Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 3

Ngày đăng: Thứ sáu 04/07/2008 12:00:00 (GMT +7)

Thiên văn cổ Hoa Hạ và Thiên văn hiện đại

Đoạn trích dẫn sau đây trong cuốn “Vũ trụ – phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu” (Nxb Giáo Dục – 1995, trang 16) cho chúng ta một sự so sánh về tri kiến thiên văn cổ Trung Hoa với thiên văn học hiện đại và từ đó so sánh với những tri kiến thuộc về văn minh Văn Lang đã trình bày ở trên, để từ đó chứng minh rõ nét hơn cho những luận điểm đã trình bày.

Quan niệm phương Đông về vũ trụ ở thời thượng cổ và trung cổ:

Vào cuối thế kỷ thứ V, trong bộ Thiên văn lục có phân biệt 3 trường phái về quan niệm cấu trúc vũ trụ. Đó là thuyết Cái Thiên (Trời có cái nắp đậy), Tuyên Dạ (đêm tối lan tràn khắp nơi, không trung vô tận) và Hồn Thiên (thiên cầu mênh mông bao gồm cả Trái Đất). Các nhà hiền triết muốn mở đường “Thiên Lộ” cho Hoàng Đế lên trời nên những lý thuyết này, tuy có mục tiêu khoa học để tìm hiểu vũ trụ, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng siêu hình và chiêm tinh học.

# Lý thuyết Cái Thiên, cổ nhất, hình dung vòm trời như một cái nắp hình bán cầu và Trái Đất như một cái bát úp ngược cùng một trung tâm. Phía dưới chân Trái Đất không phải hình tròn mà vuông như một bàn cờ, có lẽ là do quan niệm có 4 phương trời (đông, tây, nam, bắc) (hình 3). Mưa từ vòm trời, nơi có sao, rơi xuống 4 góc Trái Đất thành 4 bể. Hiện nay ta biết là những hạt nước mưa đọng trên tầng Trái Đất chứ không phải từ vũ trụ rơi xuống. Vòm trời quay lôi theo Mặt Trăng cùng Mặt Trời. Hai thiên thể này chuyển động từ từ ngược chiều với vòm trời. Trong “Khung (lớn) Thiên Luận” viết ở thế kỷ thứ III ví vòm trời như cái màng trứng trong đó có “nguyên khí” nên không chìm xuống mặt bốn bể. Mặt Trời giống một ngọn đèn chuyển động trên vòm trời và chỉ chiếu sáng từng khu vực một. Tam Diệu tức là Mặt Trời, Mặt Trăng và sao khi ẩn khi hiện thành có đêm ngày. Thật ra thuyết “Cái Thiên” có hai giai đoạn, thời Đông Chu (thế kỷ thứ V, tr.CN) thuyết “Thiên viên địa phương” (trời tròn đất vuông) cho Trái Đất đứng yên, Mặt Trăng, Mặt Trời và tinh tú chuyển vận trên bầu trời. Sang đến thời Chiến Quốc thuyết này mới phát triển thành thuyết cho vòm trời hình bán cầu, Trái Đất như một cái bát. Từ giai đoạn một cho Trái Đất phẳng như bàn cờ đến giai đoạn 2 cho Trái Đất gồm đường cung tròn là một bước tiến của thuyết “Cái Thiên”.

# Thuyết Hồn Thiên của Trương Hành (78 – 139) thời Đông Hán, ví vòm trời như một quả trứng gà nhưng hình tròn, ở giữa là lòng đỏ tượng trưng Trái Đất. Vòm trời có “khí” ở trong và chân trời có nước, Trái Đất nổi trên mặt nước. Trên trời có 3 “thần” có lẽ là Mặt Trời, Mặt Trăng và sao, còn Trái Đất có 3 “hình” có thể là thổ, thủy
và khí. Thân và hình đều có thể quan sát thấy được. Mặt Trời như trên một bánh xe quay không ngừng. KHỏang không gian ở giữa vòm trời không giới hạn (vô cực, vô cùng), được gọi là “vũ trụ” và coi là bí hiểm. Như vậy, thuyết Hồn Thiên đã hình dung được là ngoài phạm vi Mặt Trời, Mặt Trăng và sao còn có vũ trụ rộng mênh mông nhưng chưa thăm dò được.

# Thuyết Tuyên Dạ cho rằng vòm trời trống rỗng (vô chất) xa lắc và rộng mênh mông (vô cực). Mặt Trời, Mặt Trăng và sao là hơi đọng (tích khí) bay trên không trung. Bẩy tinh tú (thất diệu) tức là Mặt Trời, Mặt Trăng và năm hành tinh trong Hệ Mặt Trời không dính vào vòm trời nhưng chuyển động tự do, đi đi lại lại. Năm hành tinh này là những hành tinh nhìn thấy được bằng mắt trần, tức là Thủy, Kim, Hỏa, Mộc và Thổ. Sao Bắc Đẩu bao giờ cũng đứng một chỗ (vì nằm gần trục quay của vòm trời). Quan niệm không trung vô tận phải chăng có mối liên hệ với tư tưởng “hư vô” của đạo Lão và “hư không” của đạo Phật. Trời và Trái Đất tuy rộng lớn, nhưng chỉ như hột gạo so với hư không trong đó có thể có những Trời và Trái Đất khác.

