Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 3

Ngày đăng: Thứ bảy 28/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

“Hà xuất đồ , Lạc xuất thư” chính là Ngân Hà của chúng ta là cơ sở thực tại cho sự nhận thức vũ trụ và nền văn minh Lạc Việt là chủ nhân đích thực của những giá trị nhận thức này thể hiện trong Kinh Dịch và các vấn đề liên quan .
Trung thành với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học là:

Một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết các hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh và nhất quán, có tính hệ thống, tính khách quan, tính quy luật với khả năng tiên tri.

Căn cứ theo tiêu chí khoa học, người viết phải tiếp tục chứng minh tính hợp lý của luận điểm trên khi ứng dụng Hà đồ để giải thích hợp lý đến mọi hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó, một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính qui luật và khả năng tiên tri.
Trên cơ sở lý giải câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi” cho thấy nội dung đích thực của câu này. Nhưng ngoài nội dung của câu trong Hệ từ được giải thích như trên, thì trong cuốn sách này, người viết vẫn dùng từ “Hà đồ” và “Lạc thư” như những danh từ riêng để chỉ hai đồ hình này vì thói quen trải hàng ngàn năm nay.
Căn cứ vào tiêu chí khoa học với sự hướng dẫn của những di sản văn hóa phi vật thể thuộc về nền văn minh Lạc Việt còn lại đến nay, người viết cùng bạn đọc tiếp tục quán xét và sự minh chứng tính chất của Hà đồ trong tính ứng dụng của nó. Từ đó, chúng ta sẽ thấy được giá trị của thông điệp gửi qua bức tranh dân gian lưu truyền qua bao thế hệ người Lạc Việt: Pháp Đại Uy Nỗ.
Một trong những ứng dụng quan trọng có tính nguyên lý căn bản của học thuật cổ Đông phương là Hà đồ phối Hậu thiên bát quái Lạc Việt. Nguyên lý này phủ nhận nội dung từ cổ thư chữ Hán là Lạc thư phối Hậu thiên bát quái Văn Vương . Chính vì là yếu tố có tính căn bản, nên người viết dành một chương trong cuốn sách này để chứng minh cho luận điểm trên .

Hà đồ và Hậu Thiên bát quái Lạc Việt

Hệ từ viết: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư thánh nhân tác chi

Trên cơ sở phân tích và chứng minh ở phần 1 chương III về tính mâu thuẫn bất hợp lý trong cổ thư chữ Hán khi nội dung của nó có quan niệm cho rằng:

* Hà đồ liên quan đến Tiên thiên bát quái
* Lạc thư liên quan đến Hậu thiên bát quái

Và điều này chính là cơ sở để học giả Nguyễn Hiến Lê cho rằng:

Nhất là so sánh những hình đó với hình Bát quái thì dù giàu trí tưởng tượng tới mấy cũng không thể bảo rằng Bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được. (Kinh Dịch - Đạo của người quân tử).

Chu Dịch – Hậu thiên bát quái - là cuốn sách ứng dụng huyền vĩ tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên, cuộc sống và con người, chính là Pháp Đại Uy Nỗ - qui luật chủ yếu bao trùm . Như vậy, từ sự chứng minh trên về nội dung Hà đồ và các mối liên hệ của Hậu thiên bát quái liên quan đến thiên nhiên, cuộc sống và con người , chúng ta hoàn toàn có cơ sở ngay từ chính cuốn Chu Dịch để cho rằng:

Hà đồ chính là cơ sở của Hậu thiên bát quái Lạc Việt.

Bởi vì, xét về nội dung bản văn thì chỉ duy nhất cuốn Chu Dịch nói về sự ứng dụng khởi nguyên của Hà đồ. Bạn đọc quán xét đồ hình dưới đây:

