Hà đồ trong văn minh Lạc Việt - Lời giới thiệu - Hoàng Tuấn

Ngày đăng: Thứ năm 26/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Tôi là người Hà Nội, tình cờ được quen biết tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vốn ở trong thành phố Hồ Chí Minh, có lẽ do cái mà đạo Phật gọi là có “duyên”, vì cùng nghiên cứu về Dịch học cổ Á Đông. Nhân dịp ra Hà Nội ông đã đến thăm tôi. Ông đưa cho tôi bản thảo cuốn “Hà đồ trong văn minh Lạc Việt”, yêu cầu tôi đọc và viết cho vài lời giới thiệu.

Tôi rất băn khoăn về đề nghị của ông, phần vì sự hiểu biết nhỏ bé của cá nhân tôi đối với mảng văn hoá sâu rộng này, phần vì mảng đề tài này lại đi sâu vào tìm kiếm cội nguồn từ một nền văn hoá đã mất. Tuy nhiên, đề tài lại cũng là niềm đam mê của tôi từ hàng chục năm nay và tôi đã viết nhiều trang trong một số cuốn sách nghiên cứu về mảng “Lịch toán” trong văn hoá cổ Á Đông, như cuốn “Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can Chi” (đã xuất bản năm 1999 và tái bản nhiều lần trong cacá năm 2000 – 2005), cũng như tập sách viết về “Kinh Dịch và hệ nhị phân” (xuất bản năm 2002), hoặc như tập sách viết về “Lý thuyết tam nguyên - cửu vận cổ” (sắp in). Trong các cuốn sách trên, tôi đã đồng tình với những nhà nghiên cứu uyên thâm đi trước. Như các tác giả Bùi Huy Hồng, Bùi Văn Nguyên, Lê Chí Thiệp, Kim Định, Nguyễn Duyệt .... cho rằng nguồn gốc của kinh Dịch cổ Á Đông vốn là của nền văn minh Việt cổ đã thất truyền, phần còn lại đã bị Hán hoá.


Tuổi nhỏ tôi vốn sống ở quê gốc miền Trung (Thanh Nghệ), tôi đã nhận thấy trong phong tục, tập quán của nhân dân vùng này còn tàng chứa rất nhiều yếu liên quan đến hệ đếm theo Can Chi. Trong kho tàng cổ tích dân gian và cả trong ca dao, tục ngữ còn ẩn dấu nhiều vết tích của nền văn hoá “100 số” của Hà đồ - Lạc thư cổ. Vì thế tôi cũng đã nêu lên ý kiến về nguồn gốc 2 bảng số Hà đồ và Lạc thư cùng những chữ số viết theo cơ chế hệ nhị phân bằng vạch liền và vạch đứt của 64 quẻ Dịch, vốn bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước ở vùng đồng bằng sông Dương tử của dân Bách Việt xưa, đến tận đồng bằng sông Hồng phía nam xa xôi của nước Văn Lang cổ.


