Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 4

Ngày đăng: Thứ bảy 28/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Chỉ khi sự giải mã đúng – để hướng dẫn sự khám phá bản chất đích thực của nền văn minh huyền bí – thì chính tính chân lý của sự việc sẽ là bằng chứng chứng minh cho phương pháp giải mã trên.

Vấn đề được đặt ra trong phần này, không chỉ dừng lại ở sự giải mã những giá trị văn hóa dân gian Việt Nam, mà nó còn ở cả những truyền thuyết dân gian vốn được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ và của chính Kinh Dịch. Bạn đọc lần lượt xem nội dung giải mã dưới đây:

1. Giải mã Tiết V - Thuyết quái truyện

Xét về lịch sử văn bản thì đồ hình Hậu thiên do ông Thiệu Khang Tiết công bố vào đời Tống hoàn toàn có thuận tự trùng khớp với tiết V thuyết quái truyện ghi nhận trong Chu Dịch - nếu xét thuận tự theo chiều kim đồng hồ từ quái Chấn (“Đế xuất hồ Chấn”…).
Nội dung bản văn trong Chu Dịch - Tiết V - Thuyết Quái truyện có vẻ như là một sự bảo chứng cho thuận tự của đồ hình Hậu thiên bát quái lưu truyền trong cổ thư chữ Hán chính là đoạn văn sau đây:

* “Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Trí dịch hồ Khôn. Thuyết ngôn hồ Đoài. Chiến hồ Càn. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn”.

Sau đó hàng ngàn năm, đồ hình Hậu thiên bát quái được các đạo gia là Thiệu Khang Tiết công bố vào đời Tống thì hoàn toàn trùng khớp với thuận tự của đoạn văn trên. Nhưng thực tế Tiết V Thuyết quái truyện có phải là một thực tại có tính nguyên lý cho đồ hình Hậu thiên bát quái không ?
Bạn đọc quan tâm xem hình dưới đây:

Thuận tự Hậu thiên bát quái và tiết V thuyết quái truyện (*)
(Theo cổ thư chữ Hán)

Như vậy, qua đồ hình trên chúng ta thấy rằng: Hoàn toàn có sự trùng khớp theo thuận tự của Đồ hình Hậu thiên bát quái theo cổ thư chữ Hán – được công bố vào đời Tống – với bản văn Kinh Dịch cổ lưu truyền từ thời Hán trong Tiết V – Thuyết quái truyện. Bởi vậy, có một số nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng:

Đồ hình Hậu thiên bát quái do các đạo gia thời Tống căn cứ vào Thuyết quái tạo ra.

Nhưng thực tế thì ngay đoạn văn trên của Tiết V – Thuyết quái truyện lại không hề có một chữ nào xác định đây là cơ sở của đồ hình Hậu thiên bát quái được công bố vào đời Tống. Nghĩa đen của đoạn trên chỉ là:

Đế xuất hồ Chấn = Vua ra cửa Chấn.
Tề hồ Tốn = Làm bằng cửa Tốn.
Tương kiến hồ Ly = Gặp gỡ ở cửa Ly.
Trí dịch hồ Khôn = Suy nghĩ chuyển cửa Khôn.
Duyệt ngôn hồ Đoài = Vui vẻ ở Đoài (hoặc nói chuyện ở Đoài).
Chiến hồ Càn = Tranh chấp ở Càn.
Lao hồ Khảm = Khó nhọc ở Khảm.
Thành ngôn hồ Cấn = Nói xong ở Cấn.

Ngay trong Thuyết quái truyện cũng có một lời giải thích sơ sài về đoạn văn bí ẩn trên. Chúng ta cùng quán xét toàn bộ đoạn giải thích đó như sau:

Vạn vật xuất hồ Chấn. Chấn, Đông phương dã. Tề hồ Tốn. Tốn Đông Nam dã. Tề dã giả, ngôn vạn vật chi khiết tề dã. Ly dã giả, minh dã, vạn vật giai tương kiến, Nam phương chi quái dã. Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ, hưởng minh nhi trị, cái thủ chư thử dã. Khôn dã giả, địa dã, vạn vật giai trí dưỡng yên. Cố viết: “Trí dịch hồ Khôn”. Đoài chính Thu dã, vạn vật chi sở duyệt dã. Cố viết: “Duyệt ngôn hồ Đoài”. Chiến hồ Càn, Càn Tây Bắc chi quái dã, ngôn Âm Dương tương bạc dã. Khảm dã, Thủy dã, chính Bắc phương chi quái dã, lao quái dã. Vạn vật chi sở quy dã. Cố viết: “Lao hồ Khảm”. Cấn Đông Bắc chi quái dã, vạn vật chi sở thành chung nhi sở thành thủy dã. Cố viết: “Thành ngôn hồ Cấn”.

