ỨNG DỤNG CÁC DÒNG SINH ĐIỆN TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ - DÒNG ĐIỆN SINH HỌC CỦA HỆ KINH LẠC 2.1

Ngày đăng: Thứ sáu 05/07/2013 12:00:00 (GMT +7)

 

Chương hai


Kĩ thuật khảo sát dòng sinh điện của Hệ kinh lạc

A/ Những yêu cầu kĩ thuật:

A.1. Máy và điện cực đo:

A.1.1. Máy đo:

Do dòng điện sinh học của tất cả các tổ chức trong cơ thể luôn biến đổi và chủ yếu là dòng 2 pha; nên muốn so sánh các trị số hiệu điện thế, cường độ dòng điện, điện trở…giữa vị trí này với vị trí khác, không thể dùng máy đo 1 kênh mà phải dùng máy đo nhiều kênh, để có thể đo được trị số ở nhiều vị trí trong cùng 1 thời điểm.

Nếu dùng máy đo 1 kênh, mỗi thời điểm chỉ có thể đo được 1 vị trí, nên ở vị trí này đo được trị số dương vị trí khác lại là trị số âm, 2 trị số của 2 vị trí đo ở 2 thời điểm khác nhau sẽ có tương quan khác nhau, nên không thể so sánh, đối chiếu để xem xét mối tương quan giữa các vị trí với nhau được.

Vì thế, muốn khảo sát hệ kinh lạc phải dùng máy đo 24 kênh, để có thể cùng 1 thời điểm cùng đo được trị số hiệu điện thế, cường độ dòng điện hay điện trở… của 24 huyệt mới có thể so sánh, đối chiếu tìm ra mối tương quan giữa 24 huyệt cùng tên (tỉnh, huỳnh, du…), tương quan giữa 10 huyệt quan trọng của mỗi đường kinh hay tương quan giữa 24 đường kinh phải trái với nhau.

Do đó, yêu cầu cơ bản của khảo sát hệ kinh lạc là phải có máy đo 24 kênh.

 

A.1.2. Điện cực đo và điện cực chung:

Phải chăng cứ có máy đo 24 kênh là ta có thể khảo sát được dòng sinh điện của chính cơ thể? Không đơn giản như vậy! Vì vật liệu làm cực đo, diện tích cực đo, cách đo dòng điện ngoài dẫn qua cơ thể hay dòng sinh điện của chính cơ thể cũng phải tuân theo những yêu cầu khá khắt khe ta mới khảo sát được dòng sinh điện do chính cơ thể sinh ra, nếu không tuân theo những yêu cầu này thì trị số đo được của cả cách đo dòng điện ngoài dẫn qua cơ thể, lẫn cách đo dòng điện do cơ thể sinh ra đều có thêm các dòng điện khác tham gia. Các dòng điện này được tạo nên từ vật liệu làm điện cực, hay từ dòng điện ngoài dẫn qua cơ thể.

 

A.1.2.1. Vật liệu làm điện cực và dòng điện tiếp xúc:

Theo qui luật vật lý : Hai vật bất kì chất liệu khác nhau, hay cùng 1 chất liệu nhưng độ thuần khiết khác nhau, nếu để 2 vật đó tiếp xúc với nhau thì tại mặt tiếp xúc của mỗi vật xuất hiện 1 điện thế gọi là điện thế tiếp xúc ( VTX ) . Điện thế này cao hay thấp phụ thuộc vào thế khử chuẩn của chất dùng làm điện cực, chất có thế khử chuẩn cao điện thế tiếp xúc cũng cao, chất có thế khử chuẩn thấp điện thế tiếp xúc cũng thấp. Ví dụ thế khử chuẩn của :

Đồng:  ε0 (Cu2+ / Cu) = 0,34V

Bạc:  ε0 (Ag+ / Ag) = 0,80V

Kẽm:   ε0 (Zn2+ / Zn) = - 0,76V

Niken:  ε0 (Ni2+ / Ni) = - 0,25V

Chlore:  ε0 (Cl2 / Cl-) = 1,359V

Hydro:  ε0 (H+ / H2) = - 0,413V

…………………………………………………………………….