Trong cuốn “Kinh Dịch và hệ nhị phân” do nhà xuất bản Văn hoá Thông tin xuất bản năm 2002, chúng tôi đã có dịp trình bày những nguyên lý toán Nhị phân – cơ sở của Dịch cổ còn rất ít nhà nghiên cứu phát hiện và lý giải, nhiều người còn coi đó là cuốn sách “thần bí” và khó hiểu, nên các học giải chỉ đi vào khai thác khía cạnh triết học của Dịch, nên rất ít người đề cập đến hệ toán Nhị phân (systeme binaire). Tuy nhiên, hệ toán này đã được người xưa nghiên cứu rất kỹ ngay từ thời kỳ con người chưa tìm ra chữ viết. Hình thức chữ số đầu tiên là dùng “vạch đứt” và “vạch liền” để ghi hai con số “0” và “1”. Hai ký hiệu đó cũng để chỉ hay loại số khác nhau là các số lẻ (cơ) bắt đầu từ 1 đến 3, 5, 7, 9 .. và các số chẳn (ngẫu) bắt đầu từ số 2 đến 4, 6, 8, 10 .. Chính chúng là nguồn gốc của lý thuyết “Âm dương” sau này và hai ký hiệu “vạch đứt” và “vạch liền” trở thành hai kí hiệu “âm dương” để chỉ sự phân cực của Tạo hoá ngay từ thuở ban đầu. Cổ nhân đã chỉ dùng hai chiếc đũa, một chiếc để nguyên, một chiếc bẻ đôi thành hai nửa bằng nhau và sắp xếp chúng theo những tập hợp từ hai hàng vạch, bốn năm đến sàu hàng vạch để ghi các con số từ nhỏ đến lớn. Từ đó đã phát hiện ra nguyên lý của hệ toán “Nhị tiến”, cùng phép ghi các con số của hệ này bằng hai ký hiệu “Âm dương”. Người xưa đã nhận ra rằng trong “tượng” của các số nhị phân tàng chứa nhiều quy luât phổ biến của thời tiết, nắng mưa và cả của mọi sự vật trong vũ trụ, kể cả con người. Vì vậy, tượng số nhị phân cùng với hai bảng số Hà đồ và Lạc thư đã là nền tảng của Lịch toán và nhiều môn dự báo cổ. Hà đồ là cơ sở toán học của lý thuyết Âm Dương – Ngũ hành mà những người không hiểu cho là “mê tín”, thực ra chỉ là một khái niệm cổ dùng để chĩ một hệ toạ độ không gian . Năm điểm đại diện cho 5 hướng của không gian, mang tính “số học” và triết học rất thâm thuý. Sự phân cực của vạn vật diễn ra trong không gian mà con người quan sát được. Không gian đó chỉ có bốn phương chính và một phương gốc là Trung tâm (cộng tất cả là 5 phương) mà thôi. Năm hướng chính đó ứng với 5 số đếm đầu tiên, cũng tương ứng với 5 chủng loại vật chất cơ bản trên mặt đất là Nước, Lửa, Đất, Kim loại và thế giới sinh vật (tượng trưng là Mộc). Cổ nhân cũng đã dùng tên 5 chủng loại vậ chất cơ bản này để đặt tên cho 5 hành tinh mà mắt người nhìn thấy trên bầu trời là sao Thuỷ, sao Kim, sao Thổ, sao Hoả và sao Mộc. Như vậy Ngũ hành không chỉ tượng trung cho 5 hành tinh vận động trên bầu trời mà còn tượng trưng cho 5 lực lượng lớn tồn tại trên mặt đất, 5 loại “Thiên Khí” của vũ trụ luôn vận động, chuyển hoá lẫn nhau, tạo nên mọi sự biến hoá của khí hậu và mọi thịnh suy của thời vận. Nó mang tính chất một “Hệ tiên đề” vừa có nội dung toán học vừa có nội dung triết học chặt chẽ của người xưa. Hệ này được ghi tóm tắt theo quy chiếu trong bảng ký hiệu cổ gọi là bảng Hà đồ (tức bản ghi vị trí 10 số dếm bằng châm đen và chấm trắng từ thời chưa có chữ viết).


Không rõ bảng Hà đồ này xuất hiện từ bao giờ, chỉ thấy Khổng An Quốc, một học giả đời Hán là cháu đời thứ 12 của Khổng tử viết ra câu đầu tiên. Ông này tìm thấy bức đồ đó trong một cuốn sách cổ đấu trong vách nhà họ Khổng. Những học giả sau này viết về kinh Dịch cứ dựa theo đó mà lý giải và cũng chưa thấy sách nào phát hiện đó chính là một hệ Tiên đề về toạ độ không gian cổ.
Trong Hà đồ, 10 số đếm của hệ thập phân tạo thành 5 cặp số “sinh-thành” đầu tiên của Tạo Hoá. Thực ra chỉ có 5 số ‘sinh” (1-2-3- 4-5) là năm số đã tạo thành hệ Toạ Độ không gian đầu tiên của cổ nhân mà thôi.


