ỨNG DỤNG CÁC DÒNG SINH ĐIỆN TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ - DÒNG ĐIỆN SINH HỌC CỦA HỆ KINH LẠC 3.1

Ngày đăng: Thứ hai 15/07/2013 12:00:00 (GMT +7)

Chương ba

Những ứng dụng thực tiễn của việc khảo sát hiệu điện thế

sinh học hệ kinh lạc


A.
Điều tra cơ bản:

Muốn ứng dụng bất cứ 1 loại máy, 1 dụng cụ, 1 phương pháp chẩn đoán, điều trị bệnh nào trên người ; trước hết , đều phải khảo sát xem nó có làm tổn hại sức khoẻ của súc vật bình thường không, sau đó phải nghiên cứu xem nó có chẩn đoán, hoặc điều trị được bệnh cho súc vật không. Nếu nghiên cứu trên súc vật đạt được kết quả mong muốn, mới được khảo sát trên người khoẻ mạnh để thu thập những thông số cần thiết do máy, hay dụng cụ, hoặc phương pháp chẩn đoán, điều trị tác động lên người bình thường, không bệnh tật.

Sau các bước điều tra cơ bản trên, mới tới bước nghiên cứu chẩn đoán, điều trị trên người bệnh.

Tuy nhiên, với loại máy hay dụng cụ hoặc phương pháp chẩn đoán, điều trị chắc chắn vô hại với sức khoẻ thì có thể bỏ qua giai đoạn khảo sát trên súc vật.

Máy đo HĐT sinh học của chúng tôi hoàn toàn vô hại cho sức khoẻ, vì máy không đưa dòng điện ngoài vào cơ thể, còn dòng sinh điện của cơ thể sau khi đi qua máy đo lại quay trở về cơ thể. Mặt khác, hệ kinh lạc của súc vật có nhiều chỗ khác với hệ kinh lạc của người, nên chúng tôi bỏ qua giai đoạn điều tra trên súc vật.

A.1. Chọn đối tượng cho điều tra cơ bản:

Đối tượng chúng tôi chọn để điều tra cơ bản là những vận động viên (VĐV) của các bộ môn thể dục, thể thao; những VĐV này phải đang luyện tập bình thường. Đây là những đối tượng có sức khoẻ tốt và rất dẻo dai trong luyện tập.


A.2. Chọn huyệt khảo sát:

Chúng tôi chọn 24 huyệt Nguyên để khảo sát trước, vì huyệt Nguyên là huyệt chính của mỗi đường kinh, lại là nơi Nguyên khí của cơ thể đi qua và dừng lại, nên có mối quan hệ khăng khít với đường kinh chủ quản nó.

 

A.3. Thao tác kỹ thuật:

Chúng tôi thực hiện đầy đủ những yêu cầu về máy và các thao tác kỹ thuật để bảo đảm tính đồng nhất, như đã nói trong phần A và phần C (từ mục C.1 đến mục C.4) của chương hai.

 

A.4. Nhận xét về kết quả của điều tra cơ bản:

Chúng tôi đã đo được HĐT của 24 huyệt Nguyên trên 136 VĐV ( 65 VĐV Nam, 71 VĐV Nữ), thuộc 6 bộ môn: Thể dục dụng cụ, Aerobic, Karate, Tân thủ Wushu, Wushu Talu, Vật.

 

A.4.1. Các đặc điểm của HĐT 2 pha:

Vì chưa tìm được hàm số đếm số pha dương pha âm hay hàm số đếm số chu kỳ trong thời gian đo, cũng như hàm số tính diện tich mỗi pha; nên chúng tôi chưa phân tích được những đặc tính có quy luật của 2 pha dương âm, tần số và diện tích các pha. Những vấn đề này đành lưu lại, khi nào chúng tôi tìm được các hàm số này, chúng tôi sẽ làm tiếp.

Nhưng chỉ lấy việc thống kê phân tích các trị số hiệu điện thế đo cách nhau mỗi khoảng thời gian 0.25 giây, kéo dài 2 phút; dựng chúng thành điện đồ HĐT trong thời gian đo. Sau đó tính HĐT trung bình của mỗi huyệt và HĐT trung bình của cả 24 huyệt để so sánh, phân tích; chúng tôi đã thấy nhiều quy luật đáng quan tâm.

