ỨNG DỤNG CÁC DÒNG SINH ĐIỆN TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ - DÒNG ĐIỆN SINH HỌC CỦA HỆ KINH LẠC 2.2

Ngày đăng: Thứ ba 09/07/2013 12:00:00 (GMT +7)

Chương hai

Kĩ thuật khảo sát dòng sinh điện của Hệ kinh lạc

(tiếp theo)

 

B/ Điểm qua việc khảo sát các đặc tính điện của hệ kinh lạc bằng dòng điện ngoài

Từ cuối thế kỷ XX đến nay, trong nước có nhiều công trình nghiên cứu về đặc tính điện học của huyệt vị, nhưng chỉ là nghiên cứu  về hiệu điện thế (V), điện trở (R), hay cường độ dòng điện (I) bằng cách cho 1 dòng điện ngoài dẫn qua huyệt và cơ thể . Chưa có nghiên cứu chính thức nào về dòng điện sinh học của huyệt và hệ kinh lạc .

Các tác giả đều dùng máy và kỹ thuật đo sau đây :

 

B.1. Máy đo I và R của huyệt vị:

 

B.1.1. Máy đo dòng I:

Máy đo cường độ dòng điện dẫn qua da huyệt vị và cơ thể chủ yếu là máy “Neurometer type 65 - LM” của viện Y học dân tộc do Nhật bản sản xuất, dùng điện áp đo 6V, 12V và 21V.

Hoặc máy lắp ráp phỏng theo thiết kế của “Neurometer type 65 - LM” dùng điện áp do 9V.

Cả 2 loại đều là máy đo 1 kênh. Một cực đo hình trụ làm bằng đồng mạ kền, có diện tích khoảng 50cm² để đối tượng đo nắm vào lòng bàn tay. Một cực đo là 1 que đồng mạ kền, có diện tích khoảng 10mm², que đo được gắn với 1 tay cầm bằng vật liệu cách điện, để người khảo sát cầm đặt lên từng huyệt cần đo.

 

B.1.2. Máy đo điện trở R:

Máy đo điện trở của huyệt vị chủ yếu là máy “PD-1 Dermometer” của viện Y học dân tộc, do Nhật bản sản xuất, dùng điện áp đo 15V .

Hoặc máy lắp ráp phỏng theo thiết kế của máy “PD-1 Dermometer” dùng điện áp đo 9V.

Gần đây, có tác giả dùng loại máy đo điện đa năng, loại máy điện tử hiện số “Digital Multimeter DT890-C+ ” do Đài loan sản xuất, dùng điện áp đo 9V, cải tiến phần cực đo để đo điện trở hay hiệu điện thế của huyệt vị.

Cả 3 loại cũng đều là máy đo 1 kênh. Phần cực đo cũng được thiết kế như cực đo của máy đo dòng I.

 

B.2. Kĩ thuật đo:

Nhiều công trình nghiên cứu thực hiện được các yêu cầu đồng nhất về độ ẩm và lau sạch các huyệt vị cần đo bằng cồn, nước muối 9‰ hay dung dịch Ringer, giải thích cho đối tượng đo yên tâm, bảo đối tượng đo nhắm mắt thở đều.

Đưa cực đo lớn cho đối tượng, bảo nắm vào lòng bàn tay với lực vừa phải, không nhẹ quá cũng đừng mạnh quá. Người khảo sát cầm cực nhỏ đặt lần lượt lên từng huyệt vị để đo, cố gắng ấn đều tay trong tất cả các lần đo.

Riêng yêu cầu duy trì nhiệt độ phòng ở 1 nhiệt độ nhất định trong tất cả các lần đo, vì tình hình kinh tế khó khăn nhiều công trình không thực hiện được.

 

B.3. Bản chất các chỉ số đo bằng dòng điện ngoài:

Như đã viết ở cuối mục A.1.2.1, khi ta đặt 2 cực đo lên 2 huyệt cần đo 1 thông số nào đó của dòng sinh điện, tại mỗi huyệt đều có 1 điện thế tổng hợp gồm: điện thế của cường độ ĐTTHTB cộng thêm hay trừ bớt 2 điện thế tiếp xúc ở huyệt đó:

 

VTH1VDTTHTB1 ± VTXkl1 ± VTXi1

VTH2VDTTHTB2 ± VTXkl2 ± VTXi2

 

Giữa 2 huyệt bất kỳ đều có 1 hiệu điện thế tổng hợp do: điện thế tổng hợp của huyệt 1 trừ điện thế tổng hợp của huyệt 2:

 

UTH2H = VTH1 - VTH2

 

UTH2H = ( VDTTHTB1 ± VTXkl1 ± VTXi1) - ( VDTTHTB2 ± VTXkl2 ± VTXi2 )

 

Những công thức trên phản ảnh đặc tính điện của huyệt vị, hay hệ kinh lạc khi ta muốn khảo sát dòng sinh điện do chính huyệt vị, hay hệ kinh lạc sinh ra, hoàn toàn không có sự can thiệp của dòng điện ngoài.

Trong khảo sát các đặc tính điện của huyệt bằng dòng điện ngoài (EN), khi đối tượng cầm 1 cực, còn cực khác ta đặt lên huyệt cần đo, lập tức mỗi cực có 1 điện thế như trên. Khi đóng mạch cho dòng điện ngoài dẫn qua 2 huyệt chúng vẫn tồn tại, lúc này mạch điện có 4 loại điện thế ( EN , EDTTHTBETXkl và ETXkl ).

 

Xét cấu tạo mạch điện và vị trí đo hiệu điện thế ở 2 huyệt, đây là 1 mạch đấu song song giữa nguồn điện ngoài với nguồn của ĐTTHTB đấu nối tiếp với các nguồn điện tiếp xúc, nên hiệu điện thế ở 2 đầu (2 huyệt) của 2 loại nguồn đấu song song như nhau, có thể tính hiệu điện thế đo tại 2 huyệt theo công thức:  sức điện động của nguồn điện ngoài trừ sụt áp trên điện trở trong ( RTr) của nó, Chiều của dòng điện chạy trong mạch là chiều của dòng điện lớn nhất, ở đây là dòng điện ngoài. Gọi U của mạch song song này là UTH2H1 ta có công thức:

UTH2H UTH2H1 ENI1RTr

Khi dòng điện ngoài được dẫn qua huyệt vị và cơ thể, giữa 2 điện cực lại xuất hiện 1 điện áp chống lại điện áp ngoài, gọi là điện áp phân cực đi từ huyệt nọ đến huyệt kia, giữa 2 cực có 1 hiệu điện thế gọi là hiệu điện thế phân cực ( UPC), có chiều ngược với chiều của nguồn điện ngoài. Thế là nguồn điện ngoài lại có thêm 1 nguồn điện đấu song song với nó, ta có 1 hiệu điện thế tổng hợp mới, gọi là UTH2H2, dòng điện qua điện trở trong của nguồn điện ngoài lúc này là I2, ta có công thức:

UTH2H2 UPC = EN - I2RTr

Đặc tính của dòng phân cực là làm tăng điện trở trong đoạn mạch giữa 2 điện cực, do đó làm giảm dòng điện chung so với trị số ban đầu. Quan sát kim điện kế của máy đo khung dây, hay số hiện trên màn hình của máy đo điện tử ta thấy: Trị số đo đang tăng thì dòng phân cực xuất hiện làm nó giảm 1 chút hay dừng lại 1 lát, rồi lại tiếp tục tăng dường như không còn dòng phân cực nữa, sự thực nó vẫn tồn tại.

Theo hóa lý học hiện đại: Khi hòa tan chất điện giải vào 1 dung môi, tác động của nhiệt độ môi trường làm các phân tử điện giải chuyển động hỗn loạn, chúng va đập vào nhau khiến 1 số phân tử phân ly thành các ions tich điện; cho một dòng điện chạy qua, các ions tích điện sẽ sắp xếp lại và chuyển động có hướng, ions âm chạy đến cực dương, ions dương chạy đến cực âm; khi tiếp xúc với điện cực các ions bị mất điện tích trở thành có hoạt tính hóa học, chúng kéo theo 1 số phản ứng kết hợp nào đó để trở thành các phân tử trung hòa về điện. Chính sự mất điện tích của các ions khi tiếp xúc với điện cực, làm lượng ions tích điện trong dịch thể giảm, là nguyên nhân gây giảm cường độ I và tăng điện trở R của dịch thể giữa 2 điện cực.

Nhưng vì dòng điện ngoài rất mạnh (>6V), lớn hơn các dòng điện khác rất nhiều, các ions trong dịch thể bị cưỡng bức phải di chuyển rất nhanh theo chiều dòng điện ngoài, động năng rất lớn, sự va chạm diễn ra nhiều hơn, mạnh hơn , khiến các phân tử điện giải chưa phân ly, hay vừa kết hợp phân ly thành các ions tích điện nhiều hơn, nhanh hơn. Đồng thời, dòng điện ngoài còn kích thích hoạt động khử cực tái cực của các tế bào mạnh hơn. Vì thế, số ions mới sinh thêm, không những bù được cho số ions bị mất điện tích khi tiếp xúc với điện cực, mà còn làm tăng lượng ions trong dịch thể, khiến R dịch thể tiếp tục giảm, I chung tiếp tục tăng; tới khi nào dòng điện do các ions tích điện giữa 2 điện cực tạo ra có điện áp tương ứng với điện áp do dòng điện ngoài đặt lên 2 điện cực, số ions bị mất điện tích cân bằng với số ions phân ly thêm, dòng điện chung mới ngừng tăng. Hiện tượng này chính là nguyên nhân của trị số đo sau 1 giai đoạn tăng ngắn đã dừng lại 1 lát, hay giảm 1 chút, rồi lại tiếp tục tăng cho tới khi dừng hẳn.

Những phân tích trên dẫn ta đến 1 kết luận : Bản chất của các chỉ số đo được ở huyệt vị, bằng dòng điện ngoài dẫn qua cơ thể, là các chỉ số của 1 dòng điện tổng hợp gồm 4 thành phần: dòng điện ngoài, dòng điện tổng hợp của cường độ ĐTTHTB của huyệt, dòng điện tiếp xúc và dòng điện phân cực. Bản chất của những dòng điện chạy trong cơ thể từ huyệt nọ đến huyệt kia đều là các dòng điện hóa.

Muốn loại bỏ dòng phân cực phải dùng loại điện cực trung tính như bạch kim, hay phải chlore hóa bề mặt các điện cực.

 

B.3.1. Đo hiệu điện thế của 2 huyệt bằng dòng điện ngoài:

Khi khảo sát hiệu điện thế của 2 huyệt bằng dòng điện ngoài dẫn qua cơ thể, là khảo sát hiệu điện thế tổng hợp (U) của mạch gồm 3 nguồn điện đấu song song (nguồn điện ngoài, nguồn điện của DTTHTB ± nguồn điện tiếp xúc kim loại với ions, nguồn điện phân cực) theo công thức : Điện áp ngoài trừ sụt áp trên điện trở trong (RTr) của bộ phận phát điện ngoài:

UTH = VN –  IRTr

 

Như vậy, hiệu điện thế tổng hợp đo tại 2 huyệt cũng là hiệu điện thế của 3 nguồn điện đấu song song: hiệu điện thế nguồn ngoài, hiệu điện thế của cường độ ĐTTHTB ± hiệu điện thế tiếp xúc và hiệu điện thế phân cực:

UTH = UN = UDTTHT ± UTXkl ± UTXi = UPC

 

B.3.2. Đo cường độ I qua huyệt bằng dòng điện ngoài:

Khi khảo sát cường độ dòng điện dẫn qua huyệt bằng dòng điện ngoải là kháo sát cường độ dòng tổng hợp (ITH) của mạch gồm 3 nguồn điện đấu song song (nguồn điện ngoài, nguồn điện của DTTHTB ± nguồn điện tiếp xúc kim loại với ions, nguồn điện phân cực) theo công thức: Hiệu điện thế tổng hợp của 3 thành phần  (UTH) chia cho điện trở chung của 3 nguồn điện đấu song song (RC) :

B.3.3. Đo điện trở R của huyệt bằng dòng điện ngoài:

 

Khi khảo sát điện trở của huyệt bằng dòng điện ngoài là khảo sát điện trở tổng hợp chung (RC) của mạch gồm 3 nguồn điện đấu song song (nguồn điện ngoài, nguồn điện của DTTHTB ± nguồn điện tiếp xúc kim loại với ions, nguồn điện phân cực) theo công thức: Hiệu điện thế tổng hợp của 3 thành phần (UTH) chia cho cường độ dòng điện tổng hợp gồm 3 nguồn điện đấu song song (ITH) :

 

B.4. Giá trị của các chỉ số điện đo tại huyệt bằng dòng điện ngoài:

Các dữ liệu thu được không phản ảnh riêng đặc tính dòng sinh điện của huyệt, cũng không phản ảnh chủ yếu các đặc tính của dòng sinh điện, mà phản ảnh tổng hợp các đặc tính của 3 loại dòng điện đấu song song, đặc biệt là dòng điện ngoài, nên khi phân tích rất dễ bị lầm lẫn, sai lệch.

Máy chỉ có thể đo được từng huyệt, nên các dữ liệu của 2 huyệt khác nhau, đo ở 2 thời điểm khác nhau không thể dùng để so sánh với nhau được, mà trong nghiên cứu lại rất cần sự so sánh này, nếu cứ gượng ép so sánh sẽ dẫn tới những kết quả sai lệch.

Máy dùng 2 điện cực diện tích chênh lệch nhau 100 lần , không thực hiện được sự đồng nhất về diện tích điện cực.

Cách cầm nắm điện cực đo, dù đã cố gắng nắm ấn đồng đều trong khi đo cũng khó giữ được đồng đều trong cả quá trình đo kéo dài, nhất là giữa lần đo

này với lần đo khác.

Chính do những vấn đề trên, nên tuy có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chưa có công trình nào được ứng dụng vào chẩn đoán và theo dõi điều trị dựa trên các chỉ số điện đo tại huyệt bằng dòng điện ngoài.

 

----o0o----

Mời các bạn xem tiếp các phần tiếp theo:

1. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Lời tâm sự

2. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.1

3. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.2

4. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.3

5. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.1

6. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.2

7. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.3

8. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.1

9. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.2


Bài viết cùng chuyên mục

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền . Nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Cá lóc cuốn rau, canh mướp hương, sinh tố trái cây, cháo lươn, cháo bột mè... là những món ăn lý tưởng cho người bị bệnh trĩ quấy rầy.