Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 2

Ngày đăng: Thứ sáu 27/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

“Thuyết “Hà đồ” “Lạc Đồ” trong cuốn Thượng Thư của Tiên Tần, Luận ngữ của Mạnh Tử và trong Hệ từ đều có ghi lại. Nhưng “đồ” và “thư” thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến”.
Đến đời Tống Hà đồ Lạc thư do Thiêu Ung (Tức Thiệu Khang Tiết) và Trần Đoàn mới công bố hai đồ hình này và Chu Hy kiến giải trong “Dịch học khởi mông”.


Đồ hình Hà đồ và Lạc thư
Được công bố vào đời Tống

Đồ hình Lạc thư

 

Đồ hình Hà đồ


Do đó, nội dung Hà đồ chỉ có thể tìm hiểu từ các trước tác của các nhà lý học Tống Nho, mà tiêu biểu là Chu Hy, Trình Di. Nhưng tinh hoa của những trước tác của hai vị này lại nằm trong cuốn “Chu Dịch Đại toàn”. Bởi vậy, những kiến giải về nội dung của cuốn sách này sẽ là những tri kiến tiêu biểu. Xin quí vị xem đoạn trích dẫn dưới đây trích trong sách: Kinh Dịch (Dịch giả Ngô Tất Tố. Nxb T/p HCM 1991/ Trang 14)

Kinh Dịch là một pho sách rất cổ trong triết học sử Á Đông. Từ đời nhà Hán trở đi đến đời nhà Thanh, kể có hàng trăm học giả chú thích. Mỗi nhà chú thích tất nhiên có bộ sách riêng. Học thức hẹp hòi như dịch giả (Tức Ngô Tất Tố - Người viết) cũng biết tên được vài chục bộ, lấy trí tưởng tượng mà đoán, số sách chú thích của các nhà Dịch học, ít ra cũng phải có hàng trăm bộ. Nguyên văn bản dịch này là bộ “Chu Dịch Đại toàn” của bọn Hồ Quảng và Kim Âu Tư vâng mệnh Thành Tổ nhà Minh mà soạn ra, nội dung gom góp hầu khắp các lời chú giải của tiên nho. Trong các Kinh Dịch lưu hành từ trước đến giờ, bộ này đầy đủ hơn hết. Điều đáng nói là trong bộ Chu Dịch Đại toàn, soạn giả lấy hai cuốn Dịch truyện của Trình Di và Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy làm phần chính, còn lời chú giải của các học giả khác chỉ là phần khảo cứu mà thôi…

Vậy các tiên Nho như Chu Hy… nói về nội dung Hà đồ như thế nào. Xin bạn đọc tiếp tục xem đoạn trích dẫn sau đây:

* Đồ thuyết của Chu Hy

Hệ từ truyện nói: “Sông Hà hiện đồ, sông Lạc hiện thư, thánh nhân bắt chước các thứ đó”. Lại nói: “Trời một, đất hai, Trời ba, đất bốn, Trời năm, đất sáu, Trời bảy, đất tám, Trời chín, đất mười. Số của trời là năm, số của đất là năm”. Ngôi “năm” tương đắc với nhau mà số nào lại có sự hội họp của số ấy, thì số của trời là 25, số của đất là 30. Cộng cả số trời đất là 55. Đó là cái để làm thành sự biến hóa mà thông hành với quỉ thần. Ấy là số của Hà đồ…”

* Lời bàn của tiên nho Khổng An Quốc nói rằng:

