Rễ địa hoàng chữa tăng huyết áp

Ngày đăng: 10/09/2013 00:00:00

Địa hoàng thuộc họ hoa mõm chó, là một cây thảo có rễ củ mập, một cây thuốc quý trong y học cổ truyền. Rễ địa hoàng thu hái về, rửa nhanh, phân loại củ to, nhỏ để riêng, đem sấy từ từ đến khi củ mềm rồi phơi hay sấy nhanh đến khô. Loại củ to dùng ngay (dạng sống), tên thuốc là sinh địa. Dược liệu sau khi được chế biến có tên thuốc là thục địa.


Thục địa có vị ngọt, mùi thơm, có tác dụng tư âm, bổ thận, dưỡng huyết, làm đen râu tóc. Liều dùng hằng ngày từ 9 - 15g. Dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong những trường hợp sau:



Chữa suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, tiêu chảy mạn tính ở người cao tuổi: thục địa 16g; sơn thù, hoài sơn mỗi vị 12g; trạch tả, đan bì, phục linh, phụ tử chế mỗi vị 8g; nhục quế 4g. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.



Chữa hen phế quản: thục địa 16g; kỷ tử, phụ tử chế mỗi vị 12g; sơn thù, hoài sơn, phục linh mỗi vị 8g; cam thảo, nhục quế mỗi vị 6g. Sắc uống trong ngày.












Rễ địa hoàng chữa tăng huyết áp 1


Cây và củ rễ địa hoàng.




Chữa tăng huyết áp: thục địa 16g, hoài sơn 12g; sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, đương quy, bạch thược mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.



Chữa chứng âm hư, tinh huyết suy kém, mỏi mệt, đau lưng, mỏi gối, khát nước, nước tiểu vàng, da hấp nóng, di mộng tinh: thục địa 150g; táo nhục, hoài sơn mỗi vị 95g; trạch tả, khiếm thực mỗi vị 70g; thạch hộc 60g; tỳ giải 50g. Thục địa chưng giã nát, cho vào mật ong, cô đặc. Các vị kia tán nhỏ. Tất cả làm thành viên, mỗi lần uống 16g, ngày 2 lần.



Rượu bổ thận, tăng cường chức năng sinh dục và khả năng thụ tinh của nam giới: thục địa 40g; ngài tằm đực khô 100g; dâm dương hoắc 60g; kim anh, ba kích mỗi vị 50g; ngưu tất, sơn thù mỗi vị 30g; khởi tử, lá hẹ mỗi vị 20g. Bào chế thành 2 lít rượu thuốc, có thêm đường kính.



Chữa viêm tai giữa mạn tính: thục địa, quy bản mỗi vị 16g; hoàng bá, tri mẫu mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc làm viên uống mỗi ngày 18g chia 3 lần (uống kéo dài).



Chữa viêm quanh răng (Lục vị hoàn gia giảm): thục địa, hoài sơn, ngọc trúc, thăng ma, bạch thược, kỷ tử mỗi vị 12g; sơn thù, tri mẫu, hoàng bá, trạch tả, đan bì, phục linh mỗi vị 8g. Sắc uống trong ngày.



Chữa di tinh: thục địa 16g; hoàng bá, tri mẫu, quy bản, kim anh, khiếm thực, liên nhục, tủy lợn mỗi vị 12g. Làm viên, mỗi ngày dùng 30g.



Chữa bế kinh, vô kinh: thục địa, đảng sâm mỗi vị 16g; bạch thược 12g; xuyên khung, đương quy, hoàng kỳ mỗi vị 8g. Sắc uống trong ngày. Hoặc thục địa, cỏ nhọ nồi mỗi vị 16g; kỷ tử, hà thủ ô, sa sâm, long nhãn, ích mẫu mỗi vị 12g. Sắc uống.

Bài viết cùng chuyên mục

Tê giác đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Chấm dứt sử dụng sừng tê giác như một vị thuốc là một việc cấp bách. Tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc phản ánh sai thực tế những tác dụng của...

Tê giác đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Chấm dứt sử dụng sừng tê giác như một vị thuốc là một việc cấp bách.

Theo y học cổ truyền, những thực phẩm màu đen rất có lợi cho sức khoẻ, nhất là vào mùa Đông.

Mùa thu đông, nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm chênh nhau rất nhiều, độ ẩm cũng giảm dần nên dẫn đến khô hanh.

Quả dứa có nhiều nước, vị ngọt pha chua rất ngon, mùi thơm đặc biệt, là một trong các thứ hoa quả tươi được nhiều người ưa chuộng.

Dưa hấu vốn có quê hương ở châu Phi. Do giống dưa này được đưa sang Trung Quốc từ phía Tây Vực nên người Trung Quốc gọi là "dưa Tây".

Quả quýt trông rất đẹp mắt, vừa là loại quả ngon vừa là vị thuốc quý. Múi quýt ăn ngọt thơm, giàu chất bổ. Cổ nhân từng gọi quýt là "ngọc màu vàng", từng có nhiều bài thơ, bài văn nói về...

Việc ăn lê giúp nhuận phổi, giáng hỏa, sinh tân dịch, dưỡng huyết, chữa khản tiếng, nhuận tràng, chữa nhọt, giã rượu với hiệu quả khá cao.

Chuối tiêu từng được mệnh danh là "quả trí tuệ".

LTS: "Từ xa xưa, trái cây - loại thực phẩm rất dồi dào ở Việt Nam - đã được các thầy thuốc sử dụng làm thuốc. Khi được dùng chữa bệnh, nó chẳng những ít gây tác dụng phụ như tân dược mà còn có...