ỨNG DỤNG CÁC DÒNG SINH ĐIỆN TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ - DÒNG ĐIỆN SINH HỌC CỦA HỆ KINH LẠC 2.3

Ngày đăng: Thứ tư 10/07/2013 12:00:00 (GMT +7)

Chương hai

Kĩ thuật khảo sát dòng sinh điện của Hệ kinh lạc

(tiếp theo)

 

 

C. Hướng khảo sát dòng sinh điện của hệ kinh lạc

Từ cuối thế kỷ XX công nghệ hiện đại đã sản xuất được nhiều loại máy đo điện nhiều kênh. Ngành Y đã có nhiều máy đo cực nhạy, có thể cùng 1 thời điểm đo và ghi được điện não đồ, điện tâm đồ… ở nhiều vị trí khác nhau. Nhưng chưa có nước nào sản xuất máy đo nhiều kênh để đo dòng sinh điện tại các huyêt châm cứu, mặc dù công nghệ thiết kế, sản xuất loại máy này còn đơn giản hơn công nghệ thiết kế, sản xuất máy đo điện não, điện tim .

Dường như ngành châm cứu thế giới cũng chưa quan tâm đầy đủ đến việc đi sâu nghiên cứu dòng sinh điện của hệ kinh lạc và huyệt vị, để vận dụng vào chẩn đoán và theo dõi điều trị, nên chưa thấy có những công bố chính thức về các nghiên cứu này.

 

C.1. Máy đo dòng điện sinh học của huyệt vị:

Máy dùng để đo bất kể chỉ số nào của dòng sinh điện hệ kinh lạc cũng phải là máy đo có 24 kênh, để có thể đo dược cùng 1 lúc 24 huyệt của 24 đường kinh.

Khó khăn cho việc nghiên cứu, khảo sát là trên thị trường chưa có loại máy này. Nên 1 nhóm kĩ sư bác sĩ đã cùng nhau nghiên cứu, thiết kế và sản xuất được 1 máy đo hiệu điện thế sinh học (chỉ số chung nhất, quan trọng nhất) của huyệt vị. Máy đã sản xuất xong trong tháng 10-2011 gồm các đặc tính sau:

C.1.1 Máy có 24 kênh có thể cùng một thời  điểm đo được 24 hiệu điện thế khác nhau trên 24 vị trí huyệt khác nhau. Hiệu điện thế của các huyệt được đo ở cùng 1 thời điểm nên có thể so sánh, đối chiếu trị số của huyệt này với trị số của huyệt khác, để tìm hiểu mối tương quan giữa các huyệt với nhau.

C.1.2. Máy đo được cả dòng điện một chiều và dòng điện hai pha với độ nhạy 1 mV, và giải đo từ –1.200 mV đến +1.200 mV.

C.1.3. Thời gian lấy các trị số hiệu điện thế có thể chọn tùy ý theo mỗi khoảng cách từ 0,03 giây đến 100 giây, máy tự động ghi trị số hiệu điên thế cả 24 vị trí của mỗi lần đo, do đó ta có thể thấy được sự thay đổi của hiệu điện thế theo thời gian của bất cứ vị trí đo nào.

C.1.4. Máy có thể kết nối với máy tính để ta quan sát được sự biến đổi liên tục của các trị số hiệu điện thế trên cả 24 vị trí, giúp ta có thể biết và hiệu chỉnh kịp thời những sai xót kỹ thuật.

C.1.5. Từ các trị số đo có thể vẽ thành điện đồ của hiệu điện thế ở mỗi vị trí đo (Điện huyệt đồ), giúp ta quan sát được trên màn hình , khi muốn biết tại một điểm nào đó là thời điểm lấy trị số thứ bao nhiêu, ta di chuột đưa mũi tên đến điểm đó, thời điểm ấy sẽ hiện ra bằng con số, nếu điểm đó cũng là thời điểm đo thì cả trị số hiệu điện thê cũng hiện ra, nếu không có, mà muốn biết trị số hiệu điện thế ta phải chuyển mũi tên sang trái hoặc sang phải, khi tới đúng vị trí đo, trị số hiệu điện thế sẽ hiện ra.

C.1.6. Máy dùng nguồn nuôi là ắc qui 12V dòng tiêu thụ 140 mA, khi thời gian sử dụng lâu hơn dung-lượng của ắc-qui có thể dùng cách vừa nạp pin vừa tiếp tục sử dụng máy.