A.4.1.1. Sự khác nhau giữa điện huyệt đồ với điện não đồ và điện tâm đồ:

Điện đồ của hiệu điện thế chúng tôi ghi được khác với điện não đồ và điện tâm đồ cả về trị số hiệu điện thế, tần số và hình dáng. Qua khảo sát thử trước khi tiến hành nghiên cứu chúng tôi thấy:

Biên độ hiệu điện thế rất cao từ mươi mV đến năm, sáu trăm mV.

Tần số rất thấp, nếu khoảng cách thời gian giữa 2 lần đo liên tiếp = 0,25” thì ghi được các điện đồ có tần số trung bình =1,8-1,1 hz (tính bằng đo thủ công trên điện đồ), nếu khoảng cách giữa 2 lần đo liên tiếp = 0,5” các điện đồ ghi được có tần số = 0,32-0,032 Hz, nếu khoảng cách giữa 2 lần đo liên tiếp = 1”các điện đồ ghi được có tần số = 0,14-0,016 Hz.

Hình dạng điện đồ thường không đều, ít khi gặp các chu kì có hình dạng giống hệt nhau như điện tâm đồ. Ở cả pha âm và pha dương thường có sóng phụ.

A.4.1.2. Các hiệu điện thế trung bình (HĐTTB):

Hai, ba lần đo đầu trị số đo được chưa ổn định, nên chúng tôi bỏ 5 lần đo đầu không lấy vào thống kê.

Đo HĐT với khoảng cách 0,25 giây mỗi lần đo, trong 2 phút mỗi huyệt sẽ đo được 480 trị số HĐT, bỏ 5 lần đo đầu còn 475 trị số.

Như vậy:

HĐTTB của mỗi huyệt Nguyên trên mỗi VĐV là trung bình cộng của 475 trị số HĐT đo được trên mỗi huyệt.

HĐTTB của mỗi huyệt Nguyên trên 136 VĐV là trung bình cộng của 475*136 = 64.600 trị số HĐT đo được tại huyệt Nguyên ấy trên cả 136 VĐV.

HĐTTB của 24 huyệt Nguyên trên mỗi VĐV là trung bình cộng của 475*24 = 11.400 trị số HĐT đo dược trên cả 24 huyệt.

HĐTTB của tất cả các số đo là trung bình cộng của 11.400*136 = 1.550.400 trị số HĐT đo được trên cả 24 huyệt Nguyên của cả 136 VĐV.

Trên cả 136 VĐV, HĐTTB của mỗi huyệt Nguyên và hiệu điện thế trung bình của cả 24 huyệt Nguyên trung bình theo bảng dưới :

 

Ở bảng trên, trị số T tính theo mẫu điều tra có các biến số cùng là hiệu điện thế (biến số liên tục), trên cùng 1 đối tượng, trong cùng 1 thời điểm, chúng tôi thấy: có 22 huyệt sự chênh lệch hiệu điện thế của huyệt so với hiệu điện thế trung bình chung của 24 huyệt có ý nghĩa thống kê, với T >3; chỉ có huyệt Đại lăng phải và Khâu khư trái là không có ý nghĩa thống kê, T <2, có nghĩa: 2 huyệt này không chênh lệch rõ ràng với hiệu điện thế trung bình chung, còn 22 huyệt khác có sự chênh lệch rõ ràng, chúng đều ở thế cân bằng động.


A.4.1.3. Cân bằng động và mất cân bằng động:

Nếu lấy hiệu điện thế trung bình chung của cả 24 huyệt cộng trừ 2 lần độ lệch chuẩn để có 95% trị số hiệu điện thế nằm trong khoảng lệch này (chúng tôi coi đây là giới hạn cân bằng động của hoạt động điện trong cơ thể người khỏe mạnh), thì 3.264 huyệt Nguyên của cả 136 VĐV chỉ có 52 huyệt mất cân bằng động, số huyệt ở trong thế cân bằng động (CBĐ) đạt tới 98.4% .

Nếu lấy HĐTTB chung của cả 24 huyệt Nguyên cộng trừ 1 lần độ lệch chuẩn để có 68% trị số hiệu điện thế nằm trong giới hạn CBBĐ thì số huyệt mất CBĐ của 136 VĐV chỉ có 494 huyệt, còn 2.770 huyệt ở trong thế CBBĐ, đạt tới  85% .

Hai tỉ lệ của các huyệt ở trong thế CBĐ lớn hơn trị số sác xuất 95% và 68% khá cao, chứng tỏ 136 VĐV này là người khỏe mạnh (đúng thế, họ vẫn đang luyện tập bình thường).