Hà đồ và Hậu Thiên bát quái Lạc Việt
Xuất xứ từ văn minh Lạc Việt

Qua đồ hình trên – tạm thời để sang một bên những vấn đề liên quan đến vị trí Tốn & Khôn (Đã chứng minh trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” và tiếp tục chứng minh trong cuốn sách này) – quan tâm cũng nhận thấy một sự trùng khớp hoàn toàn cho 4 phương vị chính Đông – Tây – Nam – Bắc là:
* Khảm Thủy / Chính Bắc trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái nằm ở độ số 1 chính Bắc / Thủy của Hà đồ (Hiện tượng này cũng trùng khớp khi Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ Lạc thư, theo cổ thư chữ Hán).
* Chấn Mộc / Chính Đông trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái nằm ở độ số 3 chính Đông / Mộc của Hà đồ (Hiện tượng này cũng trùng khớp khi Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ Lạc thư, theo cổ thư chữ Hán).
* Đoài Kim / Chính Tây trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái Lạc Việt nằm ở độ số 9 chính Tây / Kim của Hà đồ. Trong cổ thư chữ Hán thì Đoài kim nằm ở cung số 7 là độ số thuộc Hỏa của Lạc thư . Hỏa khắc Kim .
* Ly
Hỏa / Chính Nam trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái Lạc Việt nằm ở độ số 7 chính Nam / Hỏa của Hà đồ. Trong cổ thư chữ Hán thì Ly/ Hỏa nằm ở cung số 9 thuộc Kim của Lạc thư. Hỏa khắc Kim
Tính chất Ngũ hành của hai phương vị chính trong Hậu thiên Lạc Việt với Hà đồ không đổi so với Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán là Khảm - Thủy Bắc và Chấn - Mộc Đông.
Nhưng tính hợp lý và nhất quán hoàn toàn với 4 chính quái trên lại chỉ có ở Hà đồ liên hệ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt là:
* Khảm Thủy - Bắc nằm ở chính vị cung Dương Thủy Bắc, độ số 1 của Hà đồ .
* Chấn Mộc - Đông nằm chính vị cung Dương Mộc Đông, độ số 3 của Hà đồ .
* Ly Hỏa - Nam, nằm ở chính vị cung Dương Hỏa Nam, độ số 7 của Hà đồ .
* Đoài Kim – Tây, nằm ở chính vị cung Kim Tây của Hà đồ.

Như vậy, chỉ có Hà đồ liên hệ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt – mới chứng tỏ sự trùng khớp một cách hợp lý, nhất quán với mối liên hệ thực tế của sự khởi nguyên nền Lý học Đông phương trong Chu Dịch.

Tính hợp lý trùng khớp hoàn toàn này đã phủ nhận mối liên hệ giữa Hậu thiên Văn Vương với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán.
Sự kết hợp của Hà đồ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt, chính là chìa khóa rất quan yếu để mở kho tàng văn hóa Đông phương đầy huyễn ảo một cách kỳ vĩ, khi bụi thời gian phủ dầy lên nền văn hiến một thời vàng son của người Lạc Việt. Điều này sẽ được tiếp tục minh chứng dưới đây .
Một vấn đề cần được tiếp tục đặt ra là:
Nếu như Hà Lạc là biểu lý cô đọng của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì Bát quái không thể coi là một ký hiệu tự thân, biểu lý cho một nội dung độc lập không liên quan đến Âm Dương Ngũ hành được. Bởi vì, nếu Bát quái là những ký hiệu tự thân biểu lý cho nội dung độc lập chỉ liên quan đến Âm Dương trong Kinh Dịch và không liên quan đến Hà Lạc nói riêng, hoặc thuyết Âm Dương Ngũ hành nói chung thì nó phải là hệ quả nhận thức từ một thực tại khác. Đây là điều vô lý và người viết đã chứng minh ở bài trên về hai luận điểm sai lầm xuất hiện từ những thập niên cuối của thế kỷ trước là:
1) Âm Dương trong Kinh Dịch không liên quan gì đến Ngũ hành.
2) Âm Dương Ngũ hành là của người Việt và Bát quái là của người Hán.
Như vậy, điều giải thích hợp lý nhất phù hợp với những tiêu chí của khoa học hiện đại là:

Bát quái chính là những ký hiệu theo thuật toán của hệ nhị phân và là siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành được biểu lý cô đọng trong Hà đồ và Lạc thư.

Tất cả những phần chứng minh ở trên mới chỉ mang tính chứng minh cho một nguyên lý lý thuyết căn cứ vào một giả thuyết hợp lý. Theo tiêu chí khoa học hiện đại thì sự chứng minh này chỉ được coi là đúng, nếu từ nguyên lý lý thuyết này lý giải một cách hợp lý tất cả mọi trường hợp liên quan đến nó một cách nhất quán, hoàn chỉnh và khách quan, có tính qui luật và khả năng tiên tri.
Bởi vậy, phần tiếp theo đây sẽ là sự minh chứng tính hoàn chỉnh và nhất quán của nguyên lý căn bản này.