(Bản dịch của Hải Ân “Kinh Dịch với đời sống” - Nxb VHDT 1998):

Vạn vật xuất ra ở Chấn. Chấn ở phương Đông. Hoàn thành mọi việc ở Tốn, Tốn Đông Nam. Hoàn thành có nghĩa là vạn vật trở nên trong sạch hoàn toàn. Ly là sáng, vạn vật đều thấy nhau, là quẻ của phương Nam. Thánh nhân quay mặt về phương Nam mà trị, là lấy tượng ở đây. Khôn là đất, lo cho vạn vật được nuôi dưỡng, cho nên nói rằng: “Làm cho chúng giúp ích nhau ở Khôn”. Đoài là giữa mùa Thu, vạn vật đều vui vẻ, cho nên nói rằng: “Làm cho chúng vui ở Đoài”. Chiến đấu ở Kiền, Kiền là quẻ chủ ở Tây Bắc, có nghĩa là ở đó Âm Dương kích động nhau vậy. Khảm là nước, là quẻ của phương Bắc, là quẻ khó nhọc, mà mọi vật đều quy phục, cho nên nói rằng: “Khó nhọc ở Khảm”. Cấn là quẻ Đông Bắc, nơi mà lúc đầu và lúc cuối của vạn vật hoàn tất, cho nên nói rằng: “Thành tựu ở Cân”.

Như vậy, Tiết V – Thuyết quái truyện được chia làm hai phần: Phần một có tính sấm ngữ “Đế xuất hồ Chấn …..” là luận đề và phần hai là sự giải thích luận đề trên. Do đó, vấn đề được đặt ra là: Tại sao cùng một ngôn ngữ (Chữ Hán), cùng một tác giả (Vốn được coi là Khổng Tử) lại phải có phần này diễn giải chú thích cho phần kia? Phải chăng phần một là thừa, vì chỉ phần hai cũng đủ nghĩa ? Trên cơ sở sự mâu thuẫn này, người viết cho rằng: Phần một chính là một mật ngữ cho thấy vị trí Tốn Khôn cần phải sửa lại, phần hai là sự che giấu mật ngữ này .
Toàn bộ mật ngữ này được giải mã nghư sau:

1. Đế xuất hồ Chấn = Vua ra cửa Chấn: Sự tìm hiểu phục hồi cố sử thời Hùng Vương (Đế) sẽ gây chấn động, do những thay đổi từ căn bản những nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành.
2. Tề hồ Tốn = Làm bằng cửa Tốn: Bỏ vị trí của quái Tốn ở Đông Nam.
3. Tương kiến hồ Ly = Gặp gỡ ở phương Nam: Sự việc bắt đầu từ phương Nam. Tức nền văn minh Lạc Việt.
4. Trí dịch hồ Khôn = Suy nghĩ chuyển quái Khôn: Suy nghĩ một phương pháp luận hợp lý để chuyển cửa Khôn. Đương nhiên là chuyển về Đông Nam khi đã bỏ quái Tốn khỏi vị trí này.
5. Duyệt (Có sách dịch là thuyết) ngôn hồ Đoài = Vui vẻ ở Đoài: Điều này sẽ đúng với nguồn gốc của Kinh Dịch.
6. Chiến hồ Càn = Tranh chấp ở Càn: Từ đây sẽ phục hồi một siêu lý thuyết vũ trụ quan (Càn / Trời) và gây tranh luận.
7. Lao hồ Khảm = Khó nhọc ở phương Bắc: Cũng có thể hiểu là: Thủy Khảm chủ thần trí, cần có sự suy nghĩ lao tâm mới có thể tìm hiểu được sự thật bao trùm bởi bức màn huyền bí.
8. Thành ngôn hồ Cấn = Cấn chính là tượng của Trái Đất (Xin xem “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. Nxb Đại học Quốc gia T/p HCM & Nxb Văn Hoá Thông Tin. Tiêu đề: “Lý giải về nguyên nhân hiện tượng quẻ Cấn ở trung cung trong ứng dụng của thuật phong thủy từ văn minh Văn Lang”, trang 281). Mọi chuyện sẽ sáng tỏ và hoàn chỉnh khi đặt vị trí Trái Đất là trung tâm của mọi sự diễn dịch. Phần này sẽ được trích lại trong sách này .

