự chứng minh ở trên đã cho thấy rằng:   Hà đồ phối Hậu thiên ...

Tứ trạch trong Hậu thiên Lạc Việt và Hà đồ. Tính phi qui luật của Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư: Trước khi minh chứng tính hợp lý của nguyên lý căn ...

Phần III: Hà đồ trong không gian ứng dụng của học thuật cổ Đông Phương. Chương I: Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt và tính quy luật trong phong thuỷ. Trong ...

Phụ chương: Giải mã những hiện tượng văn hóa dân gian liên quan. Người viết một lần nữa xin được lưu ý bạn đọc quan tâm là:Tất cả những sự giải mã ...

Chương III: Hà đồ và hậu thiên bát quái Lạc Việt. 1. Nguyên lý căn bản của học thuật cổ Đông Phương: Trong phần trên, người viết đã chứng minh với bạn ...

Chương II: Nội dung của Hà đồ từ văn minh Lạc Việt. Hệ từ viết:”Hà xuất đồ,Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”.Mọi sự suy luận sẽ bế tắc và không ...

Phần II- Hà đồ trong văn minh Lạc Việt. Dịch viết: ”Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”

Chương III: Ứng dụng của Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Trong cổ thư chữ Hán trải hàng ngàn năm cho đến nay, người ta không thể nào tìm thấy sự ghi nhận ...

Chương II: Nội dung của Hà đồ qua cổ thư chữ Hán. Mặc dù tranh luận sôi nổi vậy, ngay cả những bậc túc nho khả kính thuộc văn minh Hán – cũng không thể ...