Nếu 2 vật tiếp xúc nhau cùng là 1 chất liệu thuần khiết thì ở mặt tiếp xúc của chúng cùng có 1 điện thế tiếp xúc như nhau, khi nối chúng với 1 vôn-kế sẽ thấy không có dòng điện nào chạy qua vôn-kế.

Nếu 2 vật tiếp xúc chất liệu khác nhau thì mặt tiếp xúc của chúng có điện thế tiếp xúc khác nhau, khi nối chúng với 1 vôn-kế ta sẽ ghi được 1 hiệu điện thế tiếp xúc (UTX), Ví dụ: cho 1 một miếng kẽm thuần khiết tiếp xúc với 1 miếng đồng thuần khiết ta sẽ có 1 hiệu điện thế tiếp xúc 1,1V.

UTX = 0,34V-(-0,76V) = 1,1V

Do đó, khi đặt 2 điện cực tiếp xúc với da để đo dòng điện ngoài dẫn qua cơ thể hay đo dòng sinh điện của cơ thể, mỗi mặt tiếp xúc của da cũng như mỗi điện cực đều xuất hiện một VTX .

Điện thế tiếp xúc của điện cực là thế khử chuẩn của chất liệu dùng làm điện cực (tôi gọi là điện thế tiếp xúc kim loại VTXkl ).

Điện thế tiếp xúc của da là thế khử chuẩn của lớp ions tích điện trong dịch thể tập trung ở sát ranh giới tiếp xúc (tôi gọi là điện thế tiếp xúc của ions VTXi), tùy theo lớp ions ở sát ranh giới tiếp xúc với mỗi điện cực gồm những ions nào, và tùy theo nồng độ của mỗi loại, lớp ions ấy sẽ tạo nên một VTXi nhất định. Ion nào có thế khử chuẩn cao, hay nồng độ cao, VTXi cũng cao và ngược lại. Trong mỗi lớp ion tiếp xúc, ion nào có VTXi cao hơn thì VTXi của lớp ion mang dấu + hay – của ion đó.


VTX mỗi cực đo hoặc mỗi lớp ion tiếp xúc đều có thể dương hay âm, nên 2 mặt tiếp xúc tại mỗi vị trí đo, đều có thể có 2 VTX cùng chiều hay ngược chiều, và chúng cũng có thể cùng chiều hay ngược chiều với điện thế của CĐ ĐTTHTB (VDTTHTB) tại mỗi vị trí đo.

Do những đặc điểm trên, khi đặt cực đo hiệu điện thế của 2 huyệt, tại mỗi huyệt sẽ có 3 điện thế xếp nối tiếp (VDTTHTB, VTXkl VTXi ), nên điện thế tại mỗi huyệt để tính hiệu điện thế, đều là 1 điện thế tổng hợp (VTH) của 3 điện thế trên theo phép tính cộng đại số, lấy chiều của VDTTHTB làm chuẩn ta sẽ có công thức của VTH của mỗi huyệt như dưới đây:

VTH1VDTTHTB1 ± VTXkl1 ± VTXi1

VTH2VDTTHTB2 ± VTXkl2 ± VTXi2

 

Giữa 2 huyệt có 1 hiệu điện thế tổng hợp:

UTH2H = ( VDTTHTB1 ± VTXkl1 ± VTXi1) - ( VDTTHTB2 ± VTXkl2 ± VTXi2 )


Công thức trên cho thấy, có 2 trường hợp đặc biệt làm giảm được số thành phần VTX tham gia vào UTH2H :

+ Nếu 2 cực đo được làm bằng cùng 1 chất thuần khiết thì 2 VTXkl bằng nhau, khi đo hiệu điện thế chúng sẽ tự triệt tiêu, công thức trên chỉ còn:

UTH2H = ( VDTTHTB1 ±  VTXi1) - ( UTH2H = ( VDTTHTB1 ±  VTXi2 )

+ Nếu 2 cực đo cùng làm bằng 1 kim loại thuần khiết, lại có thêm 2 VTXi bằng nhau (trường hợp 2 lớp ions sát ranh giới tiếp xúc cùng có các ions giống nhau và nồng độ mỗi ion như nhau, hoặc gồm các ions và nồng độ khác nhau nhưng tổng đại số VTX của mỗi lớp ion tiếp xúc lại bằng nhau), khi đo hiệu điện thế chúng đều tự triệt tiêu công thức UTH2H chỉ còn:

UTH2H =  VDTTHTB1 -  VDTTHTB2


Những phân tích về điện thế tiếp xúc, dẫn ta tới một kết luận :

+ Khi khảo sát dòng điện sinh học của hệ kinh lạc bằng cách đo các chỉ số của dòng sinh điện tại các huyệt , ta chỉ có thể đo được các chỉ số của một dòng điện tổng hợp gồm : dòng điện của cường độ điện trường tổng hợp trung bình của hệ kinh lạc cộng thêm hay trừ bớt dòng điện tiếp xúc.

Không có cách nào loại trừ hết dòng điện tiếp xúc khỏi các chỉ số của bất cứ cách đo điện nào (kể cả đo điện tim điện não hay đo điện kĩ thuật).

Ta chỉ có thể làm giảm ảnh hưởng của nó bằng cách dùng 2 cực cùng 1 kim loại có độ thuần khiết rất cao; nếu gặp thêm 2  VTXi ở 2 cực bằng nhau, 4 điện thế tiếp xúc của 2 cực sẽ triệt tiêu nhau khi đo hiệu điện thế, chỉ khi đó ta mới có hiệu điện thế của chính hệ kinh lạc sinh ra.

Do đó, yêu cầu thứ 2 là điện cực đo và điện cực chung là phải làm bằng cùng 1 kim loại có độ thuần khiết cao, để giảm bớt ảnh hưởng của dòng tiếp xúc vào các dữ liệu khảo sát.

+ Khi khảo sát các đặc tính điện của hệ kinh lạc bằng dòng điện ngoài dẫn qua huyệt và cơ thể, các chỉ số đo được ngoài ảnh hưởng của dòng điện tiếp xúc, nó còn chịu thêm ảnh hưởng của: dòng điện phân cực, sự phân ly thành các ions tích điện tăng đột biến, dòng ions di chuyển nhanh và có thể đổi chiều, điện trở của các tổ chức sụt giảm nhanh. Tất cả những ảnh hưởng thêm vào các dữ liệu khảo sát đều do dòng điện ngoài gây ra. (Chúng sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau)

 

A.1.2.2. Diện tích điện cực và cách đặt điện cực:

Diện tích điện cực có quan hệ chặt chẽ với độ lớn của trị số HĐT, vì ĐTTHTB của cơ thể được mô tả bằng các đường sức, mỗi điểm trên bề mặt cơ thể đều ứng với 1 điểm trên 1 đường sức nào đó của ĐTTHTB. Cường độ ĐTTHTB tại điểm này có 1 điện thế xác định:

Khi khảo sát điện thế sinh học của hệ kinh lạc tại huyệt vị, cực đo không phải là 1 điểm, mà là 1 diện tích nào đó lớn hơn điểm rất nhiều. Do đó, khi đặt điện cực lên huyệt, không phải chỉ có 1 đường sức đi qua, mà có rất nhiều đường sức đi qua bề mặt điện cực, cường độ ĐTTHTB của hệ kinh lạc đặt lên cực đo lớn hơn đặt lên 1 điểm rất nhiều nên điện thế tại cực đo cũng lớn hơn điện thế tại 1 điểm rất nhiều.

