Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 2 - 2

Ngày đăng: Thứ bảy 28/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Lạc thư Hà đồ

Hà đồ và Lạc thư được phát hiện từ trong quan trắc hiện tượng thiên văn, cấu tạo giản đơn rất tiện cho việc ghi nhớ và lưu truyền. Theo truyền thuyết:

Đồ xuất hiện ở sông Hà đời Phục Hy, Thư xuất hiện ở sông Lạc đời Hạ Vũ.

Hệ từ thượng, chương thứ XI đã viết:

”Thị cố thiên sinh thần vật, thánh nhân tắc chi, thiên địa biến hóa, thánh nhân hiệu chi, thiên thùy tượng, hiện cát hung, thánh nhân tương chi. Hà xuất Đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”. (Cho nên trời sinh ra thần vật, thánh nhân áp dụng theo, trời đất biến hoá, thánh nhân bắt chước, trời bày ra hình tượng, hiện ra sự tốt xấu, thánh nhân phỏng ra ý tượng. Bức đồ hiện ra ở sông Hoàng Hà, hình chữ hiện ra ở sông Lạc, thánh nhân áp dụng theo).

Hệ từ thượng, chương IX lại viết:

”Thiên nhất, địa nhị, thiên tam, địa tứ, thiên ngũ, địa lục, thiên thất, địa bát, thiên cửu, địa thập. Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ. Thử sở dĩ thành biến hoá, nhi hành quỷ thần dã”.
(Trời số 1, đất số 2, trời số 3, đất số 4, trời số 5, đất số 6, trời số 7, đất số 8, trời số 9, đất số 10. Trời có 5 số (1, 3, 5, 7, 9 những số lẻ), đất có 5 số (2, 4, 6, 8, 10 những số chẵn), năm ngôi tương đắc đều hợp nhau. Số trời có 25 (1+3+5+7+9=25), đất có 30 2+4+6+8+10=30).Tổng số trời đất có 55 (=25+30). Do đó mà thành ra biến hoá và hành động như quỷ thần).
Ở đầu sách “Chu Dịch bản nghĩa”, khi giới thiệu hai hình vẽ Hà đồ, Lạc thư, Chu Hy cũng đã trích dẫn đoạn hệ từ trên để chú thích. Ông viết tiếp, và chỉ ra mọi người thấy:
”Thử Hà đồ chi số dã, Lạc thư cái thủ quy tượng, cố kỳ số đái cửu, lý nhất, tả tam hữu thất, nhi tứ vi kiên, lục bát vi túc”. (Đó là số Hà đồ, Lạc thư lấy tượng rùa, cho nên số của nó là đầu đội 9, chân đạp 1, bên trái 3, bên phải 7, vai là 2, 4, chân là 6, 8)
Rõ ràng là miêu tả hình Lạc thư.

A. Kết cấu Lạc thư

Như trên đã nói, Lạc thư cấu tạo bởi những vòng tròn đen trắng: đầu đội 9, chân đạp 1, bên trái 3, bên phải 7, vai bên trái 4, vai bên phải 2, chân trái 8, chân phải 6, lưng (ở giữa) 5.Vòng tròn đen là số âm (xem hình vẽ). Con số Lạc thư vốn từ Cửu cung, dùng số biểu diễn hình tượng sao. Thực tế là tượng trời của Lạc thư, có thể xem “Lạc thư cửu tinh đồ” (hình Lạc thư 9 sao) đời xưa truyền lại:

Hình Lạc thư cửu tinh đồ

Qua hình vẽ chúng ta thấy phương vị và con số của 9 chòm sao, tức là phương vị và con số của Lạc thư. Cung giữa 5 sao gọi là “toà Ngũ đế”, là đầu Ngũ hành, ở giữa và giám ngự bốn phương. Dưới “toà Ngũ đế” là ngôi sao “Bắc Cực”, luôn luôn ở phương Bắc, lấy đó định vị trí, Bắc Cực đối với phía nam cung là chín sao “Thiên kỷ”. Chính giữa phía đông là ba sao “Hà bắc”. Chính giữa phía tây là bảy sao “Thất công”. Bên trái “Thiên kỷ” là bốn sao “Tứ phụ”, bên phải “Thiên kỷ” là hai sao “Hổ bôn”. Bên trái “Bắc Cực” là tám sao “Hoa cái”, bên phải “Bắc cực” là sáu sao “Thiên trù”.
Con số 9 cung của Lạc thư 1, 3, 7, 9 là số lẻ, gọi là số dương: 2, 4 , 6, 8 là số chẵn, gọi là số âm. Số dương là chính, vị trí ở bốn điểm chính giữa, đại biểu khí trời. Số âm là phụ, vị trí ở bốn góc, đại biểu khí đất. Số 5 ở giữa thuộc khí đất (thổ), là tổ của Ngũ hành, vị trí ở cung giữa.
Các nhà thuật số cho cung ở giữa là hư số, là số không, để quan trắc và tính toán điểm cơ bản của bốn mùa bát tiết. Con số Lạc thư nhiều ít là tiêu chí biến đổi khí hậu ấm, lạnh, mạnh, yếu của ngày đêm, sớm tối.

B. Kết cấu Hà đồ

Hà đồ lấy 10 số hợp với ngũ phương (năm phương), Ngũ hành, âm dương, trời đất. Hình tròn trắng số lẻ, dương, là trời, chấm đen số chẵn, âm, là đất, và lấy trời đất hợp với Ngũ hành (xem hình vẽ), kết cấu của nó có mấy đặc điểm như sau:
Số 1 và số 6 cùng dòng họ, ở phương Bắc, vì trời 1 sinh Thủy, đất 6 thành nước. Số 2 và số 7 là bằng (bè bạn), ở phương nam, vì đất 2 sinh Hỏa, trời 7 hoá thành lửa. Số 3 và số 8 là bạn bè (hữu), ở phương đông, vị trời 3 sinh mộc, đất 8 hoá thành gỗ. Số 4 và số 9 là đồng đạo (cùng đường), ở phương tây, vì đất 4 sinh kim, trời 9 hóa thành vàng. Số 5 và số 10 trông giữ nhau, ở giữa, vì trời 5 sinh thổ, đất 10 hóa thành đất. Đúng như Chu Tử đã nói:
”Thiên dĩ nhất sinh Thủy nhi địa dĩ lục thành chi. Địa dĩ nhị sinh Hỏa nhi thiên dĩ thất thành chi. Thiên dĩ tam sinh mộc nhi địa dĩ bát thành chi. Địa dĩ tứ sinh kim nhi thiên dĩ cửu thành chi. Thiên dĩ ngủ sinh thổ nhi địa dĩ lập thành chi”.
(Trời lấy 1 sinh Thủy mà đất lấy 6 thành nước. Đất lấy 2 sinh Hỏa mà trời lấy 7 thành lửa. Trời lấy 3 sinh mộc mà đất lấy 8 thành gỗ. Đất lấy 4 sinh kim mà trời lấy 9 thành vàng. Trời lấy 5 sinh thổ mà đất lấy 10 thành đất).
Vẽ thành Hà đồ là căn cứ vào 5 sao lặn, mọc, lấy 55 số diễn hình tượng 5 sao. Năm sao xưa gọi là “ngũ vị”, là 5 hành tinh trên trời: Mộc gọi là “Tuế tinh”, Hỏa là “Huỳnh hoặc”, thổ là “Chấn tinh”, kim là “Thái bạch”, thủy là “Thần tinh”. Năm sao vận hành, phân chia bởi nhị thập bát tú (28 ngôi sao), do quỹ đạo của nó không xa đường Mặt Trời, cho nên người xưa dùng để ghi ngày. Năm sao vận hành, thời tiết đều biến đổi, nói chung theo tuần tự Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, kế tiếp nhau xuất hiện ở bầu trời Bắc cực. Mỗi sao đều vận hành 72 ngày, năm sao vận hành tròn vòng trời 360 độ. Đường quỹ đạo của ba sao: Mộc, Hỏa, Thổ lớn cho nên ở ngoài, vừa khéo hợp với số 216 thẻ Kiền. Đường quỹ đạo của hai sao Kim, Thủy nhỏ cho nên ở trong, vừa khéo hợp với số 144 thẻ Khôn. Vì 5 sao định giờ lặn, mọc có quy luật như dưới đây, cho nên cấu tạo thành hình Hà đồ như đã giới thiệu ở trên .

