Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Phần 1 - 1

Ngày đăng: Thứ năm 26/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Trong Chu Dịch, duy nhất chỉ có một dòng như vậy nói đến Hà đồ. Tính mơ hồ của nó đã sinh ra bao truyền thuyết thần kỳ. Cho đến tận bây giờ, thực chất Đồ thư là cái gì chưa thấy ai bàn được rốt ráo.
Đã có hẳn một môn “Hà đồ học” với hàng trăm đầu sách viết về Hà đồ, nhưng Đồ Thư vẫn là những đồ hình bí ẩn. Trong những cuốn sách nghiên cứu về lý học Đông phương thì – với cái nhìn của người viết – có lẽ cuốn Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương của giáo sư Nguyễn Hữu Lượng là một bản tổng kết khá hoàn chỉnh về những tài liệu chủ yếu nói về Hà đồ. Bởi vậy, tôi xin trích dẫn tư liệu trong sách này để quí vị tiện tham khảo về xuất xứ của Hà đồ theo cổ thư chữ Hán. Trong các đoạn trích dẫn từ sách này - từ trang 77 đến trang 90 - người viết lược bỏ những phần phiên âm Hán Việt và phần chữ Hán trích kèm minh họa trong nguyên văn. Đoạn sau đây trích trong chương I có tựa là:

Long đồ - Qui thư

Nguồn gốc
Nói tới Dịch Lý Đông phương, trước hết phải nói tới Hà đồ và Lạc thư.
”Hà đồ Lạc thư vốn là nguồn gốc của quái hoạch” (Đồ thư cố thị quái hoạch chi nguyên). Quái hoạch lại là dấu hiệu tượng trưng cho Âm Dương động tĩnh, biến dịch, doanh hư, sinh thành…Hà đồ Lạc thư chính là hai tài liệu nền tảng của vũ trụ quan Đông phương. Các bậc thánh nhân, sau khi thấy con Long Mã phụ đồ, con Linh Qui phụ thư xuất hiện ở hai sông Hà, Lạc bèn bắt chước theo, rồi đem dùng. Từ đó có Tiên thiên và Hậu thiên bát quái..v.v..và có cả một hệ thống ý niệm về vũ trụ và nhân sinh. Vì vậy, ngay ở đầu sách “Chu Dịch bản nghĩa” , Chu Hy đã giới thiệu Hà đồ Lạc thư bằng hình vẽ và chú thích sau đây: ”Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo”

Như vậy – qua đoạn trích dẫn trên - khi so sánh giữa câu trong Hệ Từ của Kinh Dịch:

“Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi” với câu “Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, thánh nhân bắt chước theo”, thì bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Đây là hai nội dung khác hẳn nhau. Câu trên là hiện tượng, câu dưới là cách hiểu hiện tượng mà nội dung câu trên đặt ra.
Nhưng tại sao lại có sự khẳng định này từ ông Chu Hy (Đời Tống trong lịch sử Trung Hoa) – Một sự khẳng định đã trải hàng thiên niên kỷ cho đến tận bây giờ? Ông đã căn cứ vào đâu để viết những điều này? Chúng ta tiếp tục quán xét đoạn trích dẫn tiếp theo:

Thái Nguyên Định nói: “Về cái tượng của Đồ Thư thì từ Khổng An Quốc, Lưu Hâm đời Hán, Quan Lăng tự Tử Minh đời Ngụy, đến Khang Tiết tiên sinh là Thiệu Ung, tự Nghiêu Phu đời Tống, ai cũng đều bảo như vậy. Đến Lưu Mục, ông đổi tên cả hai số và được các học giả dùng theo”.
Khảo sát về Hà đồ, Lạc thư ta thấy người đầu tiên đã ghi lại nguồn gốc xa xưa của chúng là Khổng An Quốc đời Hán. Họ Khổng viết: “Đời Phục Hy có con Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà. Nhà vua bèn bắt chước theo những vằn của nó để vạch Bát Quái gọi là Hà đồ. Đời vua Vũ có con thần qui xuất hiện trên sông Lạc. Nhà vua bèn nhân đó sắp đặt thứ tự thành 9 loại, gọi là Lạc thư.
Theo Từ Nguyên của Trung Hoa thì Phục Hy là vị vua thời Thái Cổ Trung Hoa, tượng trưng cho ánh sáng Mặt Trời, Mặt Trăng nên gọi là Thái Hạo. Ngài dạy dân cày ruộng, đánh cá, chăn nuôi các giống vật tế thần để sung vào việc bếp nước nên gọi là Bào Hy. Ngài vạch quái làm thư khế, ở ngôi được 115 năm, truyền dược 15 đời, gồm 1260 năm.

