Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 3

Ngày đăng: Thứ bảy 28/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Cụ thể là từ hàng ngàn năm trôi qua, cho đến tận ngày hôm nay - khi người viết đang viết những dòng này – trong các bản văn chữ Hán cho rằng: Vua Phục Hy căn cứ vào Hà đồ để làm ra Tiên thiên bát quái và vua Văn Vương căn cứ vào Lạc thư để làm ra Hậu thiên bát quái . Đây cũng là sự ứng dụng duy nhất của Hà đồ trong tất cả các bản văn chữ Hán trải hàng ngàn năm nay, cho đến bây giờ. Nhưng cho đến nay, người ta không thể nào hiểu nổi vua Phục Hy đã lấy cơ sở nào của Hà đồ để làm ra Tiên thiên bát quái? Trong khi đó, tất cả mọi phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương được ghi nhận trong cổ thư chữ Hán đều liên quan đến Lạc thư. Điều này những ai đã từng một lần xem qua các môn ứng dụng căn bản như: Chu Dịch, Thái Ất, phong thủy… đều biết điều này. Vậy trên thực tế Hà đồ dùng để làm gì?
Trong các bản văn chữ Hán, Hà đồ không có chỗ đứng trong thực tế ứng dụng, nhưng lại rất đắc địa trong những giá trị tâm linh về tính huyền bí của nó. Từ thời Hán đến nay trải đã hơn 2000 năm; nếu theo truyền thuyết có xuất xứ từ văn minh Hán thì điều này đã hơn 6000 năm, từ thời Phục Hy (?) vẫn không hề có chỗ đứng của Hà đồ trong sự ứng dụng của học thuật cổ Đông phương.
Bây giờ chúng ta quán xét đồ hình Tiên thiên bát quái liên hệ với Hà đồ, sự ứng dụng duy nhất của Hà đồ từ 6000 năm trước, theo cổ thư chữ Hán.
Bạn đọc xem hình minh họa dưới đây , miêu tả sự phối hợp Hà đồ và Tiên thiên bát quái.

Đồ hình liên hệ Hà đồ và Tiên Thiên bát quái

Tư liệu trong Dịch học tinh hoa
(Thu Giang - Nguyễn Duy Cần trang 83. Nxb TP Hồ Chí Minh 1992).

Để bạn đọc dễ so sánh, người viết thể hiện đồ hình cửu cung Hà Đồ phối tiên thiên như sau:

Quán xét đồ hình này – Theo tính chất quái vị lưu truyền qua cổ thư chữ Hán. Cụ thể là cuốn Mai Hoa Dịch , do Thiệu Khang Tiết công bố vào đời Tống – chúng ta nhận thấy:
* Càn (Trời / Kim) nằm ở độ số 7 Dương Hỏa/ Chính Nam trên Hà đồ. Như vậy Hỏa vị khắc Kim quái.
* Đoài (Kim) thì nằm ở độ số 2 là Âm Hỏa/ Đông Nam trên Hà đồ. Như vậy, trường hợp này: Hỏa vị khắc Kim quái.
* Ly (Hỏa) nằm ở độ số 3 Dương Mộc/ Chính Đông của Hà đồ. Như vậy, trường hợp này: Mộc vị sinh Hỏa quái.
* Chấn (Mộc) nằm ở độ số 8 Âm Mộc/ Đông Bắc của Hà đồ. Như vậy, trường hợp này: Mộc vị hòa Mộc quái.
* Khôn (Thổ) nằm ở độ số 1 Dương Thủy/ Chính Bắc của Hà đồ. Như vậy, Thổ quái khắc Thủy vị.
* Cấn (Thổ/ Núi) nằm ở độ số 6 Âm Thủy/ Tây Bắc của Hà đồ. Trường hợp này: Thổ quái khắc Thủy vị.
* Khảm (Thủy) nằm ở độ số 9 Dương Kim/ Chính Tây của Hà đồ. Trường hợp này Kim vị sinh Thủy quái.
* Tốn (Gió / Mộc) nằm ở độ số 4 Âm Kim/ Tây Nam của Hà đồ. Trường hợp này, Kim vị khắc Mộc quái.
Quán xét hiện tượng trên, chúng ta cũng nhận thấy ngay rằng:
Không hề có sự tương thích nào giữa hành của quái theo cổ thư chữ Hán với hành của phương vị trên Hà đồ.
Có người dẫn sách khác cho rằng vị trí sắp xếp trên Càn - nằm ở phương Nam là không chính xác mà Càn nằm ở vị trí chính Bắc, Khôn nằm ở vị trí chính Nam trên Hà đồ. Tương quan các vị trí của các quái trong Bát quái Tiên thiên không thay đổi.
Chúng tôi đã sắp xếp theo vị trí được đặt ra ở trên và thể hiện dưới đồ hình sau đây.

Đồ hình liên hệ Hà đồ và Tiên Thiên bát quái

Quán xét đồ hình này – Theo tính chất quái vị lưu truyền qua cổ thư chữ Hán. Cụ thể là cuốn Mai Hoa Dịch , do Thiệu Khang Tiết công bố vào đời Tống.
* Càn (Trời / Kim) nằm ở độ số 1 Dương Thủy / Chính Bắc,
* Đoài (Kim) thì nằm ở độ số 6 là Âm Thủy/ Tây Bắc trên Hà đồ.
Như vậy, trường hợp này: Kim quái sinh Thủy vị
* Ly (Hỏa) nằm ở độ số 9 Dương Kim / Chính Tây của Hà đồ.
Như vậy, trường hợp này: Hỏa quái khắc Kim vị.
* Chấn (Mộc) nằm ở độ số 4 Âm Kim / Tây Nam của Hà đồ.
Như vậy, trường hợp này: Kim vị khắc Mộc quái.
* Khôn (Thổ) nằm ở độ số 7 Dương Hỏa / Chính Nam của Hà đồ.
* Cấn (Thổ/ Núi) nằm ở độ số 2 Âm Hỏa / Đông Nam của Hà
đồ.
Trường hợp này: Hỏa vị sinh Thổ quái.
* Khảm (Thủy) nằm ở độ số 3 Dương Mộc / Chính Đông của Hà đồ.
Trường hợp này Thủy quái sinh Mộc vị.
* Tốn (Gió / Mộc) nằm ở độ số 8 Âm Mộc/ Đông Bắc của Hà đồ. Trường hợp này, Mộc quái tương hòa Mộc vị.
Quán xét hiện tượng trên, chúng ta cũng nhận thấy ngay rằng:
Không hề có sự tương thích nào giữa hành của quái theo cổ thư chữ Hán với hành của phương vị trên Hà đồ đã được thay đổi như trên. Trên thực tế, với tương quan của đồ hình Tiên thiên bát quái thì dù bạn đọc có xoay như thế nào cũng không thể nào tìm được sự tương thích giữa quái vị và phương vị trên cơ sở Ngũ hành của Hà đồ và Ngũ hành của bát quái. Đây chính là điều mà học giả Nguyễn Hiến Lê đã phải thốt lên:

Nhất là so sánh những hình đó với hình Bát quái thì dù giàu trí tưởng tượng tới mấy cũng không thể bảo rằng Bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được”. (Kinh Dịch - Đạo của người quân tử)

Để tiếp tục tìm sự bí ẩn qua câu hỏi này, chúng ta tiếp tục quán xét sự tương thích theo cổ thư chữ Hán là: “Hậu thiên bát quái bản Lạc thư dã” (Đồ hình Hậu thiên bát quái xuất phát từ với Lạc thư Chu Hy). Xin quí vị quan tâm xem hình dưới đây:

Đồ hình Cửu cung Lạc thư

 

Hậu thiên bát quái văn vương

 

Hậu thiên bát quái văn vương liên hệ Lạc thư

Quán xét đồ hình trên – theo tính chất quái vị lưu truyền qua cổ
thư chữ Hán – chúng ta cũng không hề thấy một sự liên hệ tương thích nào. Điều này được chứng minh như sau:
* Càn (Trời / Kim) nằm ở Âm Thủy, độ số 6/ Tây Bắc của Lạc
thư.
Trường hợp này Kim quái sinh Thủy vị .
* Khảm (Thủy) nằm ở Dương Thủy, độ số 1/ Chính Bắc của Lạc thư.
Trường hợp này tương hợp .
* Cấn (Thổ) nằm ở Âm Mộc, độ số 8/ Đông Bắc của Lạc thư.
Trường hợp này Một vị khắc Thổ quái .
* Chấn (Mộc) nằm ở Dương Mộc, độ số 3/ Chính Đông của Lạc thư.
Trường hợp này tương hợp .
* Tốn (Mộc / Gió) nằm ở Âm Kim, độ số 4/ Đông Nam của Lạc thư.
Trường hợp này Kim vị khắc Mộc quái .
* Ly (Hỏa) nằm ở Dương Kim, độ số 9/ Chính Nam của Lạc thư.
Trường hợp này Hỏa quái khắc Kim vị .
* Khôn (Thổ) nằm ở Âm Hỏa, độ số 2/ Tây Nam của Lạc thư.
Trường hợp này Hỏa vị sinh Thổ quái .
* Đoài Kim nằm ở Dương Hỏa, độ số 7/ Chính Tây của Lạc thư.
Trường hợp này Hỏa vị khắc Kim quái .

