Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 2

Ngày đăng: Thứ năm 03/07/2008 12:00:00 (GMT +7)


Bạn đọc có tìm hiểu về phong Thủy đều biết rằng: Một nguyên tắc trong sự ứng dụng của thuật phong Thủy là phi cung cho tuổi nam – Khôn, nữ - Cấn tại trung cung. Đây là một hiện tượng khác hẳn tất cả mọi hiện tượng khác liên quan trong sự ứng dụng lý thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch. Trong Kinh Dịch hoặc tất cả những hiện tượng liên quan đến Kinh Dịch, chúng ta đều biết: CÀN tượng cho Nam mạng và KHÔN cho nữ mạng. Và ngay khi tính toán những thông số liên quan đến quan hệ gia đình trong phong Thủy và Kinh Dịch thì người ta vẫn coi Càn là cha, Khôn là mẹ, Khảm trưởng nam, Đoài thiếu nữ… Vậy tại sao ở thuật phong Thủy - khi lấy con người làm trung tâm của sự tương tác với thiên nhiên - thì trên cơ sở nào để lấy KHÔN cho nam mạng và CẤN cho nữ?
Hơn thế nữa, hiện tượng này lại là một trong những nguyên tắc căn bản của thuật Phong Thủy? Cổ thư chữ Hán không hề có một chữ lý giải và chứng minh nguyên tắc Nam - Khôn, Nữ - Cấn này. Hàng ngàn năm trôi qua cho đến tận bây giờ, mặc nhiên nguyên tắc này được coi như là một tiên đề trong ứng dụng và không thể chứng minh.
Nếu chúng ta chỉ giới hạn cái nhìn thuật phong Thủy như nó đang hiện
hữu trong sự ứng dụng, thì chúng ta chỉ có thể đặt vấn đề về tính khoa học của nó một cách dè dặt trên cơ sở tính hiệu quả thực tế của nó. Cùng chung số phận với các phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương, bản chất của môn phong Thủy sẽ mãi mãi là điều bí ẩn. Nhưng bắt đầu từ một quan niệm nhất quán cho rằng:

Phong Thủy cũng như tất cả các môn ứng dụng của học thuật Đông phương cổ, đều là hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành - một lý thuyết phản ánh qui luật tương tác và vận động của vũ trụ một cách thống nhất, hoàn chỉnh, nhất quán có khả năng giải thích từ sự hình thành vũ trụ đến tất cả mọi vấn đề liên quan tới con người - thì mọi vấn đề bắt đầu sáng tỏ.

Và chiếc chìa khóa để mở kho tàng bí ẩn của Lý học Đông phương chính là Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Từ nguyên lý căn bản này để quán xét hiện tương Nam - Khôn, Nữ - Cấn, chúng ta sẽ có một sự lý giải hợp lý, chứng tỏ tính hoàn chỉnh và nhất quán của luận đề đặt ra. Đồng thời nguyên lý căn bản này cũng chỉ thẳng đến một thực tại vũ trụ huyền vĩ là cơ sở cho tất cả các phương pháp ứng dụng của học thuật Đông phương cổ.
Người viết xin được bắt đầu trên cơ sở những nguyên lý sau: Trong nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì vật là âm, lý (của vật) là dương.
Như vậy, từ nguyên lý này sẽ dẫn đến những luận đề được đặt ra sau đây:
* Quái Cấn tượng cho nữ mạng – tức là thuộc Âm – vậy nó phải tượng cho một vật thể nào đó? Khôn tượng cho nam mạng – tức là thuộc Dương - thì nó phải là cái lý của vật thể đó.
* Thuật phong Thủy trên thực tế là sự ứng dụng hiệu ứng từ trường của Trái Đất lên con người là yếu tố căn bản (bằng chứng là dùng la bàn để phân cung). Từ thực tại này suy ra một giả thuyết cho rằng: Chính Trái Đất là vật thể thuộc Âm tượng cho nữ mạng? Điều này xin được lý giải và minh chứng trên cơ sở phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành như sau:
- Trên cơ sở Hậu thiên bát quái Lạc Viêt phối Hà đồ thì quái Cấn nằm ở Âm Mộc, vậy Âm Mộc phải có sự liên hệ với Trái Đất trong mối tương quan của Thái Dương hệ. Xin bạn đọc xem lại hình sau đây:

Qua hình trên bạn đọc cũng nhận thấy quái Cấn, nằm ở độ số 8 thuộc Âm Mộc trên Hà đồ.
Bây giờ xin bạn đọc quán xét lại thuận tự của Thái Dương hệ tính từ trong ra ngoài:
Trước khi tường rõ về vấn đề này, người viết xin lưu ý quí vị về tên gọi của hai hành tinh trong Thái Dương hệ là sao Kim và sao Thủy:
* Sao Thủy được gọi tên theo thiên văn hiện đại, theo sách cổ thiên văn Đông phương gọi là sao KIM.
* Sao Kim gọi tên theo thiên văn hiện đại, theo sách cổ thiên văn Đông phương gọi là sao THỦY (Theo Ban Cố, Tiền Hán thư). Thuận tự của Thái Dương hệ dưới đây – với tên hai sao này gọi theo sách cổ - thì thuận tự này sẽ là:

@ Mặt Trời => Sao KIM =>Sao THỦY => TRÁI ĐẤT => Sao HỎA.
(Hành tinh nhóm I / Theo cách phân nhóm của thiên văn học hiện đại)
@ Vành đai thiên thạch với hàng trăm triệu tảng thiên thạch lớn nhỏ cũng đang quay quanh Mặt Trời (Tảng lớn nhất có chiều dài hàng trăm km).
@ Sao MỘC => Sao THỔ =>Thiên Vương tinh =>Hải Vương tinh => Diêm Vương tinh.
(Hành tinh nhóm II theo cách phân nhóm của thiên văn học hiện đại)
Nếu bây giờ chúng ta lấy Mặt Trời làm hành Thổ (Theo nguyên lý trung cung thuộc Thổ) thì ta sẽ thấy một chiều Ngũ hành tương sinh từ trong ra ngoài – so sánh với tên gọi Mặt Trời và các hành tinh – như sau :
Ngũ hành: Thổ (Mặt Trời) => sinh Kim (Sao Kim/ Theo sách cổ) => sinh Thủy (Sao Thủy / Theo sách cổ) => sinh Mộc (Tương ứng với Trái Đất) =>Sinh Hỏa (Sao Hỏa).
Ở hành tinh nhóm II thì cổ thư chỉ thấy ghi hai sao, nhưng đủ để chúng ta thấy được lý tương khắc là: Sao Mộc (Mộc) khắc Thổ (Sao Thổ)
Như vậy, bạn đọc cũng thấy rằng Trái Đất tương ứng với hành Mộc. Theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì khi lý tương sinh thuộc Dương, vật thể hiện lý sẽ thuộc Âm (trong Âm có Dương). Do đó, Mặt Trời và các hành tinh bên trong vành đai thiên thạch thuộc Âm và Trái Đất của chúng ta chính là Âm Mộc:
Đó chính là vị trí của quái Cấn trên Hà đồ.
Vật thuộc Âm, nên quái Cấn tượng cho Nữ mạng; quái Khôn là tượng của “đất” thuộc tiên thiên là lý của Vật (Trái Đất) thuộc Dương, nên tượng cho nam mạng. Đó là lý do vì sao Khôn / Cấn tại trung cung. Xin quí vị xem hình minh họa dưới đây:


Như vậy, từ sự chứng giải Hà đồ chính là sự biểu lý cô đọng và hoàn hảo cho chu kỳ vận động của Ngũ Tinh (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) chứng giải ở phần trên, thì hiện tượng quái Cấn ở trung cung trong thuật phong thủy cũng được chứng giải tính liên hệ chặt chẽ và nhất quán của một luận thuyết cho rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết phản ánh nhận thức thực tại từ vũ trụ, Bát quái trong Kinh Dịch chỉ là những ký hiệu siêu công thức theo thuật toán nhị phân của học thuyết này.

Hay nói một cách khác, hiện tượng quái Cấn ở trung cung chính là sự thể hiện tiếp tục mối tương quan giữa Trái Đất và sự vận động của hệ Mặt Trời, trong tương quan các hiệu ứng tương tác của vũ trụ. Tất cả những tri kiến này không hề được thể hiện trong cổ thư chữ Hán, kể từ khi nền văn minh kỳ vĩ của nhà nước Văn Lang sụp đổ từ hơn 2000 năm trước.
Bạn đọc cũng lưu ý rằng: Chỉ có đồ hình Hà đồ cửu cung thì Trung cung mới có hai độ số là 5/ 10 để ứng với sự tại vị của hai quái Khôn - Cấn tại trung cung trong thuật phong thuỷ. Còn đồ hình Lạc thư trung cung chỉ có một số 5, nên không thể ứng với sự tại vị hai quái Khôn - Cấn nhập trung cung.
Nếu vấn đề chỉ dừng tại đây thì bạn đọc có thể cho rằng đây chỉ là một sự giải thích hợp lý. Bởi vậy, người viết tiếp tục chứng tỏ với bạn đọc về tính khoa học của luận đề này sau đây .
Một trong những tiêu chí cho một lý thuyết khoa học là:

“Một giả thiết khoa học thì phải có khả năng tiên tri”

Tuân theo tiêu chí này và cũng chứng tỏ tính khoa học của luận đề này, căn cứ vào sự chứng giải ở trên, người viết xin được trình bày một hệ luận tiếp theo – mang tính tiên tri – theo phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Sự tiên tri căn cứ vào các hiện tượng và nhận thức sau:
*Những hành tinh nhóm hai (bên ngoài vành đai thiên thạch) có chiều Ngũ hành tương khắc. Giả thuyết này dựa trên cơ sở Ngũ hành tương khắc do hai sao đầu tiên của nhóm này, tính từ trong ra ngoài là, Sao Mộc (Thái Tuế) khắc Thổ (Sao Thổ). Từ đó, sắp chiều Ngũ hành tương khắc cho các sao còn lại thì sự kết thúc chu kỳ tương khắc đúng ở sao Diêm Vương.
* Sao Diêm Vương có cấu trúc hình thể và vật chất gần giống với các hành tinh thuộc nhóm 1 (Những hành tinh bên trong vành đai thiên thạch). Điều này lại cho thấy sự phù hợp với một nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành là cực Âm sinh Dương / Cực Dương sinh Âm.
Từ hiện tượng này dẫn đến kết luận của người viết mang tính tiên tri, cho rằng:

Không có hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt Trời.