”Hà đồ là khi họ  Phục Hy làm vua thiên hạ, có con Long Mã hiện ở sông Hoàng Hà, họ ấy bèn bắt chước cái vằn ấy của nó để vạch ra tám quẻ. Lạc thư là do vua Vũ chữa được nước lụt, có con rùa thần đội vằn, trên lưng có số tới 9, vua Vũ bèn nhân đó mà làm ra chín loài”. Lưu Hâm nói rằng:”Họ Phục Hy nối trời làm vua, nhận đồ sông Hà mà vạch ra tám quẻ. Vua Vũ chữa được nước lụt, trời ban cho Thư ở sông Lạc, vua ấy bắt chước thư đó xếp thành chín loại. Đó là chín trù”. Quan Lăng nói rằng: ”Nét của Hà đồ, bảy trước, sáu sau, tám ở tả, chín ở hữu. Nét của Lạc thư, chín trước, một sau, ba tả, bảy hữu, bốn tả đằng trước, hai ở phía hữu đằng trước, tám ở phía tả đằng sau, sáu ở phía hữu đằng sau”. Thiệu Ung nói rằng: ”Tròn là hình sao, số của lịch kỷ có lẽ gây từ đó chăng ? Vuông là hình đất, những cách chia Châu, đặt “tỉnh” có lẽ phỏng theo đó chăng?
Bởi vì tròn là số của Hà đồ, vuông là nét của Lạc thư, cho nên vua Hy, vua Văn nhân đó mà làm ra Kinh Dịch, vua Vũ, ông Cơ theo đó mà làm ra thiên Hồng Phạm”.
Chu Hy nói rằng:
”Trong kHỏang trời đất, chỉ có một vật là khí, chia làm hai thì là Âm Dương, năm hành gây dựng, muôn vật trước sau đều bị cai quản trong đó. Cho nên ngôi Hà đồ, một và sáu cùng tông mà ở về phía Bắc, hai và bảy làm bạn mà ở về phía Nam, ba và tám đồng đạo mà ở về Đông, bốn và chín thành lứa mà ở về Tây, năm và mười giữ lẫn cho nhau mà ở chính giữa. Nghĩa là cái số của nó chẳng qua chỉ có một Âm, một Dương, một lẻ, một chẵn để làm gấp đôi năm hành mà thôi.
Gọi là trời tức là khí Dương nhẹ trong, ngôi ở bên trên. Gọi là đất tức là khí Âm nặng đục, ngôi ở phía dưới. Số Dương lẻ nên 1, 3, 5, 7, 9 đều thuộc về trời. Đó là số của trời có 5. Số Âm chẵn, cho nên 2, 4, 6, 8, 10 đều thuộc về đất. Đó là số của đất có 5. Số của trời và số của đất, đằng nào theo loại đằng ấy, mà cũng tìm nhau. Ngôi “năm” tương đắc với nhau vì thế.
Trời lấy số 1 mà sinh hành Thủy, đất lấy số 6 mà làm cho thành.(*) Đất lấy số 2 mà sinh hành Hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành. Trời lấy số 3 mà sinh hành Mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành. Đất lấy số 4 mà sinh hành Kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành. Trời lấy số 5 mà sinh hành Thổ, đất lấy số 10 mà làm cho thành. Đó là “Các số đều có hợp nhau”.
”Chất 5 số lẻ thành 25, chất 5 số chẵn thành 30. Hợp cả hai số thành 55, tức là toàn số của đồ sông Hà. Đó là ý của Phu tử và thuyết của chư nho.”
”Đến như Lạc thư, tuy là Phu tử chưa hề nói tới, nhưng tượng và thuyết của nó đã có đủ ở trên đây.
Có người hỏi rằng: “Tại sao ngôi và số của Hà đồ/ Lạc thư lại không giống nhau ?”.
Đáp rằng: “Hà đồ dùng năm số sinh tóm năm số thành cùng ở một phương, ấy là nêu cái toàn hình để bảo người ta mà nói về thể của số thường. Lạc thư dùng năm số lẻ tóm bốn số chẵn, mà số nào ở riêng chỗ của số ấy, đó là chủ về “Dương để tóm Âm” mà gây cái dụng của số biến.
Lại hỏi: “Tại sao Hà đồ Lạc thư lại có số 5 ở giữa ?”
Đáp rằng: “Các số lúc đầu chỉ là một Âm một Dương mà thôi. Tượng của Dương tròn, tròn thì đường kính một phần,chu vi ba phần. Tượng của Âm vuông, vuông thì đường kính một phần chu vi bốn phần. Chu vi ba phần thì lấy số một làm “một” (**), cho nên nhân với một Dương mà thành ra ba. Chu vi bốn phần thì lấy số hai làm “một” cho nên nhân với một Âm mà thành ra hai. Đó là nhân ba với Trời, nhân hai với Đất vậy. Hai và ba hợp lại thì thành ra năm, vì vậy Hà đồ Lạc thư đều lấy số năm làm giữa. Nhưng mà Hà đồ thì lấy số sinh làm chủ, cho nên giữa