Bảng Lạc thư, thực chất là một ma phương cơ sở (bậc ba), đã miêu tả các con số biến chuyển đến chỗ cân bằng (mọi phương hướng đều bằng 15), đồng thời bổ sung “không gian 8 hướng”, (không phải chí có 4 hướng chính như Hà Đồ).


Những dẫn liệu mà tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã có công sưu tầm và nêu trong cuốn sách này về những giải thích rối rắm trong nhiều sách cổ Trung Quốc viết về Hà đồ đã chứng tỏ quá đủ về nguồn gốc ngoại lai của bảng số này du nhập vào nền văn hoá Hán.


Nước Việt Nam nhỏ bé được khôi phục lại sau này, mặc dầu đã là một nước độc lập sau hàng ngàn năm bị đô hộ, nhưng vẫn phải triều cống phương Bắc đề cầu sự bình yên, nên những nhà sử học đầu tiên không bao giờ dám viết bịa ra những chuyện hoang đường để trêu tức một nước láng gíềng hùng mạnh. Vì vậy những ghi chép ít ỏi của họ chắc chắn là rất thận trong, chỉ dám ghi một phần sự thật rằng:

“... nước ta dựng nước từ thời họ Hồng Bàng, với vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất (Tức năm 2879 trước Công nguyên, tính đến năm 2006 này thì đã 4885 năm. Theo Đại Việt Sử Ký toàn thư của sử gia đời Trần là Lê Văn Hưu, sau này được Ngô Sĩ Liên đời Lê biên soạn lại).
Cổ sử Trung Quốc cũng dã viết:

“Vào thời vua Nghiêu (năm 2357 trước CN) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc con sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con Thần Quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại gọi là “lịch rùa”.

(Lê Chí Thiệp: Kinh dịch Nguyên thuỷ - Nhà Xuất Bản Văn học 1998, tr.34)

Sách “Thông Chí” của Trịnh Tiều xưa cũng đã ghi rõ việc thị tộc Việt Thường tặng lịch Rùa cho vua Nghiêu. Như vậy là “lịch rùa” của dân tộc Việt Thường đã xuất hiện cách năm 2006 này là 4363 năm.
Chữ Khoa Đẩu mà người Trung Quốc gọi là hình con nòng nọc, tức gồm những chấm đen hay trắng nối với những vạch và cả những chữ viết ngoằn ngoèo trông giống như những con nòng nọc. Phải chăng lịch ghi trên mai rùa đem tặng vua Nghiêu xưa chính là hai bảng số Hà đồ, Lạc thư cùng Tiên thiên, Hậu thiên bát quái ghi bằng các chấm đen, chấm trắng cùng hệ thống chữ số nhị phân ghi bằng cách vạch liền và vạch đứt? Nếu không thì sao sử cố Trung Quốc có thể ghi “Lịch rùa ghi từ thời vũ trụ mới hình thành cho đến sau này”. Điều đó chỉ chứng minh một điều rõ ràng là dân tộc Việt Thường đã biết làm lịch và có chữ khoa đẩu rất sớm để phục vụ nền văn minh lúa nước đã tồn tại trước đó hàng ngàn năm. Theo cụ Nguyễn Văn Tố thì “Việt Thường” là chỉ cái “xiêm” của dân trồng lúa nước. Thời cổ đại chưa có bang giao, nên người Hán gọi luôn trang phục của dân Việt ở phía nam mặc “xiêm” bằng cái tên Việt Thường. Sử sách sau này cứ thế chép lại. (Tên Việt Thường sau này chỉ còn là một “bộ” của nước Văn Lang).
Chính vì Hà đồ và chữ số nhị phân Bát quái là từ một nền văn hoá khác du nhập vào Trung Quốc, nên các tác giả của nền Hán học cổ Trung Quốc giải thích không thống nhất về các đồ hình này trong Dịch học. Đến một học giả lớn thời hiện đại của Trung Quốc là Quách Mạt Nhược – nguyên viện trưởng Viện Hàn Lâm khoa học Trung Quốc – mà vẫn cho 8 chữ số bát quái là thần bí.
Về chữ khoa đẩu, chính Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau:

“...thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truỵên, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất dấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả lại cho họ Khổng. Lối chữ Khoa đẩu bỏ từ lâu, người đương thời không ai đọc được nữa, phải lấy sách nghe được ở Phục Sinh khảo luận văn nghĩa, định những chỗ đọc được, dùng lối chữ lệ cổ viết sang thẻ tre, nhiều hơn sách của Phục Sinh hai mươi lăm thiên ...” (Khổng Tử: Kinh Thư - Bản dịch của Trần Lê Sáng và Phạm Kỳ Nam – Nhà XB. VH-TT Hà Nội -2004, Tr.228-229).

Điều này thêm một chứng minh rằng: Khổng tử chính là người đã kế thừa được một phần nền văn hoá bản địa của dân Bách Việt xưa qua chữ khoa đẩu để làm nên đạo Nho của ông.
Trong sách Thuỷ Hử sau này cũng miêu tả một đoạn như sau:

“...Khi các vị anh hùng Lương Sơn Bạc phân ngôi thứ xong, thấy có một khối lửa lớn lặn xuống dưới đất phía chính Nam, bèn đào lên để tìm. Khi đào tới ba thước chợt thấy một bia đá chạm chữ “thiên thư” ở mặt giữa và hai bên. Tống Giang sai đem về làm lễ tạ đàn, rồi sáng hôm sau đưa tiền công quả để tặng cho các đạo tràng và đem bia đá ra xem..., thấy chữ ngoằn ngoèo khác hẳn lối thường, không còn ai biết nghĩa lý ra sao cả! Sau có một đạo tràng họ Hà tên Diệu Thông nói với Tống Giang rằng: “Tổ phụ nhà tôi khi xưa có một bộ sách chuyên để cắt nghĩa các lối chữ “thiên thư”. Đây là lối chữ Khoa Đẩu, tôi có thể hiểu được, xin ngài để tôi dịch giúp”.

Như vậy chữ khoa đẩu đã thực sự tồn tại và chắc chắn chữ đó đã ghi lại những tư tưởng lớn của một nền văn minh trước đó. Kể cả các kinh sách mà sau này Khổng Tử biên soạn lại bằng chữ Nho xưa cũng là dựa vào những bộ sách bằng chữ khoa đẩu của một nền văn minh đã bị mai một. Vì vậy người Trung Quốc xa xưa đọc được loại chữ này, mỗi khi giải mã được một vấn đề hay một mảng nào đó trong kinh Dịch hay Lịch toán cổ, mới cho rằng nhờ Thiên Thư (sách trời) mà hiểu được. Kể cả Trần Đoàn, một học giả đời Tống, khi đề xướng khoa Tử Vi, đều nói là dựa vào “Thiên thư” của Trời cho (!).
Ngay sách “Địa lý toàn thư” nổi tiếng của Lưu Bá Ôn cũng ghi rằng:

“Lưu công học được thuật Phong Thuỷ từ con gái của Ngô Cảnh Loan. Ngô Cảnh Loan học được từ Hy Di Trần Đoàn. Trần Đoàn học được từ Tăng văn Dịch. Tăng văn Dịch học được từ Dương Quân Tùng. Dương Quân Tùng và Tăng Câu Kỷ vốn là chỗ thâm giao... Vào năm cuối đời Đường Hy Tông có loạn Hoàng Sào đánh tới Kinh đô Tràng An, hai người nhân lúc chiến tranh mới đánh cắp được “Quốc nội Thiên cơ thư” trong Quỳnh Lâm khố. Học xong mới biết được sách này nguyên của Khâu Đình Hàn vốn người huyện Văn Hỷ tỉnh Hà Đông, từng được “Thần” truyền cho kinh sách nên mới thông hiểu đạo lý “âm dương”.