Các dữ liệu của điểm (A.4.1.2)(A.4.1.3) là thành công chính của lần điều tra cơ bản này, vì nó cho biết : Các VĐV khoẻ mạnh bình thường nên 24 HĐTTB của 24 huyệt Nguyên có trên 98% ở trong giới hạn CBĐ của HĐTTB cả 24 huyệt với độ lệch chuẩn 2σ, và trên 85% ở trong giới hạn CBĐ vói độ lệch chuẩn 1σ.

Thành công này có rất nhiều giá trị thực tiễn trong chẩn đoán và chữa bệnh. Nó là cơ sở để xây dựng những mô hình chẩn đoán sức khoẻ và điều trị bệnh, dựa trên sự CBĐ hay mất CBĐ của HĐTTB 24 huyệt Nguyên.

 

+ Chẩn đoán HĐTTB của 24 huyệt Nguyên không bệnh :

- Bảng thống kê HĐTTB 24 huyệt Nguyên của 1 người không bệnh phải có trên 98% huyệt ở trong giới hạn CBĐ của HĐTTB cả 24 huyệt với độ lệch chuẩn 2σ, và trên 85% ở trong giới hạn CBĐ vói độ lệch chuẩn 1σ.

- HĐTTB của huyệt nào ở dưới giới hạn cao, trên giới hạn thấp của HĐTTB cả 24 huyệt với độ lệch 1σ là huyệt đó không bệnh. Có 24 HĐTTB ở dưới giới hạn cao, trên giới hạn thấp của HĐTTB của cả 24 huyệt với độ lệch 1σ là HĐT của 1 cơ thể khoẻ mạnh.

- HĐTTB của huyệt nào ở giữa giới hạn cao của 2 độ lệch 1σ và 2σ, không kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ hay triệu chứng bệnh lý trên lâm sàng , là huyệt đó không bệnh nhưng thiên về dương mạnh .

- HĐTTB của huyệt nào ở giữa giới hạn thấp của 2 độ lệch 1σ và 2σ, không kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ hay triệu chứng bệnh lý trên lâm sàng, là huyệt đó không bệnh nhưng thiên về Âm mạnh.

 

+ Chẩn đoán HĐTTB của 24 huyệt Nguyên có không bệnh:

- Nếu bảng thống kê HĐTTB 24 huyệt chỉ có HĐTTB của 1 huyệt mất CBĐ với độ lệch 2σ nhưng lại kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ, hay triệu chứng bệnh lý trên lâm sàng, là huyệt đó có bệnh, hoặc kinh mạch hay tạng phủ chủ quản huyệt đó có bệnh. Chưa đến mức là bệnh của toàn thân.

Nếu có nhiều HĐTTB mất CBĐ chỉ vói độ lệch 2σ, hay với cả 2 độ lệch thì không cần kèm dấu hiệu bệnh lý khác cũng vẫn là toàn cơ thể có bệnh.

- Nếu HĐTTB chỉ mất CBĐ với độ lệch 1σ, không kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ, hay triệu chứng bệnh lý trên lâm sàng, cũng vẫn có thể đã nhiễm bệnh nhưng còn đang trong thời kỳ ủ bệnh.

- Nếu HĐTTB mất CBĐ kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ  hay triệu chứng bệnh lý, nhưng không có triệu chứng toàn thân, là chỉ mắc bệnh ở một vài kinh lạc, tạng phủ nào đó.

- Nếu HĐTTB mất CBĐ kèm dấu hiệu bệnh lý trên điện đồ,  hay triệu chứng bệnh lý toàn thân, hoặc có rất nhiều huyệt mất CBĐ đều là toàn cơ thể mắc bệnh.

 

A.4.1.4. So sánh trị số HĐT giữa nam và nữ:

Trị số HĐT trung bình chung 24 huyệt của nam lớn hơn nữ 3.59mV, với trị số T có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, nhiều dữ liệu khác trị số HĐT trung bình của nam cũng lớn hơn nữ, với ý nghĩa thống kê rất cao:

Trong bảng trên chỉ có số HĐT+ của nữ cao hơn nam, số HĐT- của nam cao hơn nữ, nhưng đều không có ý nghĩa thống kê.

Phải chăng sự chênh lệch này phản ảnh đặc điểm nam thuộc phái mạnh, năng hoạt động, gánh vác nhiều trọng trách, nên cần có 1 hiệu điện thế luôn thay đổi (2 pha) lớn hơn nữ ?