phải là năm, cho đủ tượng của năm số sinh. Một chấm ở dưới là tượng số một của trời, một chấm ở trên là tượng số hai của đất, một chấm phía tả là tượng số ba của trời, một chấm phía hữu là tượng số bốn của đất, một chấm chính giữa là tượng số năm của trời. Lạc thư thì lấy số lẻ làm chủ, cho nên ở giữa phải là năm cho đủ các tượng của năm số lẻ: Một chấm ở dưới cũng tượng số một của trời, một chấm phía tả cũng tượng số ba của trời, một chấm chính giữa cũng tượng số năm của trời, một chấm phía hữu là tượng số bảy của trời, một chấm ở trên tượng số 9 của trời. Số và ngôi của hai thứ đó có ba chỗ giống nhau, hai chỗ khác nhau là vì Dương không thể đổi mà Âm thì có thể đổi, số thành tuy thuộc về Dương nhưng cũng là Âm của số sinh vậy.
Lại hỏi: “Năm ở chính giữa đành là tượng của năm số, thế còn cái số của nó thì sao ?”
Đáp rằng: “Nói về số thì suốt trong một “đồ” đều có những số đích thực để ghi chép. Nhưng 1, 2, 3, 4 đều ở bên ngoài phương chốn của năm tượng và 6, 7, 8, 9 thì lại nhân có số 5 mà được cái số của nó để phủ bên ngoài số “Sinh”.. Một, ba, bảy, chín của Lạc thư cũng đều ở bên ngoài phương chốn của 5 tượng, mà hai, bốn, sáu, tám lại số nào nhân loại của số ấy để phụ vào cạnh số lẻ. Bởi vì ở trong là chủ mà ở ngoài là khách, ở giữa là vua mà ở bên cạnh là tôi, đều có ngành ngọn mà không thể trái lẫn.
Lại hỏi: “Bên nhiều bên ít là cớ làm sao ?”
Đáp rằng: “Hà đồ chủ về hoàn toàn, nên nó cùng cực đến số 10, mà ngôi lẻ, ngôi chẵn của nó đều xét về sự tích thực thì sau mới thấy chẵn thừa mà lẻ thiếu. Lạc thư chủ về biến đổi, nên nó cùng cực đến số 9 mà ngôi vị và thực chất của nó đều lẻ thừa mà chẵn thiếu (***). Ắt đều để trống chỗ giữa rồi sau số của Âm Dương mới đều hai mươi.”
Lại hỏi: “Thứ tự của nó không giống nhau sao ?”
Đáp rằng: “Hà đồ nói về thứ tự sinh ra thì bắt đầu từ dưới lên trên, đến tả, đến hữu, vào giữa rồi lại bắt đầu từ dưới. Nói về thứ tự vận hành bắt đầu từ Đông, đến Nam, đến giữa, đến Tây, đến Bắc theo phía tả mà xoay một vòng rồi lại bắt đầu từ Đông. Trong các số sinh ở trong: Số Dương ở dưới bên tả, số Âm ở trên về phía hữu. Trong các số thành ở ngoài: Số Âm ở dưới về phía tả, số Dương ở trên về phía hữu. Thứ tự Lạc thư thì số Dương bắt đầu từ Bắc đến Đông, đến giữa, đến Tây, đến Nam. Số Âm bắt đầu từ Tây Nam, đến Đông Nam, đến Tây Bắc, đến Đông Bắc. Hợp lại mà nói thì bắt đầu từ Bắc, đến Tây Nam, đến Đông, đến Đông Bắc cuối cùng ở Nam. Còn vận hành của nó thì Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ theo phía hữu mà xoay một vòng rồi Thổ lại khắc Thủy. Hai thứ đều có thuyết cả”.
Lại hỏi: “Tại sao những số 6, 7, 8, 9 của hai thứ lại không giống nhau ?”
Đáp rằng: “Các số 6, 7, 8, 9 của Hà đồ đã phụ bên ngoài số sinh rồi. Đấy là phần chính của Âm Dương: Già trẻ, tiến lui thừa thiếu. Số chín của nó tức là mấy số 1, 3, 5 trong số Sinh tích lại mà thành ra, cho nên nó phải từ Bắc sang Đông, từ Đông sang Tây để làm thành phía ngoài của số 4. Số 6 của nó tức là hai số 2, 4 trong số Sinh tích lại mà thành ra. Cho nên nó phải từ Nam sang Tây, từ Tây sang Bắc để làm cho thành phía ngoài của số 1. Số 7 tức là số 9 từ Tây sang Nam, số Tám tức là số 6 từ Bắc sang Đông. Đó lại là sự biến đổi của các số Âm Dương, già trẻ đắp đổi ở “nhà” của nhau (*). Lạc thư ngang dọc 15 mà 7, 8, 9, 6 đắp đổi tiêu, lớn bỏ trống số 5, chia sẻ số 10, mà số 1 ngậm số 9, số 2 ngậm số 8, số 3 ngậm số 7, số 4 ngậm số 6, số 5, 3 lộn góp tới đâu cũng gặp số hợp(*), vì vậy sự biến hóa vô cùng mới thành ra sự mầu nhiệm.”….