2. Hậu thiên bát quái Lạc Việt

Sự phối hợp Hậu thiên bát quái Lạc Việt với Hà đồ, là sự thay đổi có tính căn bản nguyên lý của các phương pháp ứng dụng liên quan đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành và là chiếc chìa khoá để mở cánh cửa bí ẩn của những giá trị tri thức của văn hoá Đông phương.
Bởi vậy, tính hợp lý đã chứng minh không thể giới hạn với chính nó. Với luận điểm cho rằng: Hà đồ là quy luật chủ yếu bao trùm (Pháp Đại uy nỗ) là cơ sở của Hậu thiên bát quái Lạc Việt, có nguồn gốc là những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ đến Địa Cầu, liên quan đến tất cả mọi vấn đề thiên nhiên, cuộc sống và con người – thì nó phải chứng tỏ một tính lý giải hợp lý cho tất cả mọi phương pháp ứng dụng và hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, theo đúng các tiêu chí khoa học hiện đại.
Nhưng sự chứng minh này sẽ không thể hoàn chỉnh, nếu không giải thích một nguyên lý có tính căn bản nữa liên quan là “Hậu thiên bát quái đổi chỗ Tốn & Khôn” (Được dịnh danh là “Hậu thiên bát quái Lạc Việt”, hoặc “Hậu thiên Lạc Việt”). Cơ sở của sự chứng minh này, người viết đã trình bày trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” (Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb VHTT 2002), bạn đọc có thể tham khảo. Nhưng trong phần này – Để tiện cho việc tìm hiểu và quán xét của bạn đọc quan tâm – người viết xin được trình bày lại những luận cứ chính như sau:

Luận đề thứ nhất

Trên thực tế cấu tạo của Bát quái, các nhà nghiên cứu Dịch học cổ kim đã phân loại thành hai nhóm là:

A. Nhóm bất Dịch gồm: Càn, Khôn, Ly, Khảm

Đặc tính của 4 quái này là: Không thay đổi thuộc tính quái khi xoay chuyển các quái.

B. Nhóm điên đảo Dịch gồm: Đoài, Tốn, Cấn, Chấn

Nhóm này lại phân làm có hai cặp:
1) Đoài & Tốn
2) Cấn & Chấn
Trong nhóm “Điên đảo Dịch” này, chúng có tính chất sau:
* Những quái trong cùng một cặp (Đoài & Tốn hoặc Cấn & Chấn) nếu xoay 180 độ thì thay đổi đặc tính quái cho nhau.

* Nếu kết hợp hai quái trong cùng một cặp thì ta sẽ được một cặp Bất Dịch. Chúng ta tạm đặt tên là: “Cặp điên đảo Dịch cùng tính chất”

Luận đề thứ hai

Từ thuận tự của 64 quẻ được ghi nhận trong Chu Dịch và được bảo chứng bằng Tự quái truyện, người viết đã sắp lại từng cặp liên tiếp và được 32 cặp quẻ có tính chất đối xứng như sau:



Trên cơ sở 32 cặp quẻ trình bày ở trên, bạn đọc sẽ nhận thấy ngay rằng: Mỗi cặp là một đồ hình đối xứng nhau. Trong đó có 4 cặp đối xứng Âm Dương và 28 cặp đối xứng nghịch đảo.
Bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
Để có 32 cặp quẻ có tính đối xứng thì chúng có 3 phương thức tạo cặp sau đây:

1. Hai quái bất Dịch kết hợp với nhau. Thí dụ:

2. Một quái bất Dịch kết hợp với một “cặp Điên Đảo Dịch cùng tính chất”. Thí dụ:

3. Hai”Cặp điên đảo Dịch cùng tính chất” kết hợp với nhau. Thí dụ:

Như vậy, khi một quái “Điên đảo Dịch” cùng kết hợp với một quái “Điên đảo Dịch” cùng tính chất với nó thành một “Cặp điên đảo Dịch cùng tính chất” và tương đương một quái bất Dịch trong việc tạo 32 cặp quẻ.
Như vậy:
* Căn cứ vào luận đề thứ nhất về các “Cặp điên đảo Dịch cùng tính chất”.
* Căn cứ vào luận đề thứ hai về qui luật tạo nên tính đối xứng của các cặp quẻ.
Đó là:
Để có được 32 cặp quẻ theo đúng thuận tự 64 quẻ trong Chu Dịch thì qui luật đó sẽ gồm hai quái bất dịch kết hợp, hoặc hai “Cặp điên đảo dịch cùng tính chất” kết hợp, hoặc một “Cặp điên đảo dịch cùng tính chất” kết hợp với một quái bất dịch.
Hay nói một cách khác: Để có được 32 cặp quẻ đối xứng thì hai quái “điên đảo dịch” phải kết hợp để thành một “cặp quái Bất dịch”.Xét đồ hình Hậu thiên bát quái trong bản văn cổ chữ Hán, chúng ta thấy rằng:
”Cặp điên đảo dịch cùng tính chất” Cấn & Chấn có vị trí ở cạnh nhau cùng tính chất Âm Dương/ Mộc trên Hà đồ. Trong sự tạo thành thuận tự 64 quẻ/32 cặp quẻ đối xứng, chúng kết hợp để tạo thành một cặp điên đảo Dịch cùng tính chất. Vì vậy “cặp điên đảo dịch cùng tính chất” Đoài &Tốn không thể ở vị trí cách nhau như đồ hình Hậu thiên bát quái được mô tả trong bản văn chữ Hán. Tính hợp lý của thuận tự 64 quẻ Dịch được minh chứng trong Tự quái truyện và đó là sự ứng dụng hữu hiệu trên thực tế trải hàng thiên niên kỷ (Trước khi đồ hình Hậu thiên bát quái Văn Vương được công bố vào đời Tống) – lý giải tất cả mọi chuyện liên quan đến con người với khả năng tiên tri – đã chứng tỏ vị trí Tốn & Khôn phải thay đổi theo và đó là nội dung nguyên Thủy của Hậu thiên bát quái Lạc Việt trước khi nền văn minh này sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử.
Xin quí vị xem hình dưới đây:

Hậu thiên Lạc Việt
Thay đổi vị trí quái Tốn ở Đông Nam sang Tây Nam
& quái Khôn ở Tây Nam sang Đông Nam
so với Hậu thiên Văn Vương.

 

Hậu thiên bát quái theo sách Hán

Như vậy, sự thay đổi vị trí Tốn & Khôn đã chứng tỏ tính hợp lý trong việc giải thích tính kết hợp của Đoài & Tốn trong việc tạo ra thuận tự 64 quẻ / 32 cặp quẻ trên thực tế.
Chính sự thay đổi này và tiếp theo đó là: Hậu thiên bát quái Lạc Việt kết hợp với Hà đồ là nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành , trong việc tiếp tục giải thích tất cả mọi trường hợp liên quan một cách hợp lý, hoàn chỉnh và nhất quán, giải thích tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri của siêu lý thuyết Âm Dương Ngũ hành, một lý thuyết thống nhất vũ trụ. Đó là những trường hợp thể hiện ở phương pháp ứng dụng trong Thái Ất, Tử Vi, Độn giáp, Tử Bình, …
Hay nói một cách khác: Đó chính là cái chìa khóa để mở cánh cửa bí ẩn của văn minh Đông phương.
Sự phục hồi nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ, không chỉ dừng lại ở nội dung hợp lý với chính nó, mà còn chứng tỏ một sự giải thích hợp lý với cả cội nguồn lịch sử liên quan đến nó. Điều này còn có nghĩa là nó sẽ phải chứng tỏ một khả năng phục hồi toàn bộ hệ thống lý thuyết và cho chúng ta biết đến một thực tại nào là cơ sở nhận thức dẫn đến hình thành hệ thống lý thuyết và khả năng tiên tri của nó. Căn cứ trên tiêu chí khoa học hiện đại thì tất cả các môn ứng dụng thuộc phương pháp ứng dụng trong học thuật cổ Đông phương mà chúng ta biết đến, từ thiên văn, y lý, lịch số, các phương pháp tiên tri… đều phải được giải thích một cách nhất quán và hợp lý từ nguyên lý căn bản của nó: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ .
Điều này sẽ được chứng minh tiếp tục ở các phần tiếp theo dưới đây.

 

Mời xem các phần khác:

Bài viết cùng chuyên mục

Chương II: Nội dung của Hà đồ qua cổ thư chữ Hán. Mặc dù tranh luận sôi nổi vậy, ngay cả những bậc túc nho khả kính thuộc văn minh Hán – cũng không thể ...

Phần I: Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Chương I: Xuất xứ của Hà đồ theo cổ thư chữ Hán. Hầu hết những ai đã từng xem một cuốn sách nói về Kinh Dịch thì ...

Trải hàng thiên niên kỷ trôi qua trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, con người không quên chiêm ngưỡng quá khứ. Nhưng trong sự phát triển của ...

Nhà nghiên cứu Lê Gia: Dịch lý là một môn khoa học và cũng là triết học, có tính nhất quán bao trùm mọi lĩnh vực trong vũ trụ quan và nhân sinh quan của tư ...

Tôi là người Hà Nội, tình cờ được quen biết tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vốn ở trong thành phố Hồ Chí Minh, có lẽ do cái mà đạo Phật gọi là có ...