Vấn đề sẽ tiếp tục đặt ra là: Tại sao trong chính cuốn Kinh Dịch lại tồn tại một mật ngữ cần giải mã để góp phần tìm giá trị đích thực của nó. Để giải thích điều này, người viết cho rằng: Chính tổ tiên người Lạc Việt đã viết tiết V Thuyết quái truyện, cài những mật ngữ cho con cháu đời sau tìm về cội nguồn của tổ tiên và phục hồi lại một giá trị tri thức siêu việt bị thất truyền. Các học giả cận - hiện đại bằng phương pháp thẩm chứng văn bản cũng đã có ý kiến cho rằng: “Thuyết quái truyện” được viết rất muộn sau thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Tức là tương đương thời điểm nền văn minh vĩ đại của người Lạc Việt bị sụp đổ ở Nam sông Dương Tử (Năm 258 trước CN). Và không phải chỉ ở Tiết V thuyết quái truyện, mà những di sản văn hóa phi vật thể còn lại thuộc văn hoá phương Đông cũng ẩn chứa nhiều mật ngữ để giải mã những bí ẩn của sự huyền bí Đông phương. Một trong những hiện tượng của truyền thuyết liên quan đến vị trí Tốn Khôn chính là “Sự tích bà Nữ Oa vá trời” vốn được coi là sản phẩm của văn hóa Hoa Hạ.

2. Giải mã truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời”

Nội dung truyền thuyết này như sau:

Vào thời Hiên Viên, thần nước Cộng Công đánh nhau với thần lửa Chúc Dong. Cộng Công thua trận, húc đầu vào núi Bất Chu, khiến cột trời đổ gẫy. Trời nghiêng về phía Tây Bắc, đất lệch về phía Đông Nam. Nước từ trên trời đổ xuống gây ngập lụt ở khắp nơi. Bà Nữ Oa đốt cỏ Lư thành tro ngăn nước lụt, lấy đá ngũ sắc dưới biển vá trời. Sau đó bắt con rùa lớn đứng đội trời lên. Từ đó, cuộc sống trở lại yên bình.

Những chi tiết trong truyền thuyết này theo cái nhìn chủ quan của ngưòi viết chính là sự hướng dẫn tới một luận điểm cho rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là lý thuyết vũ trụ và Bát quái chỉ là ký hiệu siêu công thức của học thuyết này. Nguyên lý căn bản của học thuyết này là Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ và thuộc về văn minh Lạc Việt. Điều này được giải mã qua truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” như sau:
* Trong Tiên thiên bát quái thì trục Càn Khôn là trục thẳng đứng. Nếu ta kẻ một đường thẳng thì đây chính là cột “chống trời” (Chống trên đất Khôn, đỡ trời Càn).

Đồ hình minh họa
vị trí quẻ Càn-Trời và quẻ Khôn-Đất
với nội dung truyền thuyết

* Trong Hậu thiên bát quái thì thay thế Càn / Khôn bằng Khảm /Thủy , tượng trưng bằng thần nước Cộng Công và Ly / Hỏa , tượng trưng bằng thần lửa Chúc Dung. Thủy Hỏa xung khắc tượng trựng cho cuộc chiến của hai vị thần.
* Danh từ “Bất Chu”còn có nghĩa là Hậu thiên bát quái không phải do nhà Chu (Chu Văn Vương) làm ra.
* Trong Hậu thiên bát quái từ bản văn cổ chữ Hán thì Càn (Tượng Trời trong Chu Dịch) ở phía Tây Bắc. (“Trời nghiêng về phía Tây Bắc”), Khôn (Tượng Đất trong Chu Dịch) ở Tây Nam. Nhưng theo sự hướng dẫn của truyền thuyết này thì Khôn phải ở phía Đông Nam (Khôn / “Đất lệch về phía Đông Nam”).