Từ thế kỉ thứ 6, quan niệm hai bán cầu có khí, tượng trưng Trời và Đất của thuyết Hồn Thiên được chấp nhận. Tuy nhiên, đã có câu hỏi được đặt ra là nếu chỉ nhìn thấy nửa quả cầu tức là chỉ nhìn thấy nửa sự thật. Qua những thế kỉ sau, mô hình vũ trụ dần dần được cải tiến. Chẳng hạn, sao và hành tinh không dính vào vòm trời, nhưng được một luồng “gió cứng” (cương phong) nâng lên, như khí nén của động cơ phản lực. Trên trời có chín tầng khí có áp lực và tốc độ khác nhau tương tự như cửu trùng. Sự vận hành tuần hoàn của Trái Đất và thủy triều đều do lực Âm dương quy định. Mặt Trời là Thái Dương (thái là lớn) và các ngôi sao khác là Tiểu Dương (tiểu là nhỏ). Còn Mặt Trăng là Thái Âm và các hành tinh khác là Tiểu Âm. Trái Đất cũng thuộc về loại âm. Hiện nay ta biết rằng Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất. Mặt Trời và sao rất nóng và tự phát xạ vì có năng lượng tạo ra bởi những phản ứng nhiệt hạch trong lòng chúng. Trái lại Trái Đất, Mặt Trăng và các hành tinh vì lạnh nên không tự phát xạ mà chỉ phản xạ ánh sáng Mặt Trời chiếu tới chúng.Cho nên xếp Mặt Trời và sao vào loại dương còn Trái Đất, Mặt Trăng và các hành tinh vào loại âm cũng có phần đúng. Chính Mặt Trời là một ngôi sao như hàng chục tỉ sao khác trong dải Ngân hà và Mặt Trăng là một trong những hành tinh của Hệ Mặt Trời. Vì Mặt Trời và Mặt Trăng gần Trái Đất nên trông to lớn và được gọi là Thái Dương và Thái Âm.
Quá trình tiến hóa của ngành thiên văn Trung Quốc qua nhiều thời đại đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử (thế kỉ thứ 6 tr.CN), Lão Tử (khoảng thế kỉ thứ 4 tr.CN) và Phật giáo. Theo Nho giáo, vũ trụ lúc đầu mông lung mờ mịt trong một trạng thái gọi là “Thái cực” và biến hóa ra “âm” và “dương”. Hai thực thể Âm dương, tuy tương khắc với nhau, nhưng được phối hợp theo phép điều hoà và tương đối, để tạo ra khí chất tức là thủy, hỏa, kim, mộc, thổ (Ngũ hành). Đạo sống của con người trong xã hội cũng dựa vào thực thể Âm dương trong vũ trụ. Ta có thể ví thực thể trừu tượng Âm dương như hai loại hạt cơ bản trong vật lí hiện đại, hạt và phản hạt có khả năng tự huỷ khi chạm nhau. Thuyết Nho giáo tuy có phần duy lí nhưng không đặc biệt lưu tâm đến thiên nhiên. Học thuyết của đạo Lão thì đề cập nhiều tới thiên nhiên, nhưng lại thiếu duy lí. Trang Tử (thế kỉ thứ 4 tr.CN) tự hỏi tại sao Trời quay mà Trái Đất lại đứng? Mặt Trời và Mặt Trăng tại sao thay nhau hiện trên trời? Những tư tưởng ở đời thượng cổ về vũ trụ, tuy có tính chất thần bí và siêu hình, nhưng đôi khi cũng phản ánh những sự kiện tìm thấy bằng những lí luận khoa học hiện đại. Qua những phương tiện quan sát và tính toán, vật lí thiên văn hiện đại cho rằng vũ trụ được tạo ra cách đây kHỏang 15 tỉ năm do một Vụ Nổ Nguyên Thủy Vĩ Đại gọi là Bích Băng (Big Bang). vũ trụ nguyên thủy chỉ là một đám sương mù mờ ảo (xem chi tiết ở những mục sau) hình dung bởi học thuyết Nho giáo. Vương Sung một nhà triết học nổi tiếng triều Đông Hán cho rằng Trái Đất được hình thành do sự đông đặc của một đám khí. Giả thuyết này không được phát triển vì thiếu cơ sở vật lí và toán học. Theo những thuyết nghiên cứu hiện đại, những thiên thể như sao và hành tinh được hình thành từ những đám khí khổng lồ bị cô và đọng lại vì sức hút của trường hấp dẫn trong đám khí. Theo luật luân hồi của đạo Phật, tạo hóa xoay vần như một bánh xe. Những trạng thái hỗn độn của vạn vật có thể tái diễn sau những trạng thái bình thường. Lí thuyết nghiên cứu cấu trúc và sự tiến hóa của vũ trụ (vũ trụ luận) dựa trên cơ sở khoa học hiện nay đề xuất vũ trụ cũng có thể trải qua những giai đoạn co dãn tuần hoàn và vũ trụ nguyên thủy ở trong một trạng thái hỗn độn.
Tóm lại, các nhà thiên văn học phương Đông thời xưa không có một mô hình chính xác về vũ trụ và quỹ đạo của các hành tinh trong Hệ Mặt Trời, vì ngành vật lí và toán học, đặc biệt là hình học chưa được phát triển. Tuy nhiên, quan niệm của họ về vũ trụ có khả năng thay đổi tương đối đúng với thực tế. Nhờ sự phát triển khoa học qua các thời đại, hiện nay chúng ta biết rằng Trái Đất là một trong 9 hành tinh trong Hệ Mặt Trời. Trái Đất quay chung quanh Mặt Trời với chu kì kHỏang 365 ngày theo một quỹ đạo hình elip hầu như tròn mà Mặt Trời ở một tiêu điểm. Mặt Trăng là một vệ tinh quay chung quanh Trái Đất. Các ngôi sao không dính trên vòm trời mà xa Trái Đất ở những kHỏang cách khác nhau. Vũ trụ có hàng trăm tỉ thiên hà, mỗi thiên hà có hàng chục tỉ ngôi sao như Mặt Trời, mỗi sao có hàng chục hành tinh. Dải Ngân hà là một trong những thiên hà, chỉ khác là trong Ngân hà có Hệ Mặt Trời và có Trái Đất chúng ta ở. Vì vậy Ngân hà còn được gọi là “Thiên hà của chúng ta”. Trung tâm Ngân Hà cách Trái Đất kHỏang 30 nghìn năm ánh sáng (xem những mục sau). Trái Đất quay chung quanh Mặt Trời với tốc độ 30 kilomet/ giây và quay cùng tất cả Hệ Mặt Trời chung quanh trung tâm Ngân hà với tốc độ 250 kilomet/giây. Với tốc độ lớn, nhưng vì Ngân Hà vĩ đại, nên Trái,đất phải để 200 triệu năm mới quay hết một vòng chung quanh tâm Ngân Hà.