Xem đến đây, người viết cũng không thể không chia sẻ với sự ngán ngẩm của giáo sư Nguyễn Hữu Lượng. Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng đã viết:

”Hiền tài như Chu Tử mà chẳng tránh khỏi quanh co khúc thuyết”.

Phải chăng đoạn trên đây chính là một đoạn khúc thuyết của ông Chu Hy? Qua sự giải thích của ông Chu Hy, thì người ta vẫn chẳng hiểu Hà đồ có nội dung gì? Hay nói chính xác hơn: Chu Hy không thể chỉ ra thực tại nào làm nên độ số của Hà đồ . Ông ta chỉ giải thích một cách mơ hồ trên cơ sở những ký hiệu thể hiện trên đồ hình của nó .
Nhưng nếu sự trích dẫn không đầy đủ thì e rằng có người khó tính sẽ hoài nghi chăng? Bởi vậy nên người viết xin được tiếp tục trích dẫn sự lý giải quanh co khúc thuyết nhàm chán này. Mong bạn đọc vui lòng lượng thứ.

Chu Hy nói rằng:

Ngôi của Lão Dương (Số Dương già tức là Thái Dương) ở số 1, ngôi của Lão Âm (Số Âm già tức Thái Âm) ở số 4. Nay Hà đồ để số 9 của Lão Dương ngoài số 4, mà số 6 của Lão Âm thì lại ngoài số 1. Đó là Lão Âm, Lão Dương ở lẫn nhà nhau. Ngôi của Thiếu Âm (Số Âm non) ở số 2, ngôi của Thiếu Dương (Số Dương non) là ở số 3, mà Hà đồ lại để số 8 của Thiếu Âm ngoài số 3, Số bảy của Thiếu Dương thì lại ở ngoài số 2. Đó là Thiếu Âm, Thiếu Dương ở lẫn nhà nhau.”