Hình minh họa đổi chỗ Tốn Khôn
Theo truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời”

* Bà Nữ Oa lấy đá ngũ sắc vá trời tức là cơ sở của Bát quái chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Hình tượng “lấy cỏ Lư, đốt thành tro ngăn nước” cho thấy “đốt” là Hỏa, thành “tro” là Âm Hỏa, “ngăn nước” là Thổ. Như vậy là Khôn Thổ khắc Thủy “ngăn nước” phải ở cung Âm Hỏa.
Nếu Hậu thiên bát quái đổi chỗ Tốn Khôn và liên hệ với Hà đồ sẽ trùng khớp một cách kỳ lạ và thỏa mãn tất cả điều kiện trên. Bạn đọc xem lại đồ hình Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ dưới đây:

Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ
Sự trùng khớp hoàn toàn với truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời”

* Bà Nữ Oa còn có thể hiểu là “Mẹ Cóc”, biểu tượng của sự khai sinh ra chữ Khoa Đẩu (Chữ hình con nòng nọc), ghi lại những giá trị của nền văn minh Lạc Việt, lưu truyền trong Lạc thư là sách của người Lạc Việt.
Sự giải mã truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” cho thấy sự trùng khớp hoàn toàn những hình tượng được nhắc tới trong truyền thuyết với quan niệm: “Đồ hình Hậu thiên bát quái đổi chỗ Tốn Khôn liên hệ với Hà đồ” và thuộc về văn minh Lạc Việt. Người viết xin thống kê những chi tiết trùng khớp sau đây để quí vị tham khảo:

1. Cột chống trời Bất Chu:
Không phải nhà Chu tạo ra Kinh Dịch.
2. Thần Lửa và Thần Nước xung khắc, nước từ trên trời đổ xuống:
Khảm/Ly thay thế Càn/Khôn.
3. Trời nghiêng về phía Tây Bắc:
Quái Càn (Trời) nằm ở phía Tây Bắc của Hậu thiên bát quái. Đây là sự thể hiện rất rõ về phương vị của quái Càn.
4. Dùng đá ngũ sắc để vá trời:
Ngũ hành chính là cơ sở của Bát quái.
5. Đất lệch về phía Đông Nam:
Quái Khôn phải ở phía Đông Nam.
6. Đốt cỏ Lư thành tro – ngăn nước:
Tro chính là Âm Hỏa. Nhưng tất cả những ai đã có kiến thức căn bản về sự sinh khắc của Ngũ hành đều biết rằng: Chỉ có Hỏa mới sinh Thổ. Như vậy, Khôn Thổ phải ở cung Âm Hỏa. Điều này chỉ có thể thực hiện được ở Hà đồ liên hệ với Hậu thiên Lạc Việt đã đổi chỗ Tốn Khôn so với Hậu thiên Văn Vương. Vì như vậy Khôn / Thổ sẽ nằm ở cung Âm Hỏa độ số 2 / Đông Nam của Hà đồ.
Như vậy, cho dù sự giải mã xuất phát từ tính chủ quan của người viết thì tính trùng khớp đến kỳ lạ của truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” với các vấn đề của Kinh Dịch, cũng chứng tỏ nó phải được hình thành một cách có chủ ý, để phản ánh một thực tế đã khuất lấp trong văn hóa Đông phương. Giả thiết rằng: Người viết đã đúng khi giải mã thì vấn đề sẽ được tiếp tục đặt ra là:
Vậy ai là chủ nhân sáng tạo của truyền thuyết này ? Người Hoa Hạ sáng tạo ra để tự phản bác họ chăng ?
Điều này chỉ có thể giải thích rằng: Chỉ có chính chủ nhân của học thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch - một tri kiến vũ trụ quan siêu việt – mới biết rõ mình phải làm gì để bảo vệ những giá trị đích thực của một nền văn minh bị sụp đổ cho con cháu mai sau.
Chính tính hướng dẫn của sự giải mã những truyền thuyết vốn được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ và của chính Kinh Dịch này, lại chứng tỏ một cách sắc sảo hơn nữa của luận điểm cho rằng: Nền văn minh Văn Lang một thời huy hoàng và lừng lẫy ở miền nam sông Dương tử đã sụp đổ vào thế kỷ thứ 3 trước CN và đã bị Hán hóa.