Trong sách đã dẫn, các nhà lý học còn chỉ ra rất cụ thể về địa danh Hoàng Hà và Lạc Thủy như sau:

Hà tức sông Hoàng Hà, là con sông lớn bực nhì Trung Quốc sau Dương Tử. Ngày xưa sông này chỉ gọi là Hà, nhưng về sau người Tàu gọi Hoàng Hà vì nó có nhiều cát vàng. Hoàng Hà xuất phát từ ngọn núi Ba Nhan Khách Thích miền Thanh Hải, chảy về Đông vào tỉnh Cam Túc, chéo lên Đông Bắc qua Tràng Thành tới Tuy Viễn, quặt về Nam qua Sơn Tây, Thiểm Tây, Hà Nam, lại chéo về Đông Bắc qua Trục Lệ, Sơn Đông rồi ra bể, dài hơn 8800 dặm. Sông Lạc tức Lạc Thủy, phát nguyên từ Thiểm Tây, chảy về Đông Nam qua Bảo An, Cam Tuyền rồi hợp với sông Vị để cùng chảy theo phía Đông vào Hoàng Hà.
Cũng trong sách đã dẫn, những nhà lý học sau Hán còn miêu tả chi tiết con Long Mã cứ như thật và có vẻ còn thật hơn cả quái vật hồ Loch Ness:
Long Mã là một con ngựa giống như rồng. Nói Mã Đồ tức là nói chuyện con Long Mã mang tấm đồ xuất hiện trên sông Hà thời Phục Hy. Về sau, khi Đế Nghiêu lên ngôi, Long Mã lại xuất hiện, mình xanh mà vằn đỏ, có mang sách mệnh trời ban cho vua để trị thiên hạ, trong đó ghi rõ việc hưng vong (Từ Nguyên theo sách “Thượng Thư trung hậu”)
Theo sách “Kỳ môn ngữ tổng quy” thì con Long Mã cao 8 thước 5 tấc (Thước Tàu), xương cổ dài, cánh bên phải nhúng xuống nước mà không ướt, trên đó thánh nhân để bức đồ cổ (Tấm đồ xưa). Long Mã xuất hiện trên sông Mạnh Hà còn gọi là Mạnh Độc thuộc huyện Vũ Tiến tỉnh Giang Tô, Trung Hoa.
Những tài liệu của Từ Nguyên trên đây tỏ ra khá tỷ mỷ, khá đầy đủ và rõ ràng. Nhưng thực ra xuất xứ của Đồ thư vẫn bao trùm bí mật và hoài nghi. Bởi vậy, nhiều cuộc bàn cãi sôi động của tiên Nho càng ngày càng gây thêm sự hào hứng. Nhiều bộ sách cổ từ ngày xửa ngày xưa được lôi ra để chứng minh cho xuất xứ lạ kỳ quái đản. Mâu thuẫn càng tăng, dị biệt càng lắm, bí mật càng thêm bí mật.
Sách “Tống thư phù thụy chi” kể rằng: ”Khi vua Vũ quan sát sông Hà để trị thủy, thấy một người mình cá rất dài xuất hiện. Người này nói: “Ta là Hà Tinh đây !”. Nói xong, trao Hà đồ cho vua Vũ, bàn việc trị thủy xong, bèn lui tới vực sâu.
Sách “Vỹ thư”, phần Xuân Thu, thiên Nguyên mệnh bào lại kể khác:”Vua Nghiêu ra chơi hai sông Hà , Lạc thấy một con rồng đỏ mang tấm đồ xuất hiện.
Sách “Thượng thư trung hậu” không bảo vua Nghiêu, vua Vũ mà lại bảo:”Vua Thuấn đến Hạ Tắc thì thấy con rồng vàng mang đồ xuất hiện”.
Sách “Luận ngữ sấm ngôn”, trái lại, bảo khi cả vua Nghiêu, và Thuấn cùng đi chơi tới sông Hà và Núi Thủ thì thấy năm ông lão báo cáo cái ngày con Long Mã ngậm tấm đồ xuất hiện.
Đến sách “Hà đồ”, thiên Đĩnh tá phụ thì Nghiêu, Thuấn, Vũ đều không phải cả mà lại là Hoàng Đế. Sách này nói: Thiên Lão (Tên một vị quan) tấu với Hoàng Đế: Sông Hà có Long đồ, sông Lạc có Qui thư. Nhà vua nghe lời, ra chơi sông Quỷ Thủy thấy con cá lớn xuất hiện. Khi cá lặn thì tấm đồ hiện ra.
Sách “Trúc thư kỷ niên” còn ghi trường hợp Thiên Lão tâu với Hoàng Đế như sau:
Năm thứ 50, đời Hoàng Đế sương mù dày đặc. Nhà vua hỏi thì Thiên Lão thưa: “Trời muốn cho ngài những điều huấn giáo quan trọng, ngài chớ nên phạm”. Trời bỗng mưa lớn, Hoàng Đế được đồ thư. Vì tích này nên Lý Bạch mới viết câu: “Thiên Lão chưởng đồ” trong bài Đại Lạp phú.
Nhưng phải đến “Sơn Hải kinh” của Quách Phác thì sự ngạc nhiên của chúng ta mới lên tới cùng độ. Sách này ghi rằng ở cả ba đời Phục Hy, Hoàng Đế và Liệt Sơn thị (Tức Thần Nông) đều có Hà đồ xuất hiện cả. Vì vậy Lý Quá trong sách “Tây Khê Dịch thuyết” mới cho biết cứ mỗi khi thánh nhân ra đời thì Hà đồ xuất hiện, chứ chẳng riêng gì đời Phục Hy. Ông nói:
”Căn cứ theo Sơn Hải Kinh, ta thấy Phục Hy được Hà đồ thì Hạ Hậu nhân đó nói Liên Sơn. Hoàng Đế được Hà đồ thì người Thương nhân đó nói Qui Tàng, Liệt sơn thị được Hà đồ thì người Chu đó nói Chu dịch. Như vậy, Hà đồ không phải đạc xuất từ thời Phục Hy. Đức Khổng Tử nói: “Chẳng thấy tấm đồ xuất hiện trên sông Hà thì đời ta hết rồi !”. Câu nói đó có nghĩa là cứ hễ có thánh nhân ra đời thì Hà đồ xuất hiện. Bởi thế nên Phục Hy, Hoàng Đế và Liệt Sơn thị đều được Hà đồ mà làm dịch”.