Qua đoạn trích dẫn trên của giáo sư Nguyễn Quang Riệu nói về thiên văn cổ Đông phương – mà thực tế là nói về thiên văn cổ Trung Hoa, chắc chắn quí vị cũng nhận thấy rằng: Từ thời Chu cho dến thế kỷ thứ VI sau CN và cả những thế kỷ sau đó, quan niệm vũ trụ quan của văn minh Hoa Hạ chưa hề có một nhận thức đúng về thực tế vận động của Thái dương hệ (chưa nói đến vũ trụ). Đây là một vấn đề chứng tỏ văn minh Hoa Hạ không thể là chủ nhân của Kinh Dịch và thuyết Âm dương Ngũ hành – mang nội dung của một siêu lý thuyết vũ trụ quan đã minh chứng ở trên. Hay nói một cách khác: Nền văn minh Hoa Hạ chỉ tiếp thu một cách không hoàn chỉnh và sai lệch những phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ khi nền văn hiến Lạc Việt bị sụp đổ và bị Hán hoá về văn tự qua hơn 1000 Bắc thuộc. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và siêu công thức theo hệ nhị phân - một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà các nhà khoa học hàng đầu của tri thức khoa học hiện đại đang mơ ước - chỉ có thể phục hồi được từ nền văn minh Lạc Việt với lịch sử gần 5000 năm văn hiến.
Nếu như những bản văn, thư tịch cổ của nền văn minh Hán để lại, không cho chúng ta thấy ở đó một tri thức thiên văn nền tảng, làm cơ sở cho việc hình thành các phương pháp ứng dụng thuộc học thuật cổ Đông phương thì ngược lại, nền văn hiến Việt với bao thăng trầm của lịch sử lại giữ trong nền văn hóa truyền thống của nó những tri kiến thiên văn kỳ vĩ, trùng khớp đến kỳ lạ với những tri kiến có tính nguyên lý của học thuật cổ Đông phương. Để chứng tỏ điều này, bạn đọc quan tâm xem tiếp phần sau đây.
Phần trên, người viết đã hân hạnh trình bày với bạn đọc về sự liên hệ giữa nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ lý giải các vấn đề liên quan đến nó trong phong Thủy và Tử Vi. Bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Chính từ nguyên lý căn bản này thì cả Phong Thủy lẫn Tử Vi đều có liên quan đến sự vận động có tính quy luật, tạo nên những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ với Địa Cầu. Nhưng có thể nói rằng: Chính từ nguyên lý căn bản của học thuật cổ Đông phương là Hà đồ có nguồn gốc từ vũ trụ thì tất cả những vấn đề liên quan đến học thuyết Âm Dương Ngũ hành cũng chứng tỏ điều này.
Xin bạn đọc quan tâm xem tiếp những phần dưới đây minh chứng điều này.

Di sản văn hiến Lạc Việt và những hiệu ứng vũ trụ liên quan

1. Chu kỳ sao thiên cực Bắc trên bầu trời Trái Đất

Phần trình bày dưới đây đã được đề cập tới trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” (Nxb Đại học Quốc gia xuất bản lần thứ nhất 2001. Nxb VHTT tái bản 2002). Nhưng vì tính liên hệ chặt chẽ đến nội dung của tiểu luận này, cho nên người viết hiệu chỉnh và tiếp tục trình bày ở đây.
Qua những bài viết đã trình bày với quí vị ở trên thì một vấn đề sẽ được đặt ra là:

Phải chăng nền văn minh Lạc Việt đã có những tri kiến tương tự như và vượt trội so với khoa thiên văn hiện đại?

Về vấn đề này cần phải được chứng minh có tính khẳng định và đây cũng là điều kiện tối thiểu cho một lý thuyết vũ trụ quan. Bởi vì, nó phải chứng tỏ tính hợp lý cho tất cả mọi vấn đề liên quan đến những tri thức vũ trụ. Những hiện tượng minh chứng cho vấn đề này được liên hệ tiếp nối qua những đoạn trích dẫn sau đây:
Đoạn sau đây được trích trong cuốn Vũ trụ quanh em – tập I – trang 21:

Ngay từ thế kỷ thứ II tr.CN nhà thiên văn Hy Lạp Hi–pa–chus đã phát hiện ra sự bất thường lý thú: trục tự quay của Trái Đất luôn đổi hướng trong vũ trụ. Sự thay đổi này rất chậm chạp, chỉ có những nhà thiên văn chuyên môn mới biết được. Thế mà phải 19 thế kỷ sau, tức là sau khi Newton phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn (năm 1687) các nhà bác học mới hiểu được bản chất để giải thích hiện tượng ấy.

Trang 23, sách đã dẫn viết:

Do trục tự quay của Trái Đất thay đổi nên điểm Thiên cực bắc cũng thay đổi với chu kỳ là 26000 năm. Theo sự tính toán của các nhà thiên văn thì các sao sau đây đã, đang và sẽ là sao Bắc cực:
– KHỏang hơn 7000 năm tr.CN là sao t chòm sao Vũ Tiên.
– Gần 3000 năm tr.CN là sao a của chòm Thiên Long.
– Hiện tại là sao a chòm Tiểu Hùng Tinh.
– Hơn 7000 năm sau là sao a chòm Thiên Vương.
– Và hơn 12000 năm sau là sao Chức Nữ (chòm Thiên Cầm).