Đặc điểm trên cho thấy: Diện tích cực đo càng lớn, cường độ ĐTTHTB hay điện thế tổng hợp trung bình của hệ kinh lạc đặt lên diện tích cực đo cũng càng lớn và ngược lại.

Tôi đã dùng 3 cặp cực đo làm bằng cùng 1 kim loại, nhưng diện tích 3 cặp khác nhau (S1 = 5 mM2, S2 = 50 mM2 và S3 = 100 mM2) để đo HĐT của cùng 2 huyệt, kết quả như sau:

Với S1 = 5 mM2 :    V đo được : 8÷10mV

Với S2 = 50 mM2 :   V đo dược : 7÷18mV

Với S3 = 100 mM2 : V đo được : 60÷195mV


Dữ liệu thu được hoàn toàn phù hợp với qui luật trên
.


Tôi lại dùng cặp điện cực S1 = 5 mM2 đo lại U của 2 huyệt trên, nhưng một cực để cố định, còn một cực di chuyển nhiều lần trên những vị trí khác nhau trong cùng 1 vùng huyệt, U đo được ở vị trí này so với vị trí khác lệch nhau từ 30% đến hơn 200% và vị trí ở giữa luôn có U cao nhất.

Kết quả khảo sát cho thấy: với điện cực nhỏ nhất, nhỏ hơn điện cực đo điện tim, điện não nhiều lần, ta cũng đo được hiệu điện thế lớn hơn hiệu điện thế của tim và não nhiều lần. Điều đó chứng tỏ ta đã đo được U ở ngay vị trí của huyệt (như đã viện dẫn ở điểm C5 chương một: da là một bộ phận của huyệt và kinh), nên cường độ ĐTTHTB của huyệt thể hiện trên trị số U tổng hợp mạnh nhất và rõ nét nhất, còn điện trường của tất cả các tổ chức khác trong cơ thể tham gia vào U tổng hợp chỉ là thứ yếu, vì điện cực đo đặt trực tiếp lên huyệt không đặt trực tiếp lên các tổ chức đó.

Đặc tính U giữa vùng huyệt cao nhất, chung quanh thấp dần, còn cho ta xác định một tính chất quan trọng nữa: vị trí có U cao nhất là nơi đường kéo dài của trục ĐTTHTB của hệ lưỡng cực điện tạo nên huyệt đi qua, nên mật độ đường sức ở vị trí này tập trung dầy hơn các vị trí chung quanh, vị trí này có khoảng cách tới tâm ĐTTH ngắn nhất. Như vậy, trục ĐTTHTB vuông góc với mặt da như khái niệm đã viết trong phần (D.2.) chương một.


Tới đây, lại xuất hiện 2 yêu cầu khác về cực đo và cực chung:

+ Yêu cầu thứ 3 : Diện tích điện cực đo và điện cực chung phải bằng nhau.

+ Yêu cầu thứ 4 : Phải đặt 2 cực trùm lên tâm huyệt để đo được U cao nhất.


Khi 2 điện cực làm bằng cùng 1 kim loại thuần khiết và diện tích bằng nhau ta loại trừ được điện thế tiếp xúc của cực đo, chỉ còn điện thế tiếp xúc của 2 lớp ions ảnh hưởng vào dữ liệu khảo sát.

Phải chọn diện tích cực đo thế nào để khảo sát đạt độ chính xác cao; đảm bảo nó chùm trên tâm của huyệt khảo sát, mà không lấn sang phần diện tích của huyệt bên cạnh; thực hiện khảo sát được nhanh, không làm biến đổi trạng thái bình thường của huyệt do khảo sát quá lâu.

Nếu dùng điện cực đo nhỏ quá, khó đặt trùm lên tâm huyệt, U đo được rất nhỏ.

Nếu dùng điện cực lớn, dễ đặt trùm lên tâm huyệt, U đo dược cao hơn dễ cho phân tích đánh giá các dữ liệu; nhưng nếu lớn quá lại rất dễ lấn sang phần diện tích của huyệt bên cạnh; ngoài ra, nhiều vùng huyệt mặt da không phẳng làm điện cực khó tiếp xúc với những chỗ da lõm, ảnh hưởng tới tính đồng nhất.