Qua những đoạn trích dẫn trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Xuất xứ Hà đồ qua bản văn cổ chữ Hán hoàn toàn được giải thích mang tính thần vật huyền bí có tính tôn vinh. Nhưng cũng qua các bản văn cổ chữ Hán, chúng ta không hề tìm thấy một sự khẳng định Hà đồ như một cơ sở lý thuyết trong ứng dụng thực tế. Ngoại trừ việc cho rằng: Hà đồ là cơ sở của Tiên thiên bát quái, nhưng điều này cũng chỉ được nói tới như một tiên đề. Hay nói một cách khác: Trong các phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương – qua bản văn chữ Hán – người ta không thể tìm thấy tính ứng dụng của Hà đồ. Nhưng Hà đồ lại được coi như nguyên lý đầu tiên, thiêng liêng và huyền bí đến kỳ ảo của nền lý học Đông phương? Sự mâu thuẫn này khiến nhà nghiên cứu nổi tiếng – Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng cũng phải chào thua mà đặt bút viết trong tác phẩm của ông “Kinh Dịch – vũ trụ quan Đông phương”:

Thật là loạn! Hậu thế chẳng biết sở cứ vào đâu! Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn đều là những vị vua thời Thái cổ. Chữ nghĩa lúc đó chưa có, biết lấy gì ghi chép thành sách để tin dùng ? Do đó hậu thế viết sách bất quá chỉ nghe truyền thuyết. Mà truyền thuyết thì mỗi nơi một khác, chẳng ai giống ai, nhất là thời xa xưa đó. Còn ở thời man rợ, loài người sống thành bộ lạc, trí thức nông cạn, chỉ ham mê vu nghiễn, ma thuật thì làm sao mà Đồ thư có một xuất xứ rõ ràng đích xác được. Duy có một điều gây thắc mắc cho chúng ta hiện nay là đứng trước sự hỗn loạn của các truyền thuyết đó, tại sao Hán nho như Khổng An Quốc, Lưu Hâm, vv…lại dám quả quyết Đồ xuất hiện ở sông Hà thời Phục Hy, Thư xuất hiện ở sông Lạc thời Hạ Vũ ? Chính sự võ đoán của Nho gia đầu tiên phát huy Dịch thuyết này đã gây nên những cuộc bàn cãi sôi nổi, những lời phê bình chỉ trích kịch liệt của đời sau, nhất là khi hậu thế không thể tin ở truyền thuyết mà chỉ biết căn cứ vào lời của Khổng Tử trong Dịch hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo đem ứng dụng”.

Qua đoạn trích dẫn trên của giáo sư Nguyễn Hữu Lượng, bạn đọc cũng thấy sự hỗn tạp và đầy mâu thuẫn trong các bản văn chữ Hán nói về Hà đồ. Và chính giáo sư tác giả cũng bị cuốn hút vào mớ bòng bong ấy, khi ông viết đoạn cuối:

“Trong Dịch Hệ thượng: Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc…”

Đây chính là lời của Khổng An Quốc và Lưu Hâm chú giải Dịch, chứ không phải ý nghĩa đích thực của câu này trong Hệ Từ của Kinh Dịch – mà ai cũng biết – chỉ vỏn vẹn là:

“Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”.

Để kiểm chứng lại, ai là người đầu tiên đưa ý nghĩa “Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc” có phải do đám Hán Nho đưa ra không, giáo sư tác giả đã viết:

Hán Nho có phải là người đầu tiên quả quyết như trên khiến hậu thế có người - Tiền Nghĩa Phương đời Nguyên – lên án họ là tội nhân của Dịch mà người đầu tiên chính là Khổng An Quốc: “Khổng An Quốc thành dịch chi tội nhân”.

Như vậy, với một mình Tiền Nghĩa Phương chưa đủ bằng cớ chứng tỏ Lưu Hâm và Khổng An Quốc là người đầu tiên chú giải dịch một cách chủ quan. Giáo sư tác giả còn cẩn thận khảo sát tiếp:

Phải hay không ta chỉ cần xem chú giải của Từ Nguyên qua hai chữ Hà Lạc thì rõ ngay:
Đây chú giải chữ Hà đồ: “Khi vua Phục Hy làm vua thiên hạ, thấy con Long Mã mang tấm đồ xuất hiện trên sông Hoàng Hà bèn bắt chước những vằn nét của nó để vạch bát quái. Vằn nét của nó thì 1, 6 ở dưới, 2 và 7 ở trên, 3 và 8 ở bên tả, 4 và 9 ở bên hữu, còn 5 và 10 ở giữa. Hà đồ còn là tên một bộ sách ghi những lời sấm truyền đời xưa, do người đời Minh biên tập trong sách Cổ Vĩ Thư. Sách này có nhiều thiên: Quát Địa tượng, Thủy khai quan, Giáng tượng, Kế Hạ câu, Đế Lâm hy, Đĩnh Tá phụ, Hà đồ Ngọc bản, Long Ngư Hà đồ ….Lại còn có Lạc thư sấm gồm những thiên: Linh Hoài thỉnh, Trích lục tích, Lục Vân pháp…. Sách này cùng với sách Hà đồ phụ tá lẫn nhau, cho nên đời mới gọi là sách “Hà Lạc đồ sấm”. Sách này đã mất từ lâu. Có người cố sưu tầm lại , nhưng còn thiếu sót rất nhiều. Tùy thư kinh tịch chí chép: Hà đồ 20 quyển, Hà đồ Long văn 1 quyển. Đời Lương, Hà đồ, Lạc thư có 24 quyển, mục lục một quyển. Cả hai đều nói: Những sách đó xuất hiện từ thời Tiền Hán, có Hà đồ 9 thiên, Lạc thư 6 thiên, rồi từ Hoàng Đế đến Châu Văn Vương lại có thêm 30 thiên khác nữa. Hai sách trên còn nói: Từ lúc sơ khởi đến Khổng Tử, những lời thêm pha vào 9 bậc thánh (?) được bọn tục nho lấy làm chuộng đem ra học hỏi khảo sát cho nên thiên mục ngày càng nhiều mãi. Đời Tống, đời Lương mới bắt đầu cấm. Tùy Dạng Đế còn cho tìm sách đốt đi, nếu ai phạm pháp sẽ bị xử tử. Từ đó những sách này mới không ai học nữa.
Và đây chú giải chữ Lạc thư: “Vua Đại Vũ trị thủy thấy con thần qui mang chữ có nét trên lưng, đếm số từ 1 đến 9, bèn nhân đó xếp đặt thứ tự làm thành 9 trù. Những nét đó được bố trí như sau: đầu đội 9, chân đạp 1, bên tả 3, bên hữu 7, đôi vai 2 và 4, đôi chân 6 và 8 và giữa số 5. Theo Hậu Hán thư Ngũ hành chí nói về thiên Hồng Phạm của Chu Thư thì từ trù 1 của Ngũ hành trở xuống có 65 chữ đều là bản văn của Lạc thư. Nhưng sách “Thư chính nghĩa” trưng dẫn thuyết của Lưu Hướng lại bảo 38 chữ là bản văn, và thuyết của Lưu Hâm thì chỉ có 20 chữ là bản văn. Những thuyết của Hán nho đều bảo Lạc thư có văn tự chứ không thấy nói tới đồ. Đại Đái Lễ chép Minh Đường cổ chế có những điểm 2, 9, 4, 7, 5, 3, 8, 6, 1. Đó là phép Cửu cung. Về sau bọn phương kỹ dựa vào đó để phụ họa mà làm Lạc thư. Đám hậu Nho sau này cũng theo thuyết đó”.
Nhờ chú giải của Từ Nguyên trên đây, ta có thể tin đám Hán Nho là người đầu tiên đã quả quyết: “Đồ xuất hiện ở sông Hà đời Phục Hy, Thư xuất hiện ở sông Lạc đời Hạ Vũ”. Từ đó đến nay, mỗi người hình như lặng lẽ chấp nhận một sự võ đoán táo bạo của Hán Nho không một phản ứng. Chẳng thế mà ngày nay các học giả Đông Tây, ai cũng đều cho sự kiện này như một sự kiện lịch sử hiển nhiên.

Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên chúng ta đã nhận chân sự thật là: Huyền thoại Hà đồ Lạc thư chỉ bắt đầu từ thời Hán. Chính văn Kinh Dịch / Hệ từ thượng chỉ viết:

”Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi”.

Hay nói một cách chính xác hơn: Những học giả thời Hán đã giải thích Hà đồ Lạc thư theo cách hiểu của họ . Nhưng những luận điểm của Hán Nho lại được coi là luận điểm chính thống về nguyên ủy của Hà đồ truyền tới ngày nay.
Bây giờ chúng ta tiếp tục tham khảo các luận điểm phản bác của chính các nhà nghiên cứu Trung Hoa trong lịch sử phát triển của nền văn minh này qua các đoạn trích dẫn tiếp theo.