C.1.7. Máy có khả năng xuất số liệu trực tiếp sang Excel để xử lý, in ấn và lưu trữ.

C.1.8. Khi đo hiệu điện thế sinh học của các huyệt châm cứu, máy có một loại điện cực thăm dò đặc biệt để tìm điểm có hiệu điện thế cao nhất trong vùng huyệt (tâm huyệt) nhờ thế ta có thể đặt cực đo lên đúng tâm của huyệt.

C.1.9. Điện cực đo, điện cực chung đều là điện cực dùng để đo điện tim, loại quanh điện cực có vòng nylon phủ chất dính không dẫn điện, để dán vào da ở vị trí đo hiệu điện thế, loại điện cực này có đường kính 1cm, bề mặt được chlore hóa. Do đó, vừa thực hiện được tính đồng nhất về diện tích đo, áp lực điện cực tì lên da; vừa giảm được ảnh hưởng của dòng tiếp xúc; lại có diện tích vừa phải dễ đặt chùm lên tâm huyệt mà không sợ chùm lấn sang vùng huyệt bên cạnh (các huyệt nguyên như Thái uyên, Đại lăng, Thần môn rất gần nhau cũng có khoảng cách chừng 2cm), nhất là những huyệt có vị trí giải phẫu dễ xác định càng dễ đặt cực đo đúng tâm của huyệt.

 

C.2. Kĩ thuật đo hiệu điện thế của huyệt:

Lần lượt tiến hành theo các bước:

C.2.1. Lau sạch da vùng huyệt bằng dung dịch Ringer, sau đó dùng bông khô thấm hết phần dung dịch đọng trên da, để tạo sự đồng nhất về độ ẩm và sạch da .

C.2.2. Xác định tâm huyệt rồi đặt điện cực chùm lên tâm huyệt.

Vùng huyệt nào có đường kinh lớn hơn 2cm nhiều, khó dặt điện cực lên đúng tâm huyệt, chúng tôi dùng một dụng cụ đặc biệt để xác định điểm có hiệu điện thế cao nhất để đặt cực đo. Dụng cụ này là 1 chùm 7 điện cực, mặt đo cùng nằm trên 1 mặt phẳng, được bó thành 1 bó tròn, dùng nó đặt lên da vùng huyệt vài lần ở vị trí khác nhau ta sẽ xác định được điểm có hiệu điện thế cao nhất (tâm huyệt ) để đặt điện cực đo.

C.2.3. Để phòng hiện tượng trọng lượng của kẹp nối cực đo với máy làm cực đo tiếp xúc không tốt với da , chúng tôi dùng 1 băng vải quấn đè nhẹ lên kẹp và cực đo để cực luôn tiếp xúc tốt với mặt da.

C.2.4. Đấu 24 cực đo vào 24 kênh của máy, 24 kênh đo là cực dương của máy; cực đo chung đấu với cực âm của máy, cực âm của máy là cực chung cho cả 24 kênh đo hiệu điện thế. Để đảm bảo cực âm có hiệu điện thế gần bằng 0 đối với tay chân, ta nối cực âm của máy với 4 cực dán ở 2 huyệt Khúc trì và 2 huyệt Túc tam lý , chúng tôi gọi 4 cực này là   “Mạch Sao kinh lạc “.

C.2.5. Nối mặt sau cẳng chân của đối tượng đo và giường nằm đo với đất (nếu giường làm bằng kim loại), để chống dòng điện nhiễu ảnh hưởng vào trị số đo .

C.2.6. Tiến hành đo theo 3 giai đoạn :

Hai phút đầu đo hiệu điện thế dòng 2 pha với khoảng cách giữa 2 lần đo liên tục là 0,25 giây, tương đương với thời gian 1 chu kỳ của sóng Tê-ta trên điện não đồ, trong 2 phút ta có 480 trị số hiệu điên thế của mỗi huyệt.

Hai phút tiếp cũng đo hiệu điện thế dòng 2 pha, nhưng với khoảng cách giữa 2 lần đo liên tục là 0,5 giây, tương đương với 1chu kỳ nhịp tim nhanh, trong 2 phút ta có 240 trị số hiệu điện thế của mỗi huyệt .

Hai phút cuối cùng ta đo hiệu điện thế dòng 1 chiều không đều với khoảng cách thời gian giữa 2 lần đo liên tục là 0,5 giây, trong 2 phút ta cũng có 240 trị số hiệu điện thế 1 chiều của mỗi huyệt.