Qua đoạn trích dẫn trên về tri kiến của khoa thiên văn hiện đại về các chòm sao Thiên Cực Bắc trên bầu trời, chúng ta liên hệ với một hiện tượng khảo cổ được trích dẫn trong sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Phó giáo sư tiến sĩ Trần Ngọc Thêm (Nxb TP HCM – 1996, trang 183):

Kết quả nghiên cứu của những năm gần đây cho thấy cư dân phương Nam trước thời Đông Sơn và Đông Sơn đã đạt đến một trình độ thiên văn rất cao: Từ 6000 năm tr.CN, chiếc rìu đá Bắc Sơn đã khắc hình chòm sao Vũ Tiên – một chòm sao mang tính chu kỳ đã xuất hiện trên bầu trời Đông Nam Á lúc đó.Trống Đồng Hoàng Hạ (và một số trống đồng khác) được xác định là những bức thiên đồ cho phép bằng cách đo bóng nắng mà xác định được các ngày tiết trong năm với mốc là những hoa văn có hình dáng rất gần với hình kí hiệu của những ngày tiết ấy trong thiên văn học hiện đại [Bùi Huy Hồng 1974: 364–372].

Như vậy chiếc rìu đá khắc chòm sao Vũ Tiên từ 6000 năm tr.CN, trùng khớp với hiện tượng các nhà thiên văn hiện đại xác định chính chòm sao này là sao Thiên Cực Bắc 7000 năm trước. Hiện tượng này cho ta thấy những nhà thiên văn cổ Lạc Việt – từ trước thời lập quốc – đã nghiên cứu thiên văn và họ đã xác định được vị trí sao Thiên Cực Bắc, trùng khớp với sự tính toán của khoa thiên văn học hiện đại. Vật liệu để thể hiện chòm sao Vũ Tiên là chiếc rìu đá là một hiện tượng có thể dẫn đến vấn đề sau đây:
Vào thời đại đồ đá (tạm cho như vậy, vì chiếc rìu làm bằng đá), nếu quả thật con người hồi đó chỉ săn bắt hái lượm, thì người ta xuất phát từ nhu cầu gì để định hướng và định hướng đúng sao Bắc cực? Phải chăng bên cạnh những bộ lạc lạc hậu đã có những tổ chức xã hội phát triển hơn, nên có những nhu cầu tìm hiểu vũ trụ và tri kiến của họ được lưu truyền? Vấn đề liên quan tiếp theo là:
So sánh chu kỳ năm của sao Thiên Cực Bắc mà thiên văn học hiện đại tính được là 26 000 năm với chu kỳ một Hội trong Thái Ất thần kinh, chúng có sự tương đương như sau:
Trong Thái Ất đơn vị thời gian được chia là:
Một Nguyên = 3 Hoa giáp, chia làm 3 phần: Thượng, Trung, Hạ = 180 năm.
Một Vận = Sáu nguyên = 1.080 năm (180 năm x 6).
Một Hội = 12 Vận = 12.960 năm (1080 x 12)
Theo Thái Ất thì hiện nay chúng ta đang ở cuối hội Ngọ. Như vậy, một Hội trong Thái Ất gần bằng một nửa chu kỳ sao Thiên Cực Bắc. Nếu xét theo một chu kỳ Âm dương (Gồm hai Hội) thì con số này sẽ là:
12.960 năm x 2 = 25.920 năm.
Sai số 80 năm so với sự tính toán của khoa học hiện đại (26.000 năm). Nhưng con số của khoa học hiện đại chỉ là con số ước tính, sai số đến hàng ngàn, còn số trong Thái Ất chính xác đến hàng chục. Điều này đã chứng tỏ rằng: nền thiên văn cổ Văn Lang đã đạt được những tri thức về thiên văn từ hàng ngàn năm trước, trong khi khoa thiên văn hiện đại chỉ mới phát hiện ra chu kỳ Thiên Cực Bắc khoảng một trăm năm trở lại đây. Bạn đọc cũng lưu ý rằng cuốn Thái Ất là một kỳ thư ngoại hạng, chắc chắn có sau Kinh Dịch và thuyết Âm dương Ngũ hành, nhưng tác giả của nó thì còn mơ hồ hơn cả Lạc thư – Hà đồ và Hoàng đế nội kinh tố vấn.

2. Giờ Quan Sát & những hiện tương liên quan đến tri kiến thiên văn từ văn minh Lạc Việt

Hiện tượng Giờ Quan Sát trình bày dưới đây, vốn là một tri thức lưu truyền trong dân gian. Hầu hết các bà mẹ Việt đều biết và quan niệm rằng: Trẻ em sinh phạm Giờ Quan Sát khi nhỏ thì ốm yếu khó nuôi, lớn lên ngang tàng khó dạy và thường có một tương lai không tốt đẹp. Nếu như chúng ta không tìm hiểu được một thực tại còn bí ẩn đàng sau quan niệm này, thì đây cũng là một sự huyền bí khó hiểu, mang màu sắc dị đoan. Nhưng điều này đã được giáo sư Lê Văn Sửu, đặt vấn đề nguyên nhân vũ trụ và y học trong cuốn “Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông”. Giáo sư Lê Văn Sửu giải thích như sau :