3. Giải mã bài đồng dao “Chi chi chành chành”

Những người tương đối lớn tuổi, vào hàng “quá niên trạc ngoại tứ tuần” đã sống thời thơ ấu ở Miền Bắc Việt Nam, chắc hẳn chưa quên bài đồng dao thường dùng để thay thế cho “Oẳn – tù – tì” là:

Chi chi chành chành,
Cái đanh thổi lửa,
Con ngựa chết trương,
Ba Vương, ngũ Đế.
Bắt dế đi tìm,
Ù à ù ập. (*)

* Chú thích:Trong chương trình Văn nghệ Thiếu nhi ngày 6- 12 1999 của đài VTV 3 đã thể hiện bài đồng dao trên; trong đó câu “con ngựa chết trương” được đọc là “con ngựa bất cương”. Người viết coi đây là một trường hợp dị bản do hiểu sai. Sự hiểu sai này rất khiên cưỡng đến mức vô lý. Nhưng vì tính phổ cập của một phương tiện thông tin đại chúng, xin trình bày để bạn đọc tham khảo.

Bài đồng dao này có vài dị bản và ngay trong một dị bản cũng có nhiều ý kiến và cách nhìn khác nhau về nội dung của nó. Đây cũng chính là một nguyên nhân mà người viết đề cập tới là tạm thời không coi việc giải mã là một bằng chứng khoa học. Bởi vì, những nhà khoa học chưa thống nhất tiêu chí cho sự giải mã được coi là đúng. Trong trường hợp có nhiều dị bản, người viết lựa chọn một bản mà nội dung của nó có khả năng giải mã tương thích hợp lý giữa nội dung của nó và các vấn đề liên quan .
Một đứa trẻ trong nhóm làm cái, xòe một bàn tay ra và đọc bài đồng dao này. Chung quanh thằng làm cái, một bọn trẻ con xúm xít, mỗi đứa để ngón tay trỏ vào lòng bàn tay của nó xòe ra. Khi đọc đến câu cuối cùng, thằng bé làm cái cất tiếng ù ù … kéo dài. Rồi bất thình lình nó nắm bàn tay lại, với một tiếng “Ập!” cất lên. Lúc đó đứa trẻ nào không nhanh tay rút ra, sẽ phải làm một việc gì đó trong một trò chơi mà chúng đã thỏa thuận trước: phải bịt mắt trong trò “Trốn tìm”; hoặc làm thầy thuốc trong trò “Rồng rắn lên mây”…
Bài đồng dao tưởng như vô nghĩa của trẻ em Lạc Việt này, tại sao lại mang một dấu ấn lịch sử : “Ba Vương, ngũ Đế” – tức là ám chỉ thời Tam Hoàng – Ngũ Đế theo cổ thư chữ Hán? Người viết mạn phép giải mã như sau:
Bài đồng dao có 6 câu tương ứng với 6 hào của quẻ Dịch. Một quẻ Dịch lại gồm 2 quái, mỗi quái 3 hào.
Vì vậy, nếu giải mã từ dưới lên theo thứ tự các hào khi đoán quẻ  và chia làm 2 phần, ta sẽ được một ý nghĩa như sau:

A- 1) Ù à ù ập = giống như câu: Ú a ú ớ thể hiện sự bế tắc khi không trả lời được một vấn đề gì đó.
2) Bắt Dế (hay Dê) đi tìm = Không thể tìm thấy một cái gì đó.
3) Ba Vương, ngũ Đế = 3 x 5= 15 là tổng độ số của Lạc thư khi cộng theo chiều ngang, dọc, chéo.
B - 4) Con ngựa chết trương = Con ngựa: Ngọ, tương ứng với Ly – Hỏa; chết trương: sự khẳng định chết trong nước; nước: Khảm – Thủy.
5) Cái đanh thổi lửa = Cái : giống cái thuộc Âm; Đanh trong tiếng Việt còn có nghĩa là Đinh: Đinh đóng làm bằng kim loại, đồng âm với Đinh trong thập Thiên Can; Cái Đinh: Âm Kim – vị trí của Thiên Can Đinh, độ số 4 trên Hà đồ (*). Thổi: Gió – Quái Tốn; Hỏa: Lửa – Ly.