Tuy nhiên không phải ai cũng dễ tính như ai ! Ngay trong làng Nho, thiếu gì người lên tiếng đả kích Hán Nho, nhất là đả kích Khổng An Quốc. Du Diễm đời Tống căn cứ vào câu nói của Khổng Tử trong Dịch hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, Đấng thánh nhân bắt chước theo” mà cho rằng Đồ Thư đều xuất hiện ở thời Phục Hy, chứ không phải hai thời khác nhau như họ Khổng chia ra. Ông nói: Phục Hy bắt chước Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái. Thế mà Khổng An Quốc lại bảo Phục Hy hoạch quái phải bắt chước theo Hà đồ, còn Đại Vũ bày cửu trù phải bắt chước Lạc thư. Vì sao họ Khổng lại chia làm hai như vậy ? Sách “Cửu kinh biện nghi” của họ Trần xét theo Ngọc xuyên văn tập có nói: “Nếu bảo Phục Hy hoạch quái gốc Hà đồ thì Khổng Tử chỉ cần nói Đồ xuất hiện ở sông Hà, đấng thánh nhân bắt chước theo là đủ rồi. Hà tất phải nói gồm cả Lạc thư vào nữa làm gì? Đã nói: Bắt chước theo Đồ, Thư để làm Dịch thì như thế Đồ , Thư đều phải có từ thời Phục Hy, chứ sao lại phải đợi mãi tới khi vua Vũ trị thủy sau này mới có Lạc thư ? Họ Du tiếp thêm: “Số của Dịch bất quá từ trời 1 đến Đất 10 chỉ có 55 số mà thôi, chứ chưa từng được mệnh danh là Hà đồ, cũng như chưa từng được mệnh danh là Lạc thư. Thế mà Khổng An Quốc dám bảo “Thời Phục Hy có con Long Mã mang Đồ xuất hiện ở sông Hà, nhà vua thấy vậy bèn bắt chước theo để vạch Bát quái, gọi là Hà đồ, và thời Đại Vũ có con thần qui mang Thư xuất hiện ở sông Lạc, nhà Vua thấy vậy bèn nhân đó xếp đặt điểm số để lập thành cửu trù, gọi là Lạc thư. Họ Khổng căn cứ vào đâu vậy ?”.
Chưa hết, Du còn phê bác, chỉ trích nhiều điểm khác: “Thời vua Phục Hy chưa có văn tự. Nhà vua nhân những chấm của Hà đồ, Lạc thư mà hoạch quái, chứ chẳng phải Đồ thư có những số trời sinh sẵn để cho ngài lấy dùng ! Nếu Dịch Hệ từ nói: Ngửa trông tượng ở trên trời, cúi xem phép ở dưới đất, quan sát hình nét của chim muông cùng với sự thích nghi của đất, gần thì lấy ở mình, xa thì lấy ở vật. Do đó mới vạch Bát quái. Vậy thì Phục Hy hoạch quái há chỉ riêng Hà đồ, Lạc thư thôi sao ?”
”Ngoài Dịch ra, không sách nào nói tới Lạc thư”. Thiên Vũ cống chỉ nói tới khơi sông Lạc chứ không nói tới Thư xuất hiện. Khổng An Quốc chú giải Hồng Phạm lấy Cửu trù làm Lạc thư, nên nói: Trời cho vua Vũ Lạc thư. Con thần qui mang Thư xuất hiện, nét chấm bày trên lưng, đếm số từ 1 đến 9. Nhà vua nhân đó xếp đặt điểm số để lập thành cửu trù. Nói như vậy, họ Khổng thực đã dùng số đội 9, đạp 1 của phép cửu cung trong Vĩ thư. Số Cửu cung là số của bọn thuật sĩ chứ đâu có phải số của Dịch! Trong sách Đại Đái Lễ, Minh Đường cổ chế có thuyết 2 – 9, 4 – 7, 5, 3 – 6,1 – 8. Họ Trình chú giải việc bắt chước theo nét chấm, điểm của con rùa vốn bắt gốc từ thuyết họ Khổng. Trương Nam Hiên nói: Trịnh Khang Thành say mê Vĩ thư, lấy Hà đồ làm Bát quái, Lạc thư làm cửu trù. Đó chỉ là điều dơ dáy làm nhớp Thánh Kinh mà thôi. Theo thiển ý của kẻ ngu này, thì Cửu trù mà Cơ tử trình bày không phải Lạc thư. Nếu lấy Cửu trù của Hồng phạm cố ép làm Lạc thư thì của Trung Dung cũng có thể cố ép làm Lạc thư được. Số Cửu cung mà Từ Hoa Tử, cũng như Kiền tạc độ đã nói đó, lúc đầu có ai biết số ấy là của Lạc thư và cũng có ai lấy số ấy làm Hà đồ bao giờ đâu ? Tô Đông Pha nói: Cửu cung chẳng có trong Kinh Dịch, bởi vì số mà Vĩ thư nói đó không phải Dịch số. Chu Tử nói: Đấng thánh nhân nói số thì nói một cách giản lược, cao xa, rộng rãi. Số Cơ, số Ngẫu, từ Trời 1 đến Đất 10 là số tự nhiên, số Đại diễn là số đếm cỏ thi: Kinh Dịch chỉ có hai số đó mà thôi. Kẻ ngu này xin thưa: Nếu bỏ hai số đó ra thì Dịch há chỉ còn lại có cái số gọi là số đội 9, đạp 1 nữa ư ? Bọn Hán Nho thực đã ghép bừa bãi vào đó thôi !”
Tiền Nghĩa Phương đời Nguyên cũng lên tiếng đả kich Hán Nho. Ông chê cả Chu Tử, vì họ Chu đã nghe theo bọn Khổng An Quốc và Lưu Hâm đời Hán. Quốc và Hâm đều bảo Phục Hy bắt chước Hà đồ để vạch quái, hậu thế tin theo hết đời nọ sang đời kia mà chẳng biết tỉnh ngộ. Hiền tài như Chu Tử mà cũng không tránh khỏi quanh co khúc thuyết, cuối cùng cũng chẳng thông hiểu vấn đề!”
Đến cả Chu Tử vốn một tay kiệt hiệt trong làng Nho mà còn chẳng hiểu vấn đề. Thử hỏi những kẻ dung tài, lục lục thử bối, xa tải đấu lượng (Lúc nhúc như lũ chuột, đông đến nỗi lấy xe mà chở, lấy đấu mà đong cũng không hết) thì còn hiểu được gì nữa ?
Họ Tiền còn trách Khổng An Quốc lầm lẫn không phải chỉ có một đối với Dịch. Ông nêu ra luận về chế khí thượng tượng gồm 13 quẻ thì lưới vó một việc do Phục Hy, giao dịch hai việc do Thần Nông và thư khế 9 việc là do Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn. Những sự kiện này ghi chú hết sức phân minh, thế mà Khổng An Quốc khi viết tựa sách cho mình lại đưa thư khế của Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn qua cho Bào Hy. Đức Khổng Tử còn nói: Bào Hy ngửa trông, cúi xét để vạch Bát quái, thế mà An Quốc dám bảo Bào Hy bắt chước Hà đồ để vạch Bát quái ! Lưu Hâm tin thuyết của Khổng An Quốc nên nối gót lý luận. Thực ra, An Quốc lầm ở trước, Lưu Hâm lầm ở sau, hậu thế tin theo, ngàn thu nhất luật! An Quốc chính là người có tội đối với Dịch!”.
Sau khi kết án như vậy, Tiền Nghĩa Phương viện dẫn lời bình luận của Dương Tử Văn tức Dương Hùng về những kẻ “hồ ngôn loạn thuyết” này: “Họ nói lộn xộn, tạp nhạp có hại cho chư thánh” Mặc dù có những Nho gia cao lời chỉ trích như trên, nhưng hậu thế vẫn vui lòng chấp nhận sự võ đoán của Hán nho. Phải chăng đó là do tính dễ dãi của đại chúng? Đại chúng dễ tính chỉ vì đọa tính câu thúc hoặc vì kém trí để tìm tòi kê cứu thì chẳng nói làm gì ! Các nhà tri thức tên tuổi ở nhiều thời mà cũng chẳng có ý kiến đối nghịch nào thì quả thật đáng chê trách. Thái Tây Sơn kể rằng: Truyện ký xưa nay cho rằng Khổng An Quốc, hai cha con Lưu Hướng và Ban Cố đều lấy Hà đồ dành riêng cho Phục Hy, Lạc thư dành riêng cho Đại Vũ. Còn Quan Tử Minh, Thiệu Khang Tiết thì lại lấy số 10 làm Hà đồ, lấy số 9 làm Lạc thư.
Đối với Du Diễm, những Nho gia theo thuyết của An Quốc như Quan Tử Minh chẳng hạn, đều lầm cả! Ông công kích Tử Minh và Lưu Mục: Quan Tử Minh lấy số 55 làm Hà đồ, lấy số 45 làm Lạc thư. Lưu Mục lại đổi ngược hai số, lấy 55 làm Lạc thư, lấy 45 làm Hà đồ. Có thể nói lấy lầm lại đổi lầm vậy !