* Hằng ngày sao Thuỷ: Giờ thứ 1 (giờ Tý) và giờ thứ 6 (giờ Tỵ) xuất hiện ở phương Bắc.
- Hàng tháng ngày 1, 6; 11, 16; 21, 26; Mặt Trời, Mặt Trăng gặp sao Thủy ở phương Bắc.
- Hằng năm: Tháng 11, tháng 6 lúc hoàng hôn thấy ở phương Bắc.
Cho nên nói “Trời 1 sinh Thủy, đất 6 mà thành nước”.

* Hàng ngày sao Hỏa: Giờ thứ 2 (giờ Sửu) và giờ thứ 7 (giờ Ngọ) xuất hiện ở phương Nam.
- Hàng tháng ngày 2, 7 (tức là mồng 2, mồng 7, 12, 17, …) Mặt Trời, Mặt Trăng gặp sao Hỏa ở phương Nam.
- Hàng năm tháng 2, tháng 7, lúc hoàng hôn thấy ở phương Nam.
Cho nên nói: “Địa nhị sinh Hỏa, thiên thất thành chi” (đất hai sinh Hỏa, trời bảy thành lửa).

* Hằng ngày sao Mộc: Giờ thứ ba (giờ Dần) và giờ thứ 8 (giờ Mùi) xuất hiện ở phương Đông.
- Hàng tháng ngày 3, ngày 8 (mồng ba, mồng 8, mười ba, mười tám…) Mặt Trời, Mặt Trăng gặp sao Mộc ở phương Đông.
- Hàng năm tháng 3, tháng 8, lúc hoàng hôn thấy ở phương Đông. Cho nên nói “Trời ba sinh mộc, đất tám thành gỗ”.

* Hằng ngày sao Kim: Giờ thứ 4 (giờ Mão) và giờ thứ 9 (giờ thân) xuất hiện ở phương Tây, - Hằng tháng ngày 4, 9 (mồng 4, mồng 9…) Mặt Trời, Mặt Trăng gặp sao Kim ở phương Tây.
- Hằng năm tháng 4, tháng 9, lúc hoàng hôn thấy ở phương Tây.
Cho nên nói “Đất 4 sinh Kim, trời 9 hoá thành vàng”.