Giờ Quan Sát

Bài ca về giờ sinh phạm Giờ Quan Sát:
Chính, thất, sơ sinh Tỵ, Hợi thì
Nhị, bát Thìn, Tuất bất thậm nghi
Tam, Cửu, Mão, Dậu đinh thượng nhiên
Tứ, Thập Dần, Thân kỷ định kỳ
Ngũ, đồng thập nhất Sửu, Mùi thượng
Lục đồng thập nhị Tý, Ngọ chi,
Nghĩa là: Giờ Quan Sát theo tháng Âm lịch và giờ địa chi
* Tháng giêng / giờ Tị * Tháng bảy / giờ Hợi
* Tháng hai / giờ Thìn * Tháng tám / giờ Tuất
* Tháng ba / giờ Mão * Tháng chín / giờ Dậu
* Tháng tư / giờ Dần *Tháng mười / giờ Thân
* Tháng năm / giờ Sửu * Tháng mười một / giờ Mùi
* Tháng sáu / giờ Tý * Tháng Chạp / giờ Ngọ
Người xưa cho rằng trẻ em sinh phạm giờ Quan Sát khi nhỏ thường ốm yếu khó nuôi, lớn lên thì đầu trộm đuôi cướp. Những bậc làm cha mẹ khi có con sinh Giờ Quan Sát thường vô cùng đau khổ. Theo những điều tôi thâu lượm được bấy lâu nay thì những trẻ sinh phạm Giờ Quan Sát thường có chức năng gan không ổn định, số lớn dễ bị mắc bệnh viêm gan khi có dịch truyền nhiễm bệnh này. Để tìm hiểu giá trị thật của Giờ Quan Sát ta tiến hành mô hình hóa Giờ Quan Sát trong một đồ như sau. Trong đồ trên chúng ta thấy điểm giờ Tý của tháng đều ở trên Quả Đất có hướng đối chiếu với Mặt Trời qua tâm Quả Đất, từ đó theo các tháng vị trí Giờ Quan Sát đều có hướng gần đối chiếu với hướng Bắc của quỹ đạo năm. Như vậy Giờ Quan Sát có giá trị là thời điểm nơi sinh đứa trẻ chịu tác động ảnh hưởng vũ trụ từ ngoài Mặt Trời.

Hình trên đây được thực hiện lại dựa trên ý tưởng mô hình hóa của giáo sư Lê Văn Sửu, trong tương quan Trái Đất và vị trí Mặt Trời. Qua đồ hình trên thì vị trí Giờ Quan Sát trên Trái Đất tương ứng với nhau vẫn không thay đổi so với Mặt Trời. Tức là đường nối từ tâm Trái Đất với vị trí giờ Quan Sát vẫn tạo thành những đường thẳng song song như hình vẽ trên. Như vậy bạn đọc sẽ nhận thấy một hiệu ứng vũ trụ nào đó, tác động lên con người ở các vị trí giờ Quan Sát.
Qua sự phát hiện của Gs. Lê Văn Sửu và đồ hình trình bày ở trên, chứng tỏ rằng: nền văn minh cổ Đông phương không những đã phát hiện hiện tượng Trái Đất vận động quanh Mặt Trời. mà còn phát hiện ra Mặt Trời phải vận động theo một quỹ đạo của nó. Để nói lên được điều này, những người tiên phong của nền thiên văn học hiện đại đã phải ra tòa hoặc lên giàn hỏa thiêu. Đó là trường hợp của Galile và Bruno ở nước Ý vào thế kỉ 15 - 16.
Hiện tượng Giờ Quan Sát nêu trên đã chứng tỏ rằng: tri thức của nền thiên văn cổ Văn Lang về nhiều mặt đã vượt xa khả năng của tri thức thiên văn học hiện đại, khi xác định một hiệu ứng vũ trụ với đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ ảnh hưởng đến con người. Và hiện tượng này – là tiền đề từ vũ trụ của Giờ Quan Sát – đã bổ sung và minh chứng rõ hơn của luận điểm cho rằng:

Tử Vi chính là hệ quả của sự nhận thức những hiệu ứng tương tác có tính qui luật từ vũ trụ chi phối con người một cách có qui luật, nên đã tạo nên khả năng tiên tri của nó.

Với nhận định trên, có thể lập luận phản bác theo những khả năng sau:

@ Nhận xét cho rằng Giờ Quan Sát chỉ là kinh nghiệm dân gian được đúc kết từ thực tế cuộc sống

Đây chỉ là một nhận xét khiên cưỡng. Bởi vì, một hiện tượng xảy ra cho một con người là kết quả của sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố. Mỗi con người có những hiện tượng giống nhau lại không thể cùng sống trong một thời điểm không gian và thời gian như nhau. Trong khi đó hiệu ứng vũ trụ này tác động lên cuộc đời của con người qua đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ, hơn nữa hệ quả của nó lại không phải chỉ là bệnh viêm gan mà là hành vi của con người. Nếu như tổng kết hành vi tương tự của con người để dẫn đến một kết luận về sự trùng hợp trong một số giờ sinh như Giờ Quan Sát thì là một việc làm không thể thực hiện được trên thực tế, cho dù là ở ngay trong xã hội hiện đại với tất cả những điều kiện huy động được của nhân loại. Sự kết luận về bệnh viêm gan liên quan đến Giờ Quan Sát của Giáo sư Lê Viết Sửu chỉ là kiểm chứng một hiện tượng có sẵn.