* Chú thích: Xin xem thêm phần “Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của thập Thiên Can” ở phần sau.

6) Chi chi chành chành = Chi: cái gì? Chi chi : nhiều việc khó hiểu cần hỏi; Chành: rành, chành chành: rành rành, sự rõ ràng.
Như vậy, với ba câu đầu (phần A, do tính từ dưới lên) – tương ứng với một quái trong quẻ – phải hiểu là:
* Không thể giải quyết sự bế tắc vì những mâu thuẫn không thể lý giải trong những vấn đề liên quan đến Kinh Dịch từ đồ hình mà cổ thư chữ Hán quen gọi là Lạc thư (Lạc thư là sách của nền văn minh Lạc Việt. Sự hiểu sai đã khiến cho nó thành một đồ hình trên lưng rùa ở sông Lạc ?!)
Với ba câu sau (phần B), phải hiểu là :
* Tìm một đồ hình mà ở đó phương vị Dương – Hỏa (Ngọ – Ngựa) trùng khớp với Dương Thủy. Đồ hình này có vị trí Thiên Can Đinh nằm ở Âm Kim, độ số 4 và là vị trí của quái Tốn (Gió – theo Thuyết quái). Mọi vấn đề khó hiểu (Chi chi) sẽ được giải quyết rõ ràng (chành chành = rành rành).
Đồ hình thỏa mãn điều kiện trên chính là đồ hình mà cổ thư chữ Hán quen gọi là Hà đồ. Nếu ta xoay lại đồ hình Hà đồ 1800 theo phương vị bản đồ hiện đại và đặt lên đồ hình cũ thì Thủy – Hỏa sẽ chồng lên nhau: Dương Hỏa bị Thủy khắc (Con ngựa chết trương).
Đặt Hậu thiên Lạc Việt lên đồ hình Hà đồ (thay vì đặt lên Lạc thư, không lý giải được: Bắt dế đi tìm), ta sẽ thấy sự trùng khớp của Ngũ hành trên Hà đồ và Hậu thiên Lạc Việt. Xin xem đồ hình minh họa sau đây.

Đồ hình minh họa
Hà đồ & Hậu thiên Lạc Việt phối thập Thiên Can

Qua đồ hình trên, bạn đọc sẽ nhận thấy ngay sự trùng khớp hoàn toàn về mọi vấn đề khi đồ hình phương vị Bát quái Hậu thiên Lạc Việt kết hợp với Hà đồ. Sự kết hợp này cũng hoàn toàn thỏa mãn những yếu tố hướng dẫn trong bài đồng dao của trẻ em Lạc Việt:
Vị trí quái Tốn (Gió), nằm ở hướng Tây Nam, độ số 4 – độ số của Thiên Can Đinh – thuộc Âm Kim của Hà đồ; Lửa – Ly – Hỏa, nằm ở hướng Nam, bên cạnh vị trí của Âm Kim và quái Tốn (Gió) trên Hà đồ; tức là: “Cái Đinh thổi lửa”.
Đặc biệt là quái Khôn – thuộc Thổ nằm ở vị trí Âm Hỏa trên Hà đồ, hiện tượng này lý giải hình ảnh bà Nữ Oa đốt cỏ thành tro để ngăn nước, được giải mã như sau: Đốt cỏ thành tro ngăn nước = Âm Hỏa sinh Thổ – Khôn khắc Thủy.
Như vậy, với sự chứng minh ở trên, qua việc giải mã bài đồng dao và lý giải trường hợp bí ẩn trong những cổ thư chữ Hán liên quan đến thuyết Âm dương – Ngũ hành cùng dẫn dến một sự thống nhất như sau:
1. Sự giải mã từ bài đồng dao thuộc về nền văn minh Lạc Việt chứng tỏ việc quái Tốn phải nằm ở vị trí Thiên Can Đinh thuộc Âm Kim, thống nhất với việc giải mã Thuyết quái và truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” cho thấy quái Khôn ở Âm Hỏa – Đông Nam.
2. Sự giải mã hiện tượng bí ẩn trong bài phú do các nhà lý học phong kiến Hoa Hạ công bố – nhưng không giải thích được (?!) – cũng cho thấy Thiên Can Đinh nằm ở cung Âm Kim (Độ số 4) của Hà đồ (*).