* Hằng ngày sao Thổ: Giờ thứ 5 (giờ Thìn) và giờ thứ 10 (giờ Dậu) xuất hiện ở giữa.
- Hằng tháng, ngày 5, 10 (mồng 5, mồng 10…) Mặt Trời, Mặt Trăng gặp sao Thổ ở giữa.
- Hằng năm tháng 5, tháng 10 lúc hoàng hôn thấy ở giữa trời.
Cho nên nói: “Trời 5 sinh thổ, đất 10 hoá thành đất”.
Qua đó, có thể thấy, Hà đồ không phải do con người tuỳ ý vẽ vạch. Vạch ra như vậy, là căn cứ vào tượng trời, năm sao lặn và mọc, đó cũng là nguồn gốc của Ngũ hành: Thủy, Hỏa, Thổ, Kim, Mộc. Vì hằng năm tháng 11 trước tiết Đông chí, sao Thủy thấy ở phương Bắc, đang lúc giao thời mùa đông, muôn vật ngủ đông (ở ẩn), trên mặt đất chỉ có băng tuyết và nước. Khái niệm hành “Thuỷ” hình thành là như vậy.
Tháng 7, sau tiết Hạ chí sao Hỏa thấy ở phương Nam, đang lúc giao thời mùa hè, trên mặt đất khô nóng. Khái niệm hành “Hỏa” ra đời là như vậy.
Tháng 3 Xuân phân, sao Mộc thấy ở phương Đông, đương lúc giữa thời mùa xuân, cây cỏ nảy mầm sinh trưởng. Khái niệm hành “Mộc” hình thành là như vậy.
Tháng 9 Thu phân, sao Kim thấy ở phương Tây, đời xưa lấy kim loại tôi luyện thành binh khí, cho nên lấy “Kim”biểu thị mùa thu khí trời sát phạt. Khái niệm hành “Kim” hình thành là như vậy.
Tháng năm sao Thổ thấy ở giữa trời, biểu thị lúc bấy giờ đất ẩm thấp, Mộc, Hỏa, Kim, Thủy đều lấy cái đó làm điểm giữa, sao Mộc, Hỏa, Kim, Thủy lặn mọc dẫn đến khi hậu bốn mùa biến đổi, đều là quan trắc từ mặt đất, khái niệm hành “Thổ” hình thành là như vậy.
Trên đây, chúng tôi đề cập kết cấu Hà đồ và Lạc thư theo thiên văn.

Đoạn trích dẫn trên cho chúng ta thấy một cơ sở về thiên văn học đối với nguồn gốc của Hà đồ Lạc thư. Tư liệu này không thấy giáo sư tác giả cho biết đã trích dẫn hoặc sưu tầm từ đâu. Nhưng trên cơ sở những tài liệu tham khảo ở cuối sách, người viết cho rằng: Nguồn tư liệu này có thể có xuất xứ từ Nhật Bản. Bản vẽ “Lạc thư cửu tinh đồ” đã chứng tỏ rằng đây là một tư liệu tối cổ vì danh từ “Lạc thư” cho tên gọi của bản vẽ này. Chính bản đồ này với tên gọi Lạc thư đã phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ từ trên lưng con rùa thần của nó, bởi những điều căn bản sau đây:
Hình mà chúng ta quen gọi là Lạc thư trong sách cổ chữ Hán chính là hình biểu tượng qui ước của Lạc thư cửu tinh đồ. Và chính “Lạc thư cửu tinh đồ” với nội dung của nó phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ vốn được coi là trên lưng rùa thần của sông Lạc của đồ hình này. Đồng thời cũng từ tên gọi “Lạc thư cửu tinh đồ” đã cho thấy xuất xứ Lạc Việt của nó, bởi chính tên gọi Lạc thư Cửu tinh đồ, không còn có thể giải thích là đồ hình từ trên lưng rùa hiện ra ở sông Lạc Thủy, sự giải thích hợp lý hơn cả là sách của người Lạc Việt. Với sự giải thích này có tính nhất quán và hoàn chỉnh với khả năng giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan.

Hình minh họa so sánh
Lạc thư trong chữ Hán

 