Như vậy, với ngay cả Hậu thiên bát quái vốn là một cơ sở của những phương pháp ứng dụng bao trùm trên mọi lĩnh vực cũng không hề có sự tương thích với Lạc thư. Đây chính là nguyên nhân để học giả uyên bác Nguyễn Hiến Lê cho rằng:

Nhất là so sánh những hình đó với hình Bát quái thì dù giàu trí tưởng tượng tới mấy cũng không thể bảo rằng Bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được”. (Kinh Dịch - Đạo của người quân tử)

Chính vì tính bất hợp lý của sự liên hệ giữa Tiên thiên với Hà đồ và Hậu thiên với Lạc thư – được lưu truyền trong cổ thư chữ Hán từ hàng ngàn năm nay – đồng thời với sự xuất hiện muộn màng của những đồ hình này – sau hơn 1000 năm – tính từ thời Hán, nên đã tạo cơ sở cho những luận điểm sai lầm là:
1) Âm Dương trong Kinh Dịch không liên quan gì đến Ngũ hành.
2) Âm Dương Ngũ hành là của người Việt và Bát quái là của người Hán. Hai học thuyết này hoà nhập vào thời Hán .
Những sai lầm của luận điểm này vì những nhà nghiên cứu đã không xuất phát từ một tiêu chí và phương pháp luận khoa học. Họ chỉ nhìn thấy một cách trực quan từ những nội dung trong bản văn chữ Hán và không biết rằng cổ thư chữ Hán không phải là những căn bản hoàn chỉnh về thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Sai lầm của những luận điểm này là:

Luận điểm 1:
* Không giải thích được những hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành trong chính Kinh Dịch, như “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư” và được cho rằng là cơ sở của Bát quái, khi mà Hà đồ Lạc thư tự nó đã bao hàm cả Âm Dương và Ngũ hành.
* Không giải thích được các hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành được coi là có trước Kinh Dịch, như: Trong “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”, “Hồng Phạm cửu trù“ …thể hiện phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành như là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán .

Luận điểm 2:
* Bát quái và tất cả các quẻ, chỉ là một hệ thống ký hiệu chứ không phải là một hệ thống văn tự có nội dung. Nếu tách ra khỏi thuyết Âm Dương Ngũ hành thì nó sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. Cũng như với công thức E = m.c2 của thuyết tương đối, nếu tách hệ thống ký hiệu này ra khỏi thuyết tương đối sẽ không thể có nội dung. Và không thể cho rằng: Thuyết tương đối thuộc về Anhxtanh còn công thức E = m.c2 lại thuộc về một nền văn minh khác ko liên quan hoặc là sự kế thừa tiếp tục của học thuyết này.
Do đó, bát quái trong Dịch học có nội dung bàn về Âm Dương không thể tách rời Ngũ hành thành hai học thuyết riêng biệt , khi chính nội dung bát quái đã thể hiện tính Ngũ hành (Đoài Kim, Chấn Mộc v.v…) Nguyên nhân của sự sai lầm là do sự sai lệch và khiếm khuyết ngay từ trong cổ thư chữ Hán.
Sự mơ hồ này khiến nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê cũng phải viết trong cuốn sách nổi tiếng của ông – “Kinh Dịch - Đạo người quân tử” – như sau:

Sao hai hình đó (Hà đồ và Lạc thư, Người viết) giống nhau thế: Số Dương lẻ đều là 25, ở giữa đều có số 5, những vòng tròn giống hệt nhau mà sao hình bên phải (Lạc thư, Người viết) không gọi là Đồ như hình bên trái lại gọi là Thư ? Tất là so sánh những hình đó với hình Bát quái thì dù giàu trí tưởng tượng tới mấy cũng không thể bảo rằng Bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được”.

Như vậy, ngay cả sự ứng dụng duy nhất của Hà đồ theo cổ thư chữ Hán trải hàng ngàn năm qua , cũng không hề thấy sự hợp lý trong mối tương quan của nó.
Bởi vậy, mặc dù có rất nhiều cố gắng, những nhà nghiên cứu cổ kim chỉ có thể có những phát hiện qua hình thức của nó với những hiện tượng tương quan (Đã trích dẫn) và không thể tìm thấy bản chất của Hà đồ và Lạc thư. Điều bí ẩn này xảy ra ngay cả với những nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa (Đã trích dẫn ở trên).
Hàng ngàn năm đã trôi qua , nền văn minh Đông phương vẫn bí ẩn một cách kỳ vĩ, sừng sững thách đố tri thức của con người.

*
*      *

Do đó, mặc dù những phương pháp ứng dụng của lý học Đông phương tỏ ra có hiệu quả trên thực tế trải hàng ngàn năm, nhưng sự tìm hiểu về các nguyên lý học thuật cổ Đông phương qua các bản văn chữ Hán cổ đã hoàn toàn bế tắc. Bởi vì: Một tiền đề căn bản của nền Lý học Đông phương là Hà đồ vẫn còn chìm trong huyền bí, từ đó kéo theo một hệ thống lý thuyết cần có – là nguyên nhân của phương pháp luận Âm Dương Ngũ hành trên thực tế ứng dụng – cũng chìm trong huyễn ảo.
Thực tại nào làm nên hai đồ hình căn bản của nguyên lý học thuật cổ Đông phương là Hà đồ và Lạc thư?
Người ta đã không thể hiểu được điều này. Vì nó thuộc về sự qui ước những thực tại mà tri thức của con người chưa biết đến. Điều này sẽ được chứng minh ngay trong cuốn sách này. Chính vì vậy, người ta đã giải thích bằng cách phủ một bức màn huyền bí lên nó, để thay thế cho sự thiếu hiểu biết , đó là:
Con Long Mã hiện trên sông Hoàng hà mang Hà đồ và con thần qui hiện trên sông Lạc Thủy mang Lạc thư .
Sự giải thích đầy tính huyễn hoặc này đã làm cho tất cả những phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương, như: thiên văn, địa lý (Phong Thủy), Tử vi …và cả y thuật, đều cứ như từ trên trời rơi xuống mà chẳng biết sở cứ vào đâu. Cũng chính vì cách giải thích huyễn hoặc này, nên một thời nó đã bị ngộ nhận là hệ quả của sự mê tín dị đoan . Mặc dù hiệu quả thực tế của nó là vượt không gian và thời gian trong xã hội Đông phương. Chính hiệu quả tồn tại trên thực tế trải hàng thiên niên kỷ đã tạo niềm tin cho phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương .
Người viết đặt vấn đề cho rằng:
Nếu sự chứng nghiệm trên thực tế là bằng chứng cho tính đúng đắn của một lý thuyết khoa học, thì hiệu quả của những phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương trải hàng ngàn năm về thời gian và trong một không gian rộng khắp trong xã hội Đông phương, đã chứng tỏ cho một thực tại huyền vĩ đằng sau các phương pháp đó. Thực tại đó nằm ngoài khả năng nhận thức của trí tuệ hiện đại.
Hay nói rõ hơn: Chúng tôi đi tìm một thực tại đằng sau những phương pháp luận trong ứng dụng có hiệu quả trên thực tế trải hàng ngàn năm của học thuật cổ Đông phương.
Để khám phá sự huyền bí Đông phương, người viết cho rằng: cần có sự lựa chọn đúng về cội nguồn xuất xứ và phương pháp hợp lý. Cả hai vế trên: “Cội nguồn & một phương pháp hợp lý” đều là hai yếu tố cần yếu bổ sung cho nhau, không thể thiếu một trong hai yếu tố này.
Không phải bây giờ mà đã trải hàng thiên niên kỷ, sự huyền bí kỳ vĩ của văn minh Đông phương vẫn sừng sững thách đố trí tuệ của nền văn minh hiện đại . Bởi vì, người ta không thể tìm một cái đúng từ một cái sai . Hay nói một cách khác: Người ta chưa tìm được một sự hợp lý xuyên suốt tất cả mọi hiện tượng và vấn đề đồ sộ vô cùng kỳ vĩ liên quan đến nguyên lý học thuật cổ Đông phương .
Người viết có thể khẳng định rằng:
Dù bạn nhân danh bất cứ một phương pháp luận nào, kể cả Thượng Đế, hoặc một tri thức trực cảm tâm linh thì chân lý luôn là duy nhất.
Đức Phật đã dạy:

”Có tám vạn bốn ngàn Pháp môn, tất cả đều tới vô thượng chánh đẳng giác”

Ngay trong Kinh Thánh:

”Thượng Đế là chí tôn”

Trong ngạn ngữ phương Tây, điều này được mô tả là:

”Tất cả các con đường đều tới La Mã”.

Hoặc gần đây hơn, giáo sư Trịnh Xuân Thuận phát biểu:

”Toàn bộ vũ trụ được chứa trong một hạt cát. Bởi vì giải thích những sự kiện dù đơn giản nhất cũng phải viện dẫn đến toàn bộ lịch sử vũ trụ”.