Rõ ràng là những người giỏi thuyết âm dương và những ứng dụng của nó ở Trung Quốc xưa, phần nhiều do “thần tiên” truyền lại, hoặc do tìm được sách thần mà biết. Những vị thần tiên đó chẳng qua chỉ là những người đã am hiểu họặc đọc được chữ Khoa đẩu cổ của nền văn hoá Văn Lang mà thôi.
Nhà dân tộc học Trung Quốc là Vương Đồng Linh, trong cuốn “Trung Quốc dân tôc học” của ông có ghi:

“Dân Tam Miêu – Bách Việt xưa gồm: Âu Việt có Miến, Thái, Lào; Miêu Việt có Mèo, Mán; Lạc Việt có Việt, Mường. Tất cả dân Miêu này là Bách Việt, còn gọi là Viêm Việt (Vì họ biết chế tác nhiều thứ từ lửa nên gọi là “Viêm”). Tất cả họ, nhất là ngành Việt đã cùng Hoa tộc làm nên Nho giáo”.

Như vậy là đã quá rõ. Những học giả uyên bác của Trung Quốc cũng đã xác nhận điều này. Ngày nay 52 chủng tộc đang chung sống trên giải đất Việt Nam hiện đại mà tuyệt đại bộ phận rất có thể đã tồn tại hoà bình cùng nhau từ rất xa xưa trong những dòng “Bách Việt” cổ, dù họ đều đã qua sự lai tạp khá nhiều suốt chiều dài lịch sử. Hầu như không hề có sự mâu thuẫn sắc tộc trong cộng đồng dân cư này, mà chỉ thấy có lịch sử chống ngoại xâm cùng nhau. Rất nhiều các vị anh hùng chống ngoại xâm trong lịch sử đã sát cánh bên cạnh thủ lĩnh người Việt thuộc các bộ tộc Mường, Nùng, Tày, Thái ... Không có chung nguồn văn hoá 100 số từ cổ họ không thể có sự chung sống hoà bình từ hàng ngàn năm nay như vậy.
Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã bỏ nhiều công phu để tìm hiểu cả những ứng dụng của Hà đồ trong khoa Phong thuỷ và Tử vi. Ông đã giải mã nhiều vấn đề vẫn còn nằm trong vòng bí hiểm. Tài liệu thật phong phú, chắc chắn sẽ giúp ích nhiều cho những bạn đọc quan tâm.
Tuy nhiên, theo cá nhân tôi, muốn hiểu thật sâu và chính xác không những là bảng Hà đồ và Lạc thư mà cả những ký hiệu số trong mô hình Bát quái và trùng Quái, người nghiên cứu trước tiên phải tinh thông cách đọc các con số viết dưới dạng nhị tiến pháp hiện đại (có thể dưới dạng hai số “0” và “1”), thì mới có thể lý giải nó một cách khoa học, tránh được những suy đoán chủ quan, không hợp với những nguyên lý “toán nhị tiến” mà cổ nhân đã phát hiện ra từ hàng ngàn năm trước. Hy vọng tương lai tác giả sẽ bổ sung thêm để làm sáng rõ những chỗ tối nghĩa chưa thoả đáng.
Trong khuôn khổ một số trang giới thiệu không thể nói hết giá trị cuốn sách cùng công lao sưu tầm rất đáng khâm phục của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Chắc chắn cuốn “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt” sẽ đem đến cho bạn đọc ham nghiên cứu nhiều giải đáp mới đầy hấp dẫn.

Người viết xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Viết tại Mỹ Đình – Hà Nội
Ngày 2/12/2006
Hoàng Tuấn

 

Mời xem các phần khác:

Bài viết cùng chuyên mục