C.2.7. Chuyển số liệu đo sang Excel để xử lý và lưu trữ.


C.3. Bản chất của các hiệu điện thế đo tại huyệt:

Như đã phân tích ở phần cuối điểm A.1.2.1. của chương này, Khi 2  điện cực làm bằng cùng 1 loại vật liệu có độ thuần khiết cao thì hiệu điện thế đo được ở huyệt có 2 bản chất :

C.3.1. Nếu điện thế của 2 lớp ions sát ranh giới tiếp xúc khác nhau  bản chất của hiệu điện thế đo được là 1 hiệu điện thế tổng hợp của hiệu điện thế ĐTTHTB và hiệu điện thế của 2 lớp ions sát ranh giới tiếp xúc:

UTH = UDTTHTB ± UTXi

 

C.3.2. Nếu điện thế của 2 lớp ions sát ranh giới tiếp xúc bằng nhau, hiệu số giữa chúng bằng 0, nên bản chất của hiệu điện thế đo được là hiệu điện thế của ĐTTHTB :

UTH = UDTTHTB

 

C.4. Xử lý dữ liệu khảo sát trên mỗi đối tượng:

Các HĐT đo được phải xử lý theo phương pháp thống kê xác suất trong nghiên cứu y học qua các bước:

C.4.1. Tính tổng hiệu điện thế các lần đo trên mỗi huyệt (ΣXH) và trên cả 24 huyệt (ΣX24H).

C.4.2. Tính số lần đo trên mỗi huyệt (NH) và trên cả 24 huyệt (N24H)

C.4.3. Tính trung bình cộng của các lần đo trên mỗi huyệt và trên cả 24 huyệt:

và 

C.4.4. Tính tổng các bình phương hiệu điện thế của mỗi huyệt (ΣX2H) và của cả 24 huyệt (ΣX224H)

C.4.5. Tính bình phương của tổng hiệu điện thế mỗi huyệt (ΣXH)2 và của cả 24 huyệt (ΣX24H)2

C.4.6. Tính hiệu điện thế bình phương trung bình mỗi huyệt và của hiệu điện thế bình phương trung bình cả 24 huyệt:

 

C.4.7. Tính độ lệch chuẩn của hiệu điện thế bình phương trung bình mỗi huyệt và độ lệch chuẩn của hiệu điện thế bình phương trung bình cả 24 huyệt :

 

C.4.8. Tính sai số của độ lệch chuẩn mỗi huyệt và của độ lệch chuẩn cả 24 huyệt :

và  

 

C.4.9. Tính trị số T khi so sánh đối chiếu hiệu điện thế trung bình mỗi huyệt với hiệu điện thế trung bình của 24 huyệt, hay giữa nhóm huyệt này với nhóm huyệt khác :

C.4.10. Cuối cùng chúng tôi tìm hiểu xem hiệu điện thế trung bình của mỗi huyệt so sánh với hiệu điện thế trung bình của 24 huyệt, có nằm trong khoảng lệch của xác suất 95% hay 68% của hiệu điện thế trung bình 24 huyệt không ?

C.4.10.1. Muốn đạt xác suất 95% phải đem X trung bình của 24 huyệt ± 2 lần độ lệch chuẩn :

Nếu đem hiệu điện thế trung bình mỗi huyệt trừ hiệu điện thế trung bình 24 huyệt và 2 lần độ lệch chuẩn mà hiệu số là số âm thì hiệu điện thế của huyệt nằm trong khoảng lệch của xác suất 95% (nó ở thế cân bằng động) . Nếu hiệu số là số dương thì hiệu điện thế của huyệt nằm ngoài khoảng lệch của xác suất 95% (nó ở thế mất cân bằng động) .

Nếu đem hiệu điện thế trung bình mỗi huyệt trừ hiệu điện thế trung bình 24 huyệt giảm 2 lần độ lệch chuẩn mà hiệu số là số dương thì hiệu điện thế của huyệt nằm trong khoảng lệch của xác suất 95% (nó ở thế cân bằng động) . Nếu hiệu số là số âm thì hiêu điện thế của huyệt nằm ngoài khoảng lệch của xác suất 95% (nó ở thế mất cân bằng động) .

Trên các bảng thống kê, ta có thể dựa vào dấu của 2 hiệu số trên mà biết được dễ dàng 1 HĐT ở thế cân bằng động, hay mất thế cân bằng động :

+ Nếu 1 hiệu số mang dấu – còn 1 hiệu số không có dấu là HĐT đó ở thế cân bằng động (những ô nền không mầu của bảng dưới) .

+ Nếu cả 2 hiệu số đều mang dấu – hay đều không có dấu là HĐT đó mất thế cân bằng động (những ô nền có mầu của bảng dưới) .

 

 

C.4.10.2. Muốn đạt xác suất 68% phải đem X trung bình của 24 huyệt ± 1 lần độ lệch chuẩn :

Ta cũng lấy HĐT trung bình của mỗi huyệt thực hiện 2 phép trừ như trên và cũng nhận xét về huyệt ở thế cân bằng động hay mất thế cân bằng động, như đã làm với khoảng lệch 2σ. Nhưng khi HĐT của huyệt ở giữa đường giới hạn của 2 khoảng lệch 1σ và 2σ thì  nó có ý nghĩa là huyệt cường thịnh, hoặc suy yếu nhiều hơn ý nghĩa bệnh lý.

 

C.5. Triển vọng của cách khảo sát hiệu điện thế sinh học của hệ kinh lạc

Một hệ thống lý thuyết từ Hà đồ, Lạc thư, Bát quái, đến Âm Dương,  Ngũ hành; tất cả đều do cổ nhân quan sát, phân tích những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, xã hội, con người ; rồi tổng hợp, đúc kết, qui nạp lại và suy diễn rộng ra mà xây dựng nên các học thuyết đó. Tất cả đều là những hệ tiên đề, người vận dụng những học thuyết ấy chỉ có việc công nhận và làm theo.

Với học thuyết kinh lạc, mỗi đường kinh mang tên tạng phủ chủ quản nó; nhưng có tạng phủ hiện hữu trong cơ thể, có tạng phủ như Tâm bào, Tam tiêu không biết nó cấu tạo như thế nào, còn tất cả các đường kinh mạch với trình độ của y học hiện đại vẫn chưa xác định được cấu trúc của chúng ra sao. Nhưng khi đã công nhận và vận dụng học thuyết này vào chẩn đoán, điều trị , thì nhiều kết quả chữa bệnh cho thấy: không thể nào bác bỏ được sự chỉ đạo đúng đắn của học thuyết kinh lạc trong chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị.

Đã chỉ đạo đúng cách chẩn đoán,điều trị và tạo ra được những kết quả chửa bệnh không thể bác bỏ, Tất nhiên hệ kinh lạc phải hiện hữu trong cơ thể dưới một hình thái nào đó. Nhiệm vụ của y học hiện đại, khoa học hiện đại là phải tim ra hình thái cấu trúc của hệ kinh lạc.

Như trên đã viết: Hệ kinh lạc đã hiện hữu trong cơ thể ắt phải có dòng điện sinh học riêng của nó. Chúng ta đã bắt đầu nhận biết sự có mặt của dòng điện sinh học ấy, ở các huyệt trên các đường kinh. Công nghệ hiện đại có thể chế tạo các máy đo 24 – 48 kênh tinh vi để ta khảo sát dòng điện sinh học này.

Chúng tôi tin, tương lai 3 – 4 thập kỷ nữa cũng có thể phải sang thế kỷ sau; khi ngành y học tập trung được rất nhiều công trình nghiên cứu, cả lĩnh vực điều tra cơ bản trên người khỏe, lẫn lĩnh vực khảo sát trên người bệnh thuộc rất nhiều loại bệnh khác nhau, tim được mối tương quan giữa các chỉ số điện sinh học đo tại huyệt và điện huyệt đồ với diễn biến của bệnh, theo phương pháp nghiên cứu chính thống của ngành y. Lúc đó, các chỉ số điện sinh học đo tại huyệt và điện huyệt đồ sẽ được sử dụng phổ cập trong chẩn đoán, theo dõi và chỉ đạo điều trị giống như điện não, điện tim….

 

----o0o----

Mời các bạn xem tiếp các phần tiếp theo:

1. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Lời tâm sự

2. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.1

3. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.2

4. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.3

5. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.1

6. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.2

7. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.3

8. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.1

Bài viết cùng chuyên mục

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền . Nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Cá lóc cuốn rau, canh mướp hương, sinh tố trái cây, cháo lươn, cháo bột mè... là những món ăn lý tưởng cho người bị bệnh trĩ quấy rầy.