Chính vì tính duy nhất đó của chân lý mà mọi sự liên hệ giữa các hiện tượng phải hợp lý. Do đó, hợp lý chính là tiêu chuẩn thứ nhất của chân lý, mặc dù chưa phải chân lý. Nhưng không bao giờ có chân lý mà lại không bao hàm tính hợp lý.
Chính vì tính duy nhất đó của chân lý, nên dù bạn nhân danh bất cứ một phương pháp luận nào - kể cả Thượng Đế - thì phải có tính hoàn chỉnh và nhất quán.
Chính vì tính duy nhất đó của chân lý mà mọi hiện tượng đều phải có mối quan hệ tương tác (Phải viện dẫn đến toàn bộ lịch sử vũ trụ).
Trên cơ sở sự biện minh này, thì dù nhân danh bất cứ một phương pháp luận nào trong lịch sử tri thức của nhân loại, tính hợp lý vẫn là một trong những tiêu chuẩn của chân lý.
Giáo sư viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn phát biểu :

“Một lý thuyết khoa học dù kỳ quặc đến đâu, nhưng về mặt logic mà đứng vững được thì nó phải chứa đựng tiềm ẩn bên trong nó một sự phù hợp với thực tại nào đó mà loài người chưa biết. Bởi lẽ nó phù hợp với logic không tự trên trời rơi xuống. Logic chính là phản ánh thực tiễn và đúc kết từ thực tiễn”

Cũng trên cơ sở của những vấn đề đặt ra về một tiêu chí cho việc khám phá những bí ẩn của văn minh Đông phương, người viết căn cứ vào tiêu chí khoa học hiện đại sau đây:

* Một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng; phải giải thích một cách hợp lý hầu hết các hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh và nhất quán, có tính hệ thống, tính khách quan, tính quy luật với khả năng tiên tri.
* Một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học bị coi là sai; nếu người ta chỉ ra được một luận điểm bất hợp lý trong hệ thống lý luận của nó, mà nó không thể biện minh được.

Từ tiêu chí cho những lý thuyết và giả thuyết khoa học được cộng đồng khoa học thế giới công nhận này, người viết nhận xét thấy rằng:
Hầu hết những giả thuyết đã viết về Hà đồ từ trước đến nay, chưa tìm được bản chất đích thực của Hà đồ. Hay nói một cách khác: Nó hoàn toàn bất hợp lý và không đủ sức thuyết phục. Sự huyễn ảo đến mức độ bị coi là duy tâm, mê tín của nền văn minh Đông phương cho đến tận ngày nay chứng tỏ điều này.
Việc đi tìm bản chất của Hà đồ – nguyên lý của nền lý học Đông phương – sẽ tiếp tục bế tắc như nó đã bế tắc trải hàng thiên niên kỷ, nếu chúng ta vẫn chỉ căn cứ duy nhất vào những tư liệu được ghi nhận trong cổ thư chữ Hán . Bởi vậy, người viết cho rằng: Cần phải đi tìm ở một nền văn minh khác, đó chính là nền văn hiến Lạc Việt qua những di sản còn lại của nền văn minh này trên cơ sở tiêu chí khoa học.
Như vậy, phương pháp khoa học được căn cứ vào tiêu chí khoa học hiện đại và nền văn minh Lạc Việt chính là “Cội nguồn và phương pháp” được lựa chọn để khám phá những bí ẩn huyền vĩ của nền văn minh Đông phương .

 

Mời xem các phần khác:

Bài viết cùng chuyên mục

Chương II: Nội dung của Hà đồ qua cổ thư chữ Hán. Mặc dù tranh luận sôi nổi vậy, ngay cả những bậc túc nho khả kính thuộc văn minh Hán – cũng không thể ...

Phần I: Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Chương I: Xuất xứ của Hà đồ theo cổ thư chữ Hán. Hầu hết những ai đã từng xem một cuốn sách nói về Kinh Dịch thì ...

Trải hàng thiên niên kỷ trôi qua trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, con người không quên chiêm ngưỡng quá khứ. Nhưng trong sự phát triển của ...

Nhà nghiên cứu Lê Gia: Dịch lý là một môn khoa học và cũng là triết học, có tính nhất quán bao trùm mọi lĩnh vực trong vũ trụ quan và nhân sinh quan của tư ...

Tôi là người Hà Nội, tình cờ được quen biết tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vốn ở trong thành phố Hồ Chí Minh, có lẽ do cái mà đạo Phật gọi là có ...