@ Cho rằng Giờ Quan Sát chỉ là trò chơi toán học ngẫu nhiên

Bắt đầu từ tháng 12 (Tháng Sửu) với giờ Ngọ, sau đó cứ lùi một tháng thì tiến một giờ (Tháng 11 giờ Mùi)….cho đến hết 12 giờ trong 12 tháng. Từ trò chơi toán học ngẫu nhiên này, người ta đặt ra Giờ Quan Sát. Bởi vì, giữa một trò chơi toán học đơn giản và hệ quả của Giờ Quan Sát trên con người (Bệnh viêm gan và tính bạo ngược) lại hoàn toàn không có sự liên hệ nào. Trong khi Giờ Quan Sát tồn tại trong văn minh Đông phương (Cụ thể là ở Việt Nam) đã nhiều thế kỷ.
Với lập luận như vậy, chỉ là một dạng cao cấp hơn việc làm một con toán chia 2622 năm – là thời gian tồn tại của thời Hùng Vương theo chính sử Việt – cho 18 đời Hùng Vương ra con số hơn 145 năm và kết luận: Không thể có tuổi thọ trung bình hơn 145 năm cho đời một con người. Thật là một điều buồn! Vì sai lầm xuất xứ từ một kiến thức sơ đẳng về toán học. Bởi vì để có 18 vị vua Hùng làm con số chia cho 2622 năm thì người ta phải chứng minh con số 18 này phải là con số thật đã. Không thể lấy một con số thực chia cho một con số ảo. Điều này không khác gì học sinh cấp một làm toán lấy số gà trừ đi số vịt vậy.
Vì vậy, hiện tượng Giờ Quan Sát chỉ có thể giải thích hợp lý trên cơ sở đã chứng minh là: Đó là kết quả của một tri kiến thiên văn siêu việt được ứng dụng và giải thích bằng phương pháp luận của một lý thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh để lý giải cho những hiện tượng liên quan đến con người. Nhưng vì khi lưu truyền trong dân gian, nó chỉ còn là kết quả ứng dụng. Nguyên lý lý thuyết và một thực tại là cơ sở cho nó đã thất truyền. Có thể nói rằng: Hệ thống phương pháp tiên tri của Tử Vi chính là hình đồng dạng lớn hơn của giờ Quan Sát. Nó chỉ là một phương pháp ứng dụng qui mô hơn và chịu chung số phận của hiện tượng “Giờ Quan Sát”, cho đến khi nền văn minh Lạc Việt vào cuộc.
Để tiếp tục chứng tỏ với bạn đọc về cội nguồn của các phương pháp ứng dụng tri kiến thiên văn trong nguyên lý học thuật cổ Đông phương, không thể thuộc về nền văn minh Hoa Hạ, bạn đọc tham khảo phần trình bày dưới đây.

Di sản văn hóa phi vật thể Việt và nguyên lý học thuật cổ Đông Phương

Trong di sản văn hoá phi vật thể truyền thống của người Việt có những sự trùng khớp đến kỳ lạ liên quan đến nguyên lý học thuật cổ Đông phương và tri thức thiên văn vũ trụ . Ngoài những hiện tượng giải mã những di sản văn hóa phi vật thể ở phần trên như tranh thờ Ngũ Hổ, bánh chưng bánh dầy… thì ở phần này, người viết tiếp tục giới thiệu với bạn đọc những giá trị kỳ vĩ của nền văn hoá truyền thống Việt liên quan đến những vấn đề trong nguyên lý cổ học Đông phương.

1. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên và độ số Lạc thư Hà đồ

Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên của người Lạc Việt lần đầu tiên được chép lại trong cuốn sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp với tựa đề là “Hồng Bàng Thị”. Người viết lời tựa trong cuốn sách này là Vũ Quỳnh, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An Hải Dương, sinh năm 1453 mất năm 1516, ông viết bài tựa vào năm 1492. Người viết lời tựa sau cho cuốn sách này vào năm 1493 là Kiều Phú người làng Lạp Hạ, huyện An Sơn, tỉnh Sơn Tây, sinh năm 1450. Hai ông đã thừa nhận những truyện chép trong Lĩnh Nam Chích Quái đã được lưu truyền trong dân gian từ lâu. Trong bài tựa của mình , ông Vũ Quỳnh đã viết:

”Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng ?”

Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên được các nhà sử học Việt Nam ghi lại trong các bộ chính sử và nằm ở phần ngoại kỷ vì sự huyền ảo của câu chuyện. Đã có rất nhiều học giả phân tích tìm hiểu nội dung kỳ bí của truyền thuyết về thuở ban đầu lập quốc của người Lạc Việt. Tất nhiên họ có cái nhìn khác nhau và khác người viết về xuất xứ và cả nội dung của nó .
Nhưng trong cái nhìn rất chủ quan của người viết thì những số liệu trong truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên có một sự liên hệ và trùng khớp một cách kỳ lạ với hai đồ hình nổi tiếng thiêng liêng trong truyền thuyết Đông phương là Lạc thư và Hà đồ.
Xin bạn đọc xem hình dưới đây:

Hình Lạc thư và Hà đồ điểm

Trên hình Lạc thư có 25 vòng tròn trắng và 20 vòng tròn đen.
Trên hình Hà đồ có 25 vòng tròn trắng và 30 vòng tròn đen.
Tổng độ số của Lạc thư – Hà đồ là 100 vòng tròn, trong đó có 50 vòng tròn đen, 50 vòng tròn trắng. Từ hai đồ hình trên, tạo ra hai hình vuông gọi là Cửu Cung Lạc thư và Cửu Cung Hà đồ.

Qua đồ hình trên thì bạn đọc nhận thấy rằng có sự trùng khớp hoàn toàn giữa các con số trong tuyền thuyết và những hiện tượng liên quan đến Lạc thư và Hà đồ.

# 100 quả trứng tương ứng với 100 vòng tròn.
# 50 người con theo cha tương ứng với 50 vòng tròn trắng, thuộc Dương, tượng là theo Cha (Dương).
# 50 người con theo mẹ tương ứng với 50 vòng tròn đen, thuộc Âm, tượng là theo Mẹ (Âm).
# 15 bộ mà truyền thuyết nói tới trùng khớp với số của Ma Phương Lạc thư có tổng ngang dọc chéo đều bằng 15.
# 18 đời vua trùng khớp với tổng số Cửu Cung Lạc thư và Cửu Cung Hà đồ (9 x 2 = 18).

Vấn đề cũng chưa phải dừng ở đây.
Trong truyền thuyết về thời lập quốc của dân tộc Việt còn một chi tiết nữa là:

50 người con theo Mẹ Âu Cơ suy tôn người con trưởng lên làm vua. 49 người con còn lại đi cai trị khắp nơi.
Đây chính là số đại diễn trong Kinh Dịch dùng trong bói cỏ thi - một phương pháp bói tối cổ của Đông phương.