Hồ Ngọc Trai chua rằng:

” Lạc thư tuy là ngang dọc có số 15, thật ra đều là những số 7, 8, 9, 6 đắp đổi tiêu lớn: Số 1 được 5 thành 9, mà đắp đổi tiêu lớn với số 9 ở phương Nam. Số 4 được 5 thành 8 mà đắp đổi tiêu lớn với số 7 ở phương Tây. Số 2 được 5 thành 7 mà đắp đổi tiêu lớn với số 8 ở Đông Bắc. Những số tiến lên là lớn, lui đi là tiêu. Số lớn đã lui thì phải tiêu đi, số tiêu đã tiến thì phải lớn lên.Sáu tiến đến 9 thì 9 lớn mà 6 tiêu, 9 lui làm sáu thì 9 tiêu mà 6 lại lớn, 7 tiến làm 8 thì 8 lớn mà 7 tiêu, 8 lui làm 7 thì 8 tiêu mà 7 lại lớn. “Bỏ trống số 5, chia sẻ số 9” nghĩa là đem số 5 ở giữa mà trừ đi các số ở ngoài thì các bề nganh, bề dọc chỉ còn 10. Đem số 10 ấy mà chia sẻ đi thì 9 là số thừa của 1 trừ 10, 8 là số thừa của 2 trừ 10, 7 là số thừa của 3 trừ 10, 6 là số thừa của 4 trừ 10. Thế là “3, 5 lộn góp, tới đâu cũng gặp số hợp”.
———————————
Chú thích (Trong sách đã dẫn):
* Hoàng Miễn Trai chua rằng:
“Từ 1 đến 10 chỉ nói về sự nhiều ít của số lẻ, chẵn, không phải nói về thứ tự. Trời được số lẻ mà làm ra nước. Cho nên nói rằng: “Số 1 sinh hành Thủy. Số 1 cùng cực thì thành số 3, cho nên nói rằng: “Số 3 sinh hành Mộc”. Đất được số chẵn mà làm ra Lửa, cho nên nói rằng: “Số hai sinh ra hành Hỏa”. Số 2 cùng cực thì thành số 4, cho nên nói rằng: “Số 4 sinh ra hành Kim”. Sao lại là vậy? Là vì dùng một cạnh mà vặn cho tròn thì thành 3 cạnh, thế là số một cùng cực thì thành số 3, dùng hai cạnh mà bẻ cho vuông thì thành bốn cạnh, thế là số 2 cùng cực thì thành số 4….Số 6 hoàn thành hành Thủy cũng giống như tượng quẻ Khảm, một hào Dương ở giữa, tức là số trời 1 sinh Thủy, số 6 của Đất bao bọc bên ngoài. Dương ít, Âm nhiều thì Thủy mới thịnh. Số 7 hoàn thành hành Hỏa cũng giống như tượng quẻ Ly, một hào Âm ở giữa tức là số 2 của Đất sinh hành Hỏa, số 7 của trời bao bọc bên ngoài. Âm ít Dương nhiều thì Hỏa mới thịnh. Khảm thuộc về Dương, Ly thuộc về Âm, ở trong là cái để sinh, ở ngoài là cái để làm cho thành.

* Số để sinh sản.
*** Hà đồ số chẵn thừa mà lẻ thiếu, tức là số Trời 25 (5x5), số Đất 30 (5x6). Lạc thư lẻ thừa mà chẵn thiếu, tức là số trời 25 (5x5), số Đất 20 (5x4). Hà đồ để trống số 15 ở giữa, Lạc thư để trống số 5 ở giữa thì số của Âm Dương đều đúng 20. Chu Hy chua vậy.

Sự trích dẫn dưới đây là tiếp tục của đoạn trên trong sách đã dẫn, để quí vị tham khảo những nhận xét về nội dung Hà đồ của các nhà lý học Hoa Hạ.