Lạc thư cửu tinh đồ

* Cũng từ tư liệu trích dẫn ở trên cho thấy: Hà đồ – vốn được coi là xuất xứ từ trên lưng con Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà trong cổ thư chữ Hán – chính là biểu tượng cô đọng của sự vận động có tính qui luật của Ngũ tinh trên bầu trời. Chính nội dung này đã phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ của đồ hình mà chúng ta vẫn quen gọi là Hà đồ.
Để kiểm chứng tính chính xác của tư liệu đã trích dẫn, chúng ta chỉ cần chịu khó nhìn lên bầu trời, lặp lại hiện tượng mà tổ tiên người Việt đã làm và bị thất truyền theo lịch sử thăng trầm của người Lạc Việt: “Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn”, thì chúng ta sẽ thấy ngay tính hiện thực của nội dung: “Hà xuất đồ”.
Từ nay, câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư” sẽ được hiểu rằng: Những phương vị và sự vận động của các vì sao trên Thiên Hà của chúng ta (Ngân Hà) mang tính qui luật của sự tương tác trong vũ trụ và được ghi nhận trong sách của nền văn hiến Lạc Việt: “Lạc xuất thư”. Điều này chứng tỏ tính hướng dẫn của chòm sao Tiểu Hùng Tinh trên tranh thờ Ngũ Hổ của người Lạc Việt.
Cho đến năm 2005 - sau khi tiểu luận này đã hình thành từ rất lâu, chúng tôi mới được biết đến trình thiên văn Skymap pro. Chính trình thiên văn này đã minh chứng một cách sắc sảo trên thực tế qui luật vận động của Ngũ tinh chính là nội dung của Hà đồ. Điều này lại chỉ thẳng đến một thực tại huyền vũ trong vũ trụ đó chính là quy luật tương tác của sự vận động từ vũ trụ đến địa cầu.
Bạn đọc tiểu luận này có thể tự kiểm chứng những điều này qua trình thiên văn Skymap pro và được minh họa dưới đây :
Những hình này đều được lấy vị trí quan sát từ Thượng Hải vào ngày 20 tháng 3 năm 2007. Nhằm ngày mùng 2 tháng 2 năm Đinh Hợi. Vì trong tài liệu do giáo sư Lê Văn Quán đưa lên không nói rõ vị trí quan sát cho nên chúng tôi đã lấy vị trí Thượng Hải là một vị trí tương đối ở miền Nam sông Dương Tử để thẩm định tài liệu trên.


Hình trên là bầu trời phương Nam theo trình thiên văn Skymap Pro tại vị trí Thượng Hải vào lúc 12 giờ
ngày mùng 2 tháng 2 Đinh Hợi. Nhằm ngày 20 tháng 3 năm 2007.



Hình trên là bầu trời phương Nam theo trình thiên văn Skymap Pro tại vị trí Thượng Hải vào lúc 16 giờ
ngày mùng 2 tháng 2 Đinh Hợi. Nhằm ngày 20 tháng 3 năm 2007.

Hình minh họa trang sau.

Từ sự minh chứng thực tế trùng khớp với một tư liệu cổ, người viết có thể khẳng định rằng:
Sự vận động tương tác có tính qui luật của Ngân Hà và vũ trụ là cơ sở của nền thiên văn học Lạc Việt. Đó chính là thực tại tạo nên nhận thức của nền lý học Đông phương.
Điều này đã chứng minh Hà đồ là qui luật vận động và tương tác được lựa chọn của Ngũ tinh trong Thái Dương hệ lên địa cầu. Do đó, Hà đồ là nguyên lý căn bản trong mọi phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương.
Vấn đề này sẽ được tiếp tục chứng minh ở các phần sau đây .

 

Mời xem các phần khác:

Bài viết cùng chuyên mục

Chương II: Nội dung của Hà đồ qua cổ thư chữ Hán. Mặc dù tranh luận sôi nổi vậy, ngay cả những bậc túc nho khả kính thuộc văn minh Hán – cũng không thể ...

Phần I: Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Chương I: Xuất xứ của Hà đồ theo cổ thư chữ Hán. Hầu hết những ai đã từng xem một cuốn sách nói về Kinh Dịch thì ...

Trải hàng thiên niên kỷ trôi qua trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, con người không quên chiêm ngưỡng quá khứ. Nhưng trong sự phát triển của ...

Nhà nghiên cứu Lê Gia: Dịch lý là một môn khoa học và cũng là triết học, có tính nhất quán bao trùm mọi lĩnh vực trong vũ trụ quan và nhân sinh quan của tư ...

Tôi là người Hà Nội, tình cờ được quen biết tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vốn ở trong thành phố Hồ Chí Minh, có lẽ do cái mà đạo Phật gọi là có ...