Tại sao Hán Nho lại lầm lẫn quá vậy?

Chỉ tại họ dùng “Vĩ thư” để chú giải kinh điển. Theo Từ Nguyên thì “Vĩ thư” là một bộ sách dựa vào nghĩa của kinh điển để nói về bùa chú điềm mộng: “Bộ sách này gồm 7 loại: Dịch Vỹ, Thư Vỹ, Thi vỹ, Lễ Vỹ, Nhạc Vỹ, Xuân Thu Vỹ, Hiếu Kinh Vỹ. Vì sách có 7 loại nên còn gọi là “Thất Vỹ”. Sách nói Khổng Tử đã sáng tác, nhưng thực ra sách xuất hiện vào cuối thời Tây Hán. Cùng truyền với Vỹ Thư có “Hà Lạc đồ sấm”. Hán Quang Vũ vốn là người thích sấm vỹ, nên những sách này thịnh hành lắm. Đại Nho như Trịnh Huyền mà cũng đem ra chú giải. Do đó, Kinh Vỹ được đời rất trọng. Đến đời Tống, đồ sấm mới bị cấm. Tùy Dạng Đế sai người đi khắp nơi sưu tầm đem đốt đi. Những bản truyền ngày nay đều không đầy đủ.
Như vậy, Vỹ Thư vốn là một loại sách sấm ký, vu nghiễn, ít có điều xác thực đáng tin. Nó ghi lại những truyện truyền kỳ bí hiểm, thần thoại hoang đường. Ấy chính Vỹ Thư đã để lại biết bao điều sai bậy mà Du Diễm nêu ra để chỉ trích Hán Nho: “Vỹ Thư có nhiều sai bậy, thế mà Hán Nho cho đó là sách của Khổng Tử nên dùng để chú giải Kinh Điển ! Có thể nói là lấy bậy để tập bậy vậy!”
Vậy chủ trương của Du Diễm - kiện tướng số một chống Hán Nho – như thế nào? Ông không cho phép Hán Nho chia Hà đồ, Lạc thư ra làm hai thời khác nhau. Ông căn cứ vào câu nói của Khổng Tử trong Hệ từ để quyết rằng thánh nhân đây chỉ Phục Hy và Phục Hy đã lấy cả hai Đồ, Thư để hoạch quái. Đối với ông ta, Đại Vũ không liên quan gì tới Lạc thư, và Lạc thư không xuất hiện ở thời Hạ Vũ. Ông nói: “Nay ta xét câu nói của Đại truyện: Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắt chước theo. Thánh nhân đây chỉ Phục Hy, Phục Hy khi hoạch quái lấy nguyên tắc từ ở Hà đồ và Lạc thư”.
Còn Tiền Nghĩa Phương - kiện tướng bậc nhì chống Hán Nho - chủ trương của ông ra sao ? Trong một cuộc phỏng vấn về lý do tại sao người xưa nói tới Hà đồ liền nhắc luôn tới Lạc thư mà riêng ông lại loại bỏ Lạc thư ra ngoài, thì ông trả lời: “Hà đồ được vua Phục Hy lấy đem dùng đã hơn ngàn năm, rồi Lạc thư mới xuất hiện. Đức thánh ta (Khổng Tử) lấy cả hai, chẳng qua vì hai việc Long Quy phụ văn xuất hiện ở hai sông Hà Lạc giống nhau. Đến khi đấng thánh nhân bắt chước đem dùng để khai sáng mọi vật, hoàn thành mọi việc thì công dụng của chúng cũng giống nhau. Đó tức là lấy lý mà suy số. Hai việc ấy lại có thể tương thông nhau, cho nên ngài đều nói tới cả hai chứ không phải bảo cứ làm Dịch là phải lấy cả Lạc thư. Vì phát minh Dịch lý nên căn cứ vào Hà đồ chứ không căn cứ vào Lạc thư, đó là điều nên lắm.
Đến đời Minh, một người chủ trương dung hòa xuất hiện. Đó là Hồ Cư Nhân. Ông chủ trương tương tự Du Diễm cho rằng: Đồ thư đều xuất hiện ở thời Phục Hy, nhưng không loại bỏ Lạc thư và Hạ Vũ ra ngoài như Tiền Nghĩa Phương. Ông nói: “Đồ và Thư đều xuất hiện ở đời Phục Hy. Đời thường nói: “Trời cho vua Vũ Hồng Phạm cửu trù”, phải chăng là đến thời vua Vũ, nhân vì việc truyền bá Lạc thư mà phải diễn cái nghĩa của nó thành Cửu Chương đại pháp, chứ chẳng phải đến thời vua Vũ Lạc thư mới xuất hiện. Hoặc có kẻ nói: “Cùng với Qui thư thông dụng ở đời vua Vũ, còn có Huyền khuê là điềm lành”. Nhân vua Vũ diễn ra để làm trù, nên nói: “Trời cho vua Vũ Hồng phạm cửu trù”, lại nói: “Vũ cho Huyền khuê, báo cáo sự thành công”.
Ai đúng? Ai sai? Ai phải? Ai trái? Thật khó trả lời. Một thời đại quá xa xôi, như thời đại Phục Hy, Hạ Vũ, không thể cho phép chúng ta khảo cứu tường tận được vấn đề. Hơn nữa, những sử liệu bác tạp rải rác khắp nơi, thường chịu cái cảnh tam sao thất bổn, không thể có một sự chuẩn xác đáng tin cậy. Chấp nhận ý kiến của Hán Nho chỉ là sự bất đắc dĩ, mà phủ nhận những phản ứng của Hậu Nho lại là một điều chẳng nên. Nếu bảo:
”Từ những cuộc thảo luận nảy sinh ánh sáng” thì trong trường hợp này, quả chưa có một ánh sáng nào khả dĩ phá tan được màn bí mật vẫn bao trùm nguồn gốc của Đồ Thư.