Lại hỏi:
”Thế thì thánh nhân bắt chước hai cái hình đó ra sao ?”
Đáp rằng:
”Hà đồ thì bỏ trống ở giữa, Lạc thư thì tóm thực tượng . Hà đồ bỏ trống số 5 và 10, đó là Thái cực, số lẻ 20, số chẵn 20, đó là hai nghi. Lấy 1, 2,3,4 làm 5, 6, 7, 8, đó là tứ tượng. Chia số hợp của bốn phương để làm Kiền, Khôn, Ly, Khảm. Bù chỗ trống của bốn góc để làm Đoài,Chấn,Tốn, Càn. Đó là 8 quẻ (*). (Tức Tiên thiên bát quái phối với Hà đồ, Người viết)
Thực tượng Lạc thư thì: Một là Ngũ hành, hai là Ngũ tự, ba là Bát chính, bốn là Ngũ kỷ, năm là Hoàng cực, sáu là Tam đức, bảy là Kê nghi, tám là Thứ trưng, chín là Phúc cực. Ngôi và số của nó càng rõ rệt lắm.
Lại hỏi: Lạc thư mà nếu bỏ trống số 5 ở giữa thì tức cũng là 20, cũng là hai nghi, chiều ngang là Thái cực, lẻ chẵn ngang dọc đều 15, có thể đắp đổi làm ra 7, 8, 9, 6 cũng là tứ tượng, bốn phương chính cũng để làm Kiền, Khôn, Ly, Khảm, bốn góc chéo để làm Đoài, Chấn, Tốn, Cấn thì cũng là 8 quẻ. Hà đồ 1, 6 là Thủy; 2, 7 là Hỏa; 3, 8 là Mộc; 4, 9 là Kim; 5, 10 là Thổ thì vẫn là năm hành của thiên Hồng phạm, mà số 55 lại là mục con của chín trù. Thế thì Lạc thư vẫn có thể làm ra Kinh Dịch, mà Hà đồ vẫn có thể làm ra Hồng Phạm. Biết đâu “Đồ” không là “Thư”, “Thư” không là “Đồ” ?

Sở dĩ có câu hỏi này vì sự lý giải mập mờ, khúc thuyết của ông Chu Hy, xuất phát từ sự không hiểu biết bản chất của Hà đồ, Lạc thư. Bởi vì với cách giải thích (Chứ không phải chứng minh) của ông Chu Hy thì hiện tượng Đồ và Thư không có sự phân biệt về nội dung. Bây giờ chúng ta tiếp tục quán xét xem ông Chu Hy trả lời câu hỏi này như thế nào ?

Đáp rằng: Thời đại tuy có trước sau, số mục tuy có nhiều ít, nhưng lý của nó chỉ có một. Có điều Kinh Dịch là do vua Phục Hy được Hà đồ trước, không cần đợi đến Lạc thư. Thiên Hồng phạm là do vua Vũ được riêng ở Lạc thư không cần nhắc lại ở Hà đồ. Vả lại đem Hà đồ bỏ trống số 10, tức là số 45 của Lạc thư,bỏ trống số 5 tức là số 50 của phép Đại Diễn. Cộng 5 với 10 là số ngang dọc 15 của Lạc thư. Đem 5 nhân 10, đem 10 nhân 5 lại đều là số Đại Diễn. Lạc thư thì 5 lại tự ngậm 5 thì được 10, cũng thông nhau với số của phép Đại diễn. Cộng 5 với 10 thì được 15 cũng thông nhau với số Hà đồ. Nếu rõ lẽ đó thì dù ngang, chéo, cong, thẳng không cách nào không thông. Hà đồ với Lạc thư há có trước sau, kia nọ khác nhau ?(*)

* Chú thích trong sách đã dẫn:

Chu Hy chua rằng: Đem hình Tứ tượng mà xem thì Thái Dương ngôi ở một mà số là 9. Kiền được số ấy, Đoài được ngôi ấy cho nên Kiền là 9 mà Đoài là 1. Thiếu Âm ở ngôi hai mà số là 8, Ly được số ấy mà Chấn được ngôi ấy, cho nên Ly là 8 mà Chấn là 2. Thiếu Dương ở ngôi 3 mà số là 7, Khảm được số ấy, Tốn được ngôi ấy, cho nên Khảm là 7 mà Tốn là 3. Thái Âm ngôi ở bốn mà số là 6, Khôn được ngôi ấy, Tốn được số ấy, cho nên Khôn là 6 mà Tốn là 4. Nay chia số hợp của 6, 7, 8, 9 để làm Kiền, Khôn, Ly, Khảm mà để vào bốn ngôi chính, theo thứ tự của 1, 2, 3, 4 để làm Chấn, Đoài, Tốn, Cấn bù vào chỗ trống của bốn góc.Như vậy, qua cách trả lời của ông Chu Hy thì có lẽ chính ông cũng chẳng hiều mình đang nói gì !