Vì – theo thuyết Âm Dương Ngũ hành – đã có sự cân bằng Âm dương và Ngũ hành trong cấu trúc của Thái Dương hệ được giải thích bằng phương pháp luận của học thuyết này.
Xin bạn đọc lưu ý rằng:
Lời tiên tri này đã được thực hiện từ tháng ba năm Canh Thìn (2000) là lúc hoàn tất bản thảo cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. Về mặt pháp lý, lời tiên tri này được công bố chính thức khi cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” được xuất bản lần thứ 1 do Nxb Đại học Quốc gia T/p HCM . Cho đến lúc này, những tri thức thiên văn học hiện đại nhất đã chứng tỏ tính chính xác của nó. Hội nghị các nhà thiên văn học thế giới đã quyết định xoá bỏ khái niệm hành tinh thứ 9 của hệ Mặt Trời. Tức không công nhận sao Diêm Vương tức là gián tiếp không thừa nhận có hành tinh thứ 10. Vấn đề còn đang tranh cãi gay gắt. Sở dĩ các nhà khoa học phủ nhận tính qui ước của sao Diêm Vương là hành tinh thứ 9 thuộc hệ Mặt Trời, chính vì nó có cấu trúc giống hành tinh nhóm I, nhưng lại thuộc nhóm II. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và phép biện chứng giải thích là qui luật lặp lại của một chu kỳ .
Điều này đã chứng minh sắc sảo sai lầm của ông Lưu Tử Hoa khi chứng minh trên cơ sở Bát quái rằng: Có hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt Trời. Ông Lưu Tử Hoa chứng minh điều này tại Viện Hàn lâm khoa học Pháp vào năm 30 của thế kỷ trước. Đây là luận văn nổi tiếng của ông này. Thật không may cho ông Lưu Tử Hoa, cho đến tận bây giờ - khoa học hiện đại đã phát triển vượt bậc – cũng chưa tìm thấy hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt Trời! Thậm chí hành tinh thứ 9 cũng đang bị xóa sổ về mặt qui ước.
Từ những luận đề chứng minh ở các phần trên về tính tương quan giữa Trái Đất và những hiệu ứng vũ trụ vận động có qui luật liên quan đến nó – chính là những thực tại tạo nên Hà đồ – thì tính hợp lý và nhất quán tiếp theo là nó phải giải thích hợp lý mọi hiện tượng liên quan đến nó.
Phần tiếp theo đây tiếp tục minh chứng trong phương pháp ứng dụng của thuật huyền không trong phong Thủy.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời nói đầu
  2. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Lê Gia
  3. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Hoàng Tuấn
  4. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 1
  5. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 2
  6. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 3
  7. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 1
  8. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 2
  9. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 3
  10. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 4
  11. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1
  12. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 1
  13. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 3
  14. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 2
  15. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 3
  16. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 1
  17. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 1
  18. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 2
  19. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - Phụ chương
  20. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3
  21. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3 - Phụ chương
  22. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 1
  23. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 2
  24. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 1
  25. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 2
  26. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Thay lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Phụ chương: Giải mã những hiện tượng văn hóa dân gian liên quan. Người viết một lần nữa xin được lưu ý bạn đọc quan tâm là:Tất cả những sự giải mã ...

Chương III: Hà đồ và hậu thiên bát quái Lạc Việt. 1. Nguyên lý căn bản của học thuật cổ Đông Phương: Trong phần trên, người viết đã chứng minh với bạn ...

Chương II: Nội dung của Hà đồ từ văn minh Lạc Việt. Hệ từ viết:”Hà xuất đồ,Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”.Mọi sự suy luận sẽ bế tắc và không ...

Phần II- Hà đồ trong văn minh Lạc Việt. Dịch viết: ”Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”

Chương III: Ứng dụng của Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Trong cổ thư chữ Hán trải hàng ngàn năm cho đến nay, người ta không thể nào tìm thấy sự ghi nhận ...

Chương II: Nội dung của Hà đồ qua cổ thư chữ Hán. Mặc dù tranh luận sôi nổi vậy, ngay cả những bậc túc nho khả kính thuộc văn minh Hán – cũng không thể ...

Phần I: Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Chương I: Xuất xứ của Hà đồ theo cổ thư chữ Hán. Hầu hết những ai đã từng xem một cuốn sách nói về Kinh Dịch thì ...

Trải hàng thiên niên kỷ trôi qua trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, con người không quên chiêm ngưỡng quá khứ. Nhưng trong sự phát triển của ...

Nhà nghiên cứu Lê Gia: Dịch lý là một môn khoa học và cũng là triết học, có tính nhất quán bao trùm mọi lĩnh vực trong vũ trụ quan và nhân sinh quan của tư ...

Tôi là người Hà Nội, tình cờ được quen biết tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vốn ở trong thành phố Hồ Chí Minh, có lẽ do cái mà đạo Phật gọi là có ...