Như vậy, qua phần trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy một điều là: Xuất xứ Đồ thư trong bản văn chữ Hán hết sức mơ hồ và điều này bắt đầu từ thời Tây Hán. Tất cả những luận điểm của Hán Nho và Hậu Nho tuy đã trải hàng thiên niên kỷ, nhưng cho đến nay vẫn chưa hề có một sự sáng tỏ về bản chất đích thực của Hà đồ và Lạc thư. Nhưng sự bí ẩn này không chỉ dừng lại ở cội nguồn xuất xứ củahai đồ hình này mà còn là thời điểm xuất hiện của nó. Chính thời điểm xuất hiện của Đồ thư trong lịch sử văn hóa Hán đã góp phần làm tối thêm sự huyền bí của văn hóa Đông phương và là nguyên nhân chính tạo ra các luận điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu hiện đại liên quan đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành. Nhưng tại sao đám Hán Nho và Hậu Nho sau đó lại có thể tiếp tục tin vào những điều huyễn hoặc tạp loạn như vậy?
Theo người viết cho rằng: Đồ thư không phải đơn giản chỉ thấy nói đến trong Kinh Dịch và những sách sấm vỹ, mà nó còn được bảo chứng trong một câu nói nổi tiếng trong sách Luận ngữ (Thiên Tử Hãn) vốn được coi là của Khổng Tử là:

”Phượng điểu bất tri, Hà bất xuất Đồ. Ngô dĩ hĩ phù”

Với câu này, hầu hết các sách tự cổ chí kim đều hiểu như sau:

”Không thấy chim Phượng Hoàng xuất hiện, chẳng thấy tấm đồ trên sông Hoàng Hà, ta không còn hi vọng nữa”.

Như vậy, cùng với Hệ từ trong Kinh Dịch - vốn được coi là của Khổng Tử - thì chính Luận ngữ đã bảo chứng cho hiện tượng con Long Mã trên sông Hoàng hà một cách hợp lý trong tri thức của con người hơn 2000 năm trước, được bổ sung cho đến bây giờ ! Sự hợp lý này cũng giống như sự hợp lý của Trái Đất vuông trong tri thức của văn minh Âu châu thời Trung cổ vậy. Khi mà tầm mắt của con người không vượt ra ngoài miếng ruộng vuông vức và cái nền nhà bằng phẳng của họ.
Luận ngữ và Hệ từ trong Kinh Dịch đều được coi là cùng do Khổng Tử viết. Khổng Tử lại được coi là người sáng lập Nho giáo, thì đám Hậu Nho làm sao dám bác bỏ với cách hiểu như trên ?!
Tất nhiên, điều này đã làm cho vấn đề trở nên tạp loạn và huyễn ảo trải hàng thiên niên kỷ cho đến tận bây giờ. Bây giờ, bạn đọc tiếp tục tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu hiện đại . Đoạn trích dẫn sau đây, trong sách: “Bí ẩn của Bát quái” (Nxb VHTT 1993. Giáo sư: Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường. Người dịch Trần Đình Hiến, từ nguyên bản tiếng Hán do Nhân dân Quảng Tây xuất bản xã ấn hành), chứng tỏ điều này. Sách viết:

Hà đồ Lạc thư là gì? Từ xưa đến nay có rất nhiều người thử tìm hiểu mong tìm ra câu giải đáp. Đã hình thành môn “Hà đồ học”, nhưng chưa có ai giải đáp được câu hỏi này. Trong thư tịch cổ, Thượng Thư, Cố mệnh là sách ghi chép sớm nhất về Hà đồ. Chép rằng: Sau khi Văn Vương chết, tại trái nhà phía Đông có trưng bày Hà đồ. Cố mệnh truyện gắn Hà đồ với Bát Quái. Phục Hy cầm đầu thiên hạ, có con Long Mã nhô lên mặt nước, do đó, phỏng theo văn của nó mà vẽ Bát quái, gọi là Hà đồ. “Xuân Thu vĩ” thì tán thưởng: “Hà thông với Càn (Trời), nhô lên hoa thần, Lạc chảy vào Khôn (Đất) nhả Địa phù”. Ngay cả Chu Dịch, Hệ từ cũng chép: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư thánh nhân tác chi”.
Từ thời Hán đến thời Tống, luôn có những cuộc tranh luận về Hà đồ Lạc thư. Đến khi Chu Hy biên soạn “Dịch học khởi mông” thì mới có kết luận sơ bộ, còn như thời Tiên Tần có Hà đồ Lạc thư hay không thì vẫn là một câu hỏi”.

Trong sách “Chu Dịch và dự đoán học” ông Thiệu Vĩ Hoa viết:

Thuyết “Hà đồ”, “Lạc đồ” trong cuốn Thượng Thư của Tiên Tần, Luận ngữ của Mạnh Tử và trong Hệ từ đều có ghi lại. Nhưng “đồ “ và “thư” thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến. Trước thời Tống, không ít Dịch gia khi viết về Dịch, rất ít nói đến “Hà đồ” “Lạc đồ”, một vài người có nói đến thì cũng chỉ lướt qua. Phong trào nói đến “Hà đồ” “Lạc thư” vào những năm Thái bình hưng quốc (Niên hiệu Tống Thái Tôn).”

Như vậy – mặc dù từ thời Hán – các đồ hình căn bản của lý học Đông phương như: Hà đồ, Lạc thư, Tiên thiên bát quái, Hậu thiên bát quái đều được nhắc tới theo cổ thư chữ Hán. Nhưng thời gian thực tế lại do các đạo gia Thiệu Khang Tiết và Trần Đoàn công bố vào đời Tống, cách sau đời Hán cả hàng ngàn năm và cách thời điểm xuất hiện theo nội dung bản văn - thời Phục Hy – hơn 5000 năm (?). Qua các đoạn trích dẫn chứng minh ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy tính bất hợp lý về trình tự thời gian theo kiểu đèn cù trong sự xuất hiện các hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành trong các bản văn chữ Hán: Chính vì tính bất hợp lý đó đã khiến nhiều nhận xét và ý kiến khác nhau, thậm chí mâu thuẫn gay gắt, dẫn đến tự phủ định về lịch sử và nội dung của thuyết Âm Dương và Ngũ hành ngay chính trong cổ thư chữ Hán.
Điều rất đáng lưu ý là:
Qua các đoạn trích dẫn trên cho chúng ta thấy - Dù phản bác hay công nhận – thì cả hai phe công kích nhau kịch liệt ấy đều mặc nhiên thừa nhận:

Con Long mã hiện trên sông Hoàng Hà mang Hà đồ và con thần Qui hiện trên sông Lạc Thủy mang Lạc thư.

Cuộc tranh luận bằng những “luận cứ” kiểu này với Hà Lạc, cũng giống như việc các giáo sĩ thời Trung cổ tranh luận xem các thiên thần đã dịch chuyển các vì sao trên bầu trời Trái Đất bằng cách nào. Nghe nói cuộc tranh luận của các giáo sĩ thời Trung cổ về cách vận chuyển các vì sao của các thiên thần, cũng rất ư là sôi nổi và không kém phần gay cấn. Người thì bảo họ chở sao bằng xe ngựa, người cãi lại thì cho rằng họ vác sao trên lưng như nhà nông vác bao bột từ cối xay lúa, kẻ thì nói thiên thần lăn sao trên trời như người ta lăn thùng rượu vậy….
Đương nhiên họ không thể tìm ra một cái đúng từ một căn bản sai lầm.
Ngày nay, tri thức khoa học hiện đại không thể chấp nhận một nguyên lý căn bản có xuất xứ mơ hồ và huyễn hoặc là “Con long mã hiện trên sông Hoàng Hà mang Hà đồ” . Nhưng cũng cho đến ngày hôm nay - khi người viết đang gõ hàng chữ này - thì người ta cũng chưa tìm ra được một thực tại khác để thay thế huyền thoại về Hà đồ.
Vậy bản chất thật của Hà đồ Lạc thư là cái gì? Trước khi chứng minh điều này từ văn minh Lạc Việt, xin bạn đọc tiếp tục tìm hiểu nội dung của Hà đồ qua bản văn cổ chữ Hán.

 

Mời xem các phần khác:

Bài viết cùng chuyên mục