Những đoạn trích dẫn tiếp theo đây là của Âu Dương Tu – một danh nho đời Tống – trong “Kinh Dịch - vũ trụ quan Đông phương” - đã dẫn để bạn đọc tham khảo những ý kiến khác nhau của các nhà Lý học cổ Hoa Hạ.

Cho Hà đồ Lạc thư là không đủ tin, từ ông Âu Dương trở lại đã có thuyết ấy. Nhưng mà ở thiên Cố mệnh, thiên Hệ từ và sách Luận ngữ đều có nói thế cả và cái số trong hai đồ của chư Nho truyền lại tuy có na ná giống nhau, nhưng không sai trái với nhau. Tính xuôi, suy ngược, ngang dọc, cong thẳng đều có phép tắc rõ ràng không thể phá bỏ đi được. Cũng như Hà đồ từ số 1 của Trời đến số 10 củaĐất hợp lại thành số 55 của Trời Đất thì Kinh Dịch chính ở đó mà ra. Lạc thư từ thứ 1 đến thứ 9 hợp lại đủ số của chín trù thì thiên Hồng Phạm vẫn do ở đó mà ra. Thiên Hệ từ tuy không nói rõ vua Phục Hy nhận Hà đồ làm Kinh Dịch (Theo sách chữ Hán thì vua Phục Hy căn cứ vào Hà đồ làm ra Tiên thiên bát quái / Người viết), nhưng ở đó có nói việc: “Ngửa xem, cúi xét, nghiệm gần, nghiệm xa”, thì biết đâu Hà đồ chẳng là một việc trong các việc đó? Đại để nguyên do chế tác của thánh nhân, không phải chỉ có một chiều, song cái khuôn khổ của Pháp tượng chắc phải có chỗ rất quan hệ. Như đời Hồng Mông, kHỏang giữa trời đất, khí của Âm Dương đều có tượng, nhưng mà chưa từng có số. Đến khi Hà đồ hiện ra, rồi sau cái số 55, hoặc lẻ, hoặc chẵn, hoặc sinh, hoặc thành rõ ràng có thể trông thấy, cái đó là để mở mang trí riêng của thánh nhân, không thể đem ví với những khí tượng mênh mang. Vì vậy, thánh nhân: ngửa lên mà xem, cúi xuống mà xét, gần nghiệm ở mình, xa nghiệm ở vật” tới đó mà sau những sự Âm Dương chẵn lẻ của hai nghi, tứ tượng, tám quẻ có thể nói rõ ra được. Thiên Hệ từ nói về nguyên do thánh nhân làm ra Kinh Dịch, tuy không phải là một điều, nhưng bảo nhờ có Hà đồ rồi sau việc làm ra Kinh Dịch mới quyết cũng không hại gì”.

Như vậy, qua các đoạn trích dẫn trên về “Nội dung Hà đồ trong cổ thư chữ Hán” cho thấy:
Những nhà Lý học Hán nho – trải hàng ngàn năm – hoàn toàn vẫn rất mơ hồ về nội dung của Hà đồ và Lạc thư. Với những tri kiến của một nền văn minh thời Trung cổ, họ vẫn phải chấp nhận một xuất xứ huyền bí từ trên lưng con Long mã hiện trên sông Hoàng Hà và một sự lý giải quanh co qua hình thức thể hiện của Hà đồ được lưu truyền trong dân gian. Họ không thể lý giải được bản chất thật của Hà đồ Lạc thư và tính ứng dụng trên thực tế của hai đồ hình này trong Lý học Đông phương.
Cho đến tận ngày hôm nay, các nhà nghiên cứu vẫn cứ phải lặp đi lặp lại rằng: “Hà đồ là đồ hình do con Long Mã hiện trên sông Hoàng Hà” “Lạc thư từ trên lưng con thần qui hiện lên ở sông Lạc Thủy”. Tất nhiên, với quan niệm như vậy, nền văn minh kỳ vĩ của Đông phương vẫn chìm sâu trong sự huyền bí và vẫn đang thách đố trí tuệ của con người.
Qua những đoạn trích dẫn và phân tích ở trên, có thể nói rằng:
Các nhà nghiên cứu Hán nho thuộc văn minh Hán chỉ xác nhận được rằng:

Nội dung chính của Hà đồ chính là chiều tương sinh của Ngũ hành.

Chúng ta xem lại đoạn trích dẫn sau đây:

Trời lấy số 1 mà sinh hành Thủy, đất lấy số 6 mà làm cho thành.
Đất lấy số 2 mà sinh hành Hỏa, trời lấy số 7 mà làm cho thành.
Trời lấy số 3 mà sinh hành Mộc, đất lấy số 8 mà làm cho thành.
Đất lấy số 4 mà sinh hành Kim, trời lấy số 9 mà làm cho thành.
Trời lấy số 5 mà sinh hành Thổ, đất lấy số 10 mà làm cho thành.
Đó là “Các số đều có hợp nhau”.

Đồ hình Hà đồ và Hà đồ cửu cung

Nhưng ngoài việc đó ra thì tất cả các luận điểm giải thích của Hán Nho về nội dung Hà đồ và Lạc thư, trải hàng ngàn năm đều mơ hồ, huyễn hoặc. Bởi một lẽ rất đơn giản là: “Người ta không thể nào tìm ra một cái đúng từ một cái sai”. Hà đồ và Lạc thư không thể bắt đầu từ trên lưng con Long mã và Rùa thần. Người ta sẽ không thể tìm được bản chất của Hà đồ và Lạc thư từ sai lầm rất căn bản đó.
Nhưng đấy cũng chưa phải nguyên nhân chính yếu. Bởi vì – nếu vấn đề chỉ dừng lại ở sự huyền bí huyễn hoặc cho xuất xứ của Đồ, Thư – thì trong hơn 2000 năm kể từ khi văn minh Lạc Việt sụp đổ - những nhà nghiên cứu Hoa Hạ cũng có thể tìm ra bản chất của hiện tượng Hà đồ. Sự bí ẩn của Hà đồ chính là ở chỗ: Không hề có một bản văn cổ chữ Hán nào nói đến sự ứng dụng của Hà đồ trong Lý học cổ Đông phương. Ngoại trừ người ta cho rằng: “Vua Phục Hy căn cứ vào Hà đồ để lập ra Tiên thiên bát quái” một cách rất mơ hồ.
Bây giờ, chúng ta lại tiếp tục quán xét sự ứng dụng duy nhất của Hà đồ trong cổ thư chữ Hán . Đó là việc người ta cho rằng – cũng cả hàng ngàn năm – Vua Phục Hy căn cứ vào Hà đồ để làm ra Tiên thiên bát quái.

Bài viết cùng chuyên mục

Phần I: Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Chương I: Xuất xứ của Hà đồ theo cổ thư chữ Hán. Hầu hết những ai đã từng xem một cuốn sách nói về Kinh Dịch thì ...

Trải hàng thiên niên kỷ trôi qua trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, con người không quên chiêm ngưỡng quá khứ. Nhưng trong sự phát triển của ...

Nhà nghiên cứu Lê Gia: Dịch lý là một môn khoa học và cũng là triết học, có tính nhất quán bao trùm mọi lĩnh vực trong vũ trụ quan và nhân sinh quan của tư ...

Tôi là người Hà Nội, tình cờ được quen biết tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vốn ở trong thành phố Hồ Chí Minh, có lẽ do cái mà đạo Phật gọi là có ...