Nếu bạn hỏi tại sao lại phải bớt đi một mà không dùng số 50? Tôi xin được trả lời rằng: Chính truyền thuyết Con Rồng - Cháu Tiên đã trả lời rất rõ ràng và người ta không thể tìm được câu trả lời trong các bản văn chữ Hán.

2. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên và các chòm sao Thiên cực Bắc

Sự kỳ vĩ của nền văn hiến Lạc Việt với nguồn gốc từ những tri kiến thiên văn siêu việt, không phải chỉ qua những hiện tượng đã minh chứng ở trên. Mà ngay trong truyền thuyết Con Rồng – Cháu Tiên cũng có một sự liên hệ trùng khớp một cách kỳ lạ về tri thức vũ trụ quan siêu việt của nền văn minh này.
Qua các phần trích dẫn ở trên, quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng các chòm sao Thiên Cực Bắc – theo các nhà khoa học – lần lượt theo thứ tự thời gian và có tên gọi là:
– Vũ Tiên (hơn 7000 năm tr.CN).
– Thiên Long (gần 3000 năm tr.CN).
– Tiểu Hùng Tinh (hiện tại).
Qua tham khảo ý kiến của bạn đọc, người viết nhận thấy một sự liên quan chặt chẽ giữa thứ tự thời gian các chòm sao Thiên cực Bắc với những từ nhân danh trong kết cấu phả hệ của truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên”. Sự trùng khớp này được miêu tả như sau:
1. Chòm sao Vũ Tiên tương đương thế hệ thứ nhất là bà Vụ Tiên (Theo Lĩnh Nam chích quái, hoàng hậu Vụ Tiên là vợ của hoàng đế Kinh Dương Vương) Trùng hợp danh từ Vũ Tiên và Vụ Tiên.
2. Chòm sao Thiên Long tương đương thế hệ thứ hai là Lạc Long Quân. Trùng hợp danh từ Thiên Long và Lạc Long.
3. Chòm sao Tiểu Hùng tinh tương đương thế hệ thứ ba, bắt đầu từ vua Hùng Vương thứ nhất. Trùng hợp danh từ Hùng Vương và Tiểu Hùng Tinh.
Mười tám thời vua Hùng là tổ tiên của người Việt, là con của Rồng (Lạc Long Quân), cháu của Tiên (bà Vụ Tiên). Như vậy, thứ tự phả hệ này không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, vì sự trùng hợp gần như hoàn toàn và sự liên quan đến những tri kiến rực rỡ về thiên văn học cổ Văn Lang đã được trình bày trong sách này. Hơn nữa, để có được một nhận thức về qui luật vận động của các chòm sao trong Ngân Hà (từ đó phát hiện những hiệu ứng vũ trụ liên quan), điều kiện tiên quyết là phải định vị được điểm chuẩn của tất cả sự vận động đó (trong đó bao gồm cả Trái Đất), tức là phải xác định được chòm sao Thiên Cực Bắc. Do đó, sự liên hệ giữa nội dung của truyền thuyết “Con Rồng – Cháu Tiên” bao gồm từ phả hệ vua Hùng cho đến độ số Lạc thư – Hà đồ là một sự liên hệ nhất quán, chặt chẽ và trùng khớp hợp lý về những tri kiến vũ trụ kỳ vĩ của nền văn minh Văn Lang. Sự liên hệ trên đây minh chứng rõ nét truyền thuyết “Con Rồng – cháu Tiên” không thể là “truyền thuyết ngụy tạo của các nhà nho vào thế kỷ 14”. Bởi vì — kể từ khi nền văn minh Văn Lang thất truyền – trong hơn 2000 năm lịch sử của nhân loại – cho đến sớm nhất vào đầu thế kỷ 19 khoa học hiện đại vẫn chưa phát hiện ra các chòm sao Thiên Cực Bắc.

3. Ngày giỗ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 và trung cung Hà đồ

Hàng năm vào ngày giỗ Tổ Vua Hùng, là dịp để những người Việt Nam tưởng nhớ đến cội nguồn từ thời huyền sử.

Những ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba.

Thời Hùng Vương đã trở thành huyền sử; còn sót lại chăng chỉ còn là những tục ngữ ca dao và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian. Nhưng ngày giỗ Tổ Hùng Vương vẫn ăn sâu vào tâm linh người Lạc Việt. Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc dưới ách đô hộ phong kiến Bắc phương; tiếp theo là 1000 năm hưng quốc với bao thăng trầm của lịch sử; tâm linh của người Lạc Việt vẫn luôn nhớ về cội nguồn. Ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba là một trong những ngày lễ hội thiêng liêng nhất của người Lạc Việt.
Sử sách và truyền thuyết không hề ghi lại ngày mất của vị vua Hùng đầu tiên hoặc cuối cùng.

Vậy ngày giỗ Tổ vua Hùng mùng 10 tháng 3 xuất phát từ đâu?

Đây lại là một con số trùng với trung cung Hà đồ đó là 5 – 10 thuộc về ngôi Hoàng Cực.
Trong đó: Tháng 3 là tháng Thìn (tượng là Rồng) – trùng khớp với biểu tượng của Lạc Long Quân (giống Rồng) chính là tháng thứ 5 nếu kể từ tháng Tí (Tức tháng Một năm trước. Trong cách tính tháng của người Việt như sau: Tháng Một: ; Tháng Chạp: Sửu; Tháng Giêng: Dần; Tháng Hai: Mão; Tháng Ba: Thìn/ Rồng)(*).

(*) Chú thích: Tháng Tí - tức tháng 11 âm lịch – trong dân gian còn gọi là tháng Một và phân biệt giữa số đếm 1 là số đầu tiên, nên gọi tháng đầu trong năm sau Tết là tháng Giêng. Tháng Một không phải là tiếng gọi tắt của tháng 11 mà là tháng đầu tiên theo thứ tự 12 con giáp. Cũng như tháng Sửu là tháng thứ 2 gọi là tháng Chạp để phân biệt với tháng 2 theo số đếm.

18 thời Hùng Vương với nhiều vị vua, không thể giỗ chung một ngày.

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 chính là một biểu tượng của nền văn hiến vĩ đại của người Lạc Việt. Đó chính là độ số của trung cung Hà đồ với số 5 – 10

Như vậy, truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên và ngày giỗ Tổ Hùng Vương hoàn toàn trùng khớp một cách kỳ lạ với nội dung của Lạc thư – Hà đồ.
Sự trùng khớp hợp lý đến kỳ lạ của các sản phẩm trí tuệ thuộc về văn minh Lạc Việt với nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành là Lạc thư Hà đồ đã đặt lại vấn đề một cội nguồn đích thực của nền văn hoá Đông phương huyền vĩ chính là nền văn hiến Lạc Việt với cội nguồn văn hoá sử trải gần 5000 năm.
Nhưng di sản văn hoá phi vật thể được dẫn ở trong tiểu luận này, cùng với những nguyên lý căn bản của học thuật Đông phương đều là sản phẩm của trí tuệ . Sự trùng khớp hợp lý đến từng chi tiết đã chứng tỏ chúng phải có xuất sứ từ một cội nguồn văn hóa duy nhất. Không những vậy, chính những giá trị văn hoá phi vật thể nằm trong truyền thống văn hoá Việt lại có khả năng chỉ ra những sai lệch từ nguyên lý căn bản từ những bản văn chữ Hán cổ, để giải thích một cách hợp lý và hoàn hảo hầu hết những vấn đề liên quan đến nó. Đồng thời, nó còn có khả năng chỉ ra một thực tại là cơ sở nhận thức cho những giá trị học thuật cổ Đông phương chính là những tri thức vũ trụ nằm ngoài khả năng nhận biết của tri thức khoa học hiện đại. Đó chính là sự vận động và hiệu ứng tương tác có qui luật của vũ trụ đến Trái Đất và con người.
Người ta có thể đưa ra những dị bản khác nhau của truyền thuyết, ca dao. Hoặc cũng có thể người ta dẫn chứng những dị bản từ các nền văn hoá gần gũi phi Việt để hoài nghi những minh chứng từ giá trị văn hóa phi vật thể Việt và phủ định những nội dung của nó... Nhưng may mắn thay, những giá trị văn hoá phi vật thể truyền thống Việt nhằm chứng minh cho cội nguồn văn hiến trải 5000 năm , không chỉ tồn tại một cách rời rạc và mang tính hiện tượng , mà là một sự giải mã không những ở chiều sâu đến từng chi tiết trùng khớp mà còn ở cả một không gian bao trùm lên tất cả mọi loại hình văn hoá Việt. Tính hợp lý toàn diện về cả chiều sâu và rộng khắp ấy trong cả không gian và thời gian đã chứng tỏ một sự hợp lý và hoàn chỉnh không thể phủ nhận được.
Người viết cũng lưu ý bạn đọc quan tâm là vào tháng 5. 2002 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc chính thức thừa nhận những giá trị văn hoá phi vật thể là bằng chứng khoa học minh chứng cho lịch sử.
Trở lại với sự chứng minh tiếp tục về tính hợp lý trong việc lý giải các hiện tượng và vấn đề liên quan của nguyên lý căn bản Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt, Xin bạn đọc tiếp tục quán xét những phần tiếp sau đây.

Mời xem các bài khác:

  1. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời nói đầu
  2. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Lê Gia
  3. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Hoàng Tuấn
  4. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 1
  5. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 2
  6. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 3
  7. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 1
  8. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 2
  9. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 3
  10. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 4
  11. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1
  12. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 1
  13. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 2
  14. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 3
  15. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 2
  16. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 1
  17. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 1
  18. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 2
  19. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - Phụ chương
  20. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3
  21. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3 - Phụ chương
  22. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 1
  23. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 2
  24. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 1
  25. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 2
  26. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Thay lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Hà đồ và  huyền không phi tinh trong phong thủy. Trong những yếu tố căn bản qui ước của phương pháp này, cổ thư chữ Hán ghi nhận sự vận động thay đổi ...

Nguyên lý quái Cấn nhập trung cung và Hà đồ. Thực tại vũ trụ của phong Thủy Lạc Việt: Sự chứng minh ở trên đã cho thấy rằng:   Hà đồ phối Hậu thiên ...

Tứ trạch trong Hậu thiên Lạc Việt và Hà đồ. Tính phi qui luật của Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư: Trước khi minh chứng tính hợp lý của nguyên lý căn ...

Phần III: Hà đồ trong không gian ứng dụng của học thuật cổ Đông Phương. Chương I: Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt và tính quy luật trong phong thuỷ. Trong ...

Phụ chương: Giải mã những hiện tượng văn hóa dân gian liên quan. Người viết một lần nữa xin được lưu ý bạn đọc quan tâm là:Tất cả những sự giải mã ...

Chương III: Hà đồ và hậu thiên bát quái Lạc Việt. 1. Nguyên lý căn bản của học thuật cổ Đông Phương: Trong phần trên, người viết đã chứng minh với bạn ...

Chương II: Nội dung của Hà đồ từ văn minh Lạc Việt. Hệ từ viết:”Hà xuất đồ,Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”.Mọi sự suy luận sẽ bế tắc và không ...

Phần II- Hà đồ trong văn minh Lạc Việt. Dịch viết: ”Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”

Chương III: Ứng dụng của Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Trong cổ thư chữ Hán trải hàng ngàn năm cho đến nay, người ta không thể nào tìm thấy sự ghi nhận ...

Chương II: Nội dung của Hà đồ qua cổ thư chữ Hán. Mặc dù tranh luận sôi nổi vậy, ngay cả những bậc túc nho khả kính thuộc văn minh Hán – cũng không thể ...