* Chú thích : Xin xem phần Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của thập Thiên Can ở phần sau trong sách này.

Sự kết hợp giải mã giữa những hiện tượng trong văn hóa dân gian thuộc hai không gian lịch sử – để đi đến sự phục hồi một siêu lý thuyết và chứng minh cội nguồn của nó thuộc về văn minh Văn Lang – sẽ chỉ là một suy luận chủ quan, nếu nó không phản ảnh một thực tế được thể hiện bởi sự tương quan hợp lý cho tất cả những vấn đề mà nó đặt ra. Điều này được chứng tỏ – và cũng là sự minh chứng tiếp tục – ở phần tiếp theo đây.
Có những giá trị văn hoá phi vật thể cần được giải mã, như bài “Chi chi chành chành”, hoặc “Truyền thuyết bà Nữ Oa vá trời”. Nhưng không phải bất cứ một giá trị nào cũng cần phải giải mã, mà là bằng chứng trực tiếp, thí dụ như tục ăn trầu ở Đài Loan..v.v…
Sự giải mã những giá trị văn hoá phi vật thể để từ đó tìm ra tính hướng dẫn nhằm khám phá những bí ẩn của văn hoá Đông phương, tạm thời người viết chưa coi là bằng chứng khoa học, trong việc minh chứng cho sự tồn tại của một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa nó không thực sự là một bằng chứng khoa học. Trong tương lai phát triển của tri thức nhân loại, sự giải mã những giá trị văn hoá phi vật thể sẽ được công nhận là bằng chứng khoa học, bởi những tiêu chí khoa học cho sự giải mã này . Khi ấy, chính những giá trị văn hoá phi vật thể được giải mã sẽ là một yếu tố chứng minh rõ nét cho nền văn minh Việt một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử và trải gần 5000 năm văn hiến. Điều này sẽ xảy ra giống như trước đây, những giá trị văn hoá phi vật thể chưa được công nhận là bằng chứng khoa học. Nhưng từ năm 2002, tính khoa học của giá trị văn hoá phi vật thể với lịch sử đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc thừa nhận.
Để tiếp tục minh chứng tính hợp lý trong việc giải thích những hiện tượng liên quan – theo đúng tiêu chí khoa học đã được trình bày ở trên, chương tiếp theo đây tiếp tục chứng tỏ tính hợp lý và nhất quán bằng việc sử dụng Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt chính là nguyên lý căn bản trong hầu hết các phương pháp ứng dụng liên quan đến học thuật cổ Đông phương.


Hình tượng ông Khiết của văn minh Khoa Đẩu
(Minh họa: Nguyễn Vũ Tuấn Anh)

 

Mời xem các bài khác:

  1. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời nói đầu
  2. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Lê Gia
  3. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Hoàng Tuấn
  4. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 1
  5. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 2
  6. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 3
  7. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 1
  8. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 2
  9. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 3
  10. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1
  11. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 1
  12. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 2
  13. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 1 - 3
  14. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 2
  15. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 3 - 3
  16. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 1
  17. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 1
  18. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - 2
  19. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 2 - Phụ chương
  20. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3
  21. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 3 - Phụ chương
  22. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 1
  23. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 4 - 4 - 2
  24. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 1
  25. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 5 - 2
  26. Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Thay lời kết

Bài viết cùng chuyên mục

Chương II: Nội dung của Hà đồ qua cổ thư chữ Hán. Mặc dù tranh luận sôi nổi vậy, ngay cả những bậc túc nho khả kính thuộc văn minh Hán – cũng không thể ...

Phần I: Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Chương I: Xuất xứ của Hà đồ theo cổ thư chữ Hán. Hầu hết những ai đã từng xem một cuốn sách nói về Kinh Dịch thì ...

Trải hàng thiên niên kỷ trôi qua trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, con người không quên chiêm ngưỡng quá khứ. Nhưng trong sự phát triển của ...

Nhà nghiên cứu Lê Gia: Dịch lý là một môn khoa học và cũng là triết học, có tính nhất quán bao trùm mọi lĩnh vực trong vũ trụ quan và nhân sinh quan của tư ...

Tôi là người Hà Nội, tình cờ được quen biết tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vốn ở trong thành phố Hồ Chí Minh, có lẽ do cái mà đạo Phật gọi là có ...