Muốn giải quyết khó khăn trên, ta có thể dựa vào khoảng cách của tâm những huyệt ở gần nhau nhất để lựa chọn diện tích cực đo; chẳng hạn các huyệt Linh đạo, Thông lý, Âm khích, Thần môn của kinh Tâm chỉ cách nhau 1/2 thốn tức 1cm; các huyệt Uyển cốt, Thần môn, Đại lăng, Thái uyên của kinh Tiểu trường, Tâm, Tâm bào, Phế chỉ cách nhau chừng 2cm (nghiên cứu của viện Đông y). Muốn đặt điện cực dễ trùm lên tâm huyệt mà ít trùm lấn sang huyệt bên cạnh, nên chọn loại điện cực tròn đường kính 1cm ; với loại điện cực này HĐT đo được khoảng vài trăm mV , cường độ dòng điện đo được vài µA, dễ cho phân tích đánh giá các dữ liệu; diện tích này cũng không quá lớn nên dễ áp sát toàn bộ mặt điện cực vào da.

 

A.2. Một số yêu cầu về đồng nhất kĩ thuật đo:

A.2.1. Làm sạch da:

Mặt da thường có bụi bám hay cáu ghét của lớp tế bào biểu bì bị chết, làm các điện cực tiếp xúc với da không tốt ảnh hưởng tới các trị số đo. Nên yêu cầu thứ nhất là phải lau sạch chỗ da đặt điện cực đo trước khi đặt điện cực.

 

A.2.2. Áp lực điện cực tì lên da:

Khi đo bằng điện cực cầm tay, ta thường thấy nếu ấn tay nhẹ trị số đo tăng từ từ, nếu ấn tay mạnh trị số đo tăng nhanh, hoặc khi số đo đã dừng lại không tăng nữa mà ta ấn nặng tay thêm một chút trị số đo lại tiếp tục tăng thêm từ 10-30% rồi mới dừng hẳn. Do đó, nếu áp lực điện cực tì lên da nhẹ trị số đo được sẽ thấp hơn áp lực điện cực tì lên da mạnh.

Đo bằng điện cực cầm tay rất khó duy trì được mức ấn tay đồng đều trong nhiều lần đo hoặc đo lâu, giá trị của các trị số đo được không giống nhau, việc so sánh đối chiếu giữa các trị số đo được để tìm hiểu mối tương quan giữa các huyệt, hay các đường kinh dễ dẫn tới những kết luận sai lệch. Nên yêu cầu thứ 2 là phải duy trì 1 áp lực điện cực tì lên da thống nhất trên các huyệt và tất cả các lần đo.

Ta nên dùng loại điện cực dán được lên da thì có thể duy trì 1 áp lực điện cực tì lên da tương đối đồng đều giữa các lần đo.

 

A.2.3. Độ ẩm của không khí và da:

Khi trời hanh, độ ẩm không khí thấp (khoảng 40-50%) làm da khô, điện cực tiếp xúc với lớp dịch thể ở da khó khăn, nên trị số đo rất thấp, có khi thấp hơn 2-3 lần so với khi đo ở độ ẩm không khí cao (khoảng 70-80%).

Nhiều nhà nghiên cứu đã chủ trương: Cần phải giữ độ ẩm không khí trong phòng đo ở mức 70-80% , phải đưa đối tượng nghiên cứu vào phòng trước khi đo ít nhất 15 phút, để da đủ ẩm rồi mới đo.

Sự thực, độ ẩm tại vị trí khảo sát mới là yếu tố quyết định các trị số đo, trị số đo không do độ ẩm da toàn thân quyết định. Vì thế chỉ cần làm ẩm các huyệt cần đo là đủ.