A.4.1.5. So sánh HĐT giữa các cặp cùng tính:

Bản thống kê dưới đây cho thấy nhiều cặp HĐT đại diện cho 2 dữ liệu cùng 1 tính, lại có HĐT chênh lệch nhau rõ rệt, có trị số T rất cao.


+ Chênh lệch giữa tính âm và tính dương :

Ta thấy cặp số lần đo được HĐT+,  hay HĐT- và cặp HĐT trung bình của 12 huyệt Nguyên thuộc kinh âm , hay 12 huyệt Nguyên thuộc kinh dương; tuy chúng đại diện cho 2 dữ liệu khác nhau, nhưng lại có sự tương đồng kỳ lạ. Số lần đo được HĐT- nhiều hơn HĐT+ 3 lần, tương ứng với HĐT trung bình của 12 huyệt Nguyên âm cũng cao hơn huyệt Nguyên dương 1.19mV. Ở bảng chênh lệch giữa nam với nữ, 2 loại chênh lệch này ở nam cũng cao hơn nữ.

Phải chăng vì trong sinh học, để duy trì sự sống và phát triển, sinh vật cần được dinh dưỡng và chuyển hoá thức ăn đã hấp thu được. Nên dòng sinh điện 2 pha phải có sóng âm lớn hơn sóng dương, vì sóng âm kich thích chuyển hoá dinh dưỡng mạnh hơn, còn sóng dương kích thích hoạt động chức năng mạnh hơn.

Điều làm ta ngạc nhiên hơn nữa: hiện tượng vừa phân tích, không chỉ phù hợp với các quy luật sinh lý học hiện đại; mà còn phù hợp với cả học thuyết Âm Dương của Y học cổ truyền, vì Âm chủ sinh, Dương chủ trưởng (lớn lên); Âm là chất, Dương là khí; Âm chủ tĩnh, Dương chủ động; nên sóng điện âm và HĐT của các huyệt âm phải lớn hơn sóng điện dương và HĐT của các huyệt dương.

+ Chênh lệch giữa HĐT ở huyệt chân và HĐT ở huyệt tay:

Cặp HĐTTB của các huyệt Nguyên ở chân lớn các huyệt ở tay 1.49mV. Chênh lệch này không phản ảnh các quy luật của sinh lý học hay Y học cổ truyền; nó phản ảnh quy luật về truyền dẫn điện, vì tiết diện của chân lớn hơn của tay nhiều lần, nên điện trở của chân thấp hơn của tay, do đó HĐT đo được lớn hơn. Mặt khác, do tiết diện chân lớn hơn tay nên các đường sức của ĐTTHTB toàn cơ thể truyền qua nhiều hơn, do đó HĐT đo được lớn hơn.

Kết hợp với bảng chênh lệch HĐT giữa nam nữ, tuy HĐT tay chân nam đều lớn hơn tay chân nữ, nhưng HĐT trung bình của chân nam chỉ lớn hơn của tay nam 1.35mV, còn HĐT trung bình của chân nữ lớn hơn của tay nữ 1.62mV. Chênh lệch của nữ lớn hơn nam là vì chân nữ thường lớn hơn chân nam. So sánh này càng cho thấy: HĐT trung bình của chân lớn hơn tay là tuân theo quy luật truyền dẫn điện.

+ Chênh lệch giữa HĐT của huyệt ở bên phải với huyệt ở bên trái:

Căp HĐT trung bình của các huyệt Nguyên ở bên trái lớn hơn các huyệt nguyên bên phải 0.43mV. Tuy trị số T khẳng định tính quy luật của sự chênh lệch này, nhưng trị số của nó bé hơn T của các cặp khác nhiều, T của nó chỉ là 3,92 trong khi T của tât cả các cặp khác đều lớn hơn 10.

Chúng tôi chưa giải thích được lý do vì sao HĐT bên trái lớn hơn HĐT bên phải.

 

----o0o----

Mời các bạn xem tiếp các phần tiếp theo:

1. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Lời tâm sự

2. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.1

3. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.2

4. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.3

5. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.1

6. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.2

7. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.3

8. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.1

9. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.2


Bài viết cùng chuyên mục

Đây là 1 công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền . Nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Cá lóc cuốn rau, canh mướp hương, sinh tố trái cây, cháo lươn, cháo bột mè... là những món ăn lý tưởng cho người bị bệnh trĩ quấy rầy.