Các nhà nghiên cứu thường dùng cách lau da bằng dung dịch nước muối 9‰ (một dung dịch gần giống dịch thể) trước khi đặt cực đo, có nghĩa đã làm vùng da cần đặt cực đo có độ ẩm 100% , đó là cách giải quyết tính đồng nhất về độ ẩm hợp lý hơn cả. Không cần phải trang bị máy điều hòa độ ẩm tốn tiền, cũng không gặp phiền phức do phải chờ cho da đạt độ ẩm qui định.


Như vậy, chỉ cần một ít bông, một chai nước muối 9‰ , hoặc tốt hơn ta dùng một chai dung dịch Ringer; trước khi đo, ta dùng bông tẩm nước muối 9‰ hay dung dịch Ringer vừa đủ ướt, lau thật sạch chỗ da cần đặt cực đo, rồi kiểm tra lại, nếu dung dịch lau da đã bay hơi hết, không đọng thành giọt hay láng thành lớp mỏng trên da, ta mới đặt cực đo; nếu dung dịch lau chưa bay hơi hết, phải dùng bông khô lau lại cho da khô rồi mới đặt cực đo, để tránh hiện tượng vùng da đo không phải là diện tích tiếp xúc với điện cực mà là 1 diện tích rộng hơn, vì dung dịch lau da là 1 chất dẫn điện.

Làm như trên ta thực hiện được yêu cầu thứ 3: tạo độ ẩm đồng nhất cho vùng da cần đo, lại thực hiện được cả yêu cầu thứ 2 làm sạch vùng da đo.

 

A.2.4. Nhiệt độ phòng đo:

Nhiệt động học cho biết: Khi hòa tan các phân tử chất điện giải trong dung môi, tác động của nhiệt độ sẽ làm chúng chuyển động hỗn loạn, va chạm vào nhau mà phân ly thành các ions tích điện. Nhiệt độ càng cao chúng càng chuyển động nhanh, va chạm vào nhau càng mạnh càng nhiều, số lượng ions phân ly càng lớn, nồng độ ions tích điện trong dung dịch càng cao.

Do đó, dòng điện sinh học của cơ thể chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường rất sâu sắc. Nên trong khảo sát dòng điện sinh học của hệ kinh lạc yêu cầu thứ 4 là nhiệt độ phòng phải đồng nhất trong tất cả các lần đo. Ở nước ta nên duy trì nhiệt độ phòng ở mức 25°C .


Nếu nhiệt độ ngoài không chênh lệch nhiều với nhiệt độ phòng đo, ta không cần đưa đối tượng vào phòng đo trước; vì chỉ cần thời gian chuẩn bị cho khảo sát cũng đủ làm đối tượng thích ứng với nhiệt độ trong phòng.

Nếu nhiệt độ ngoài chênh lệch với nhiệt độ phòng đo nhiều, ta cần đưa đối tượng vào phòng trước cho đối tượng thích ứng với nhiệt độ phòng đo, rồi mới tiến hành khảo sát .

 

A.2.5. Ảnh hưởng của sự căng thẳng hay cựa cậy khi đo:

Trong quá trình khảo sát , nếu đối tượng căng thẳng, hay cựa cậy chân tay dòng điện của hoạt động thần kinh hay dòng điện của hoạt động cơ đều ảnh hưởng vào trị số đo. Nên yêu cầu thứ 4 là cần loại bỏ sự căng thẳng và sự cựa cậy của đối tượng trong khi đo.

Trước khi đo phải giải thích cho đối tượng để đối tượng khỏi căng thẳng, bảo đối tượng nhắm mắt, thở đều và không được cựa cậy.

 

----o0o----

Mời các bạn xem tiếp các phần tiếp theo:

1. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Lời tâm sự

2. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.1

3. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.2

4. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.3

5. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.1

6. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.2

7. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.3

8. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.1

9. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.2


Bài viết cùng chuyên mục

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền . Nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Cá lóc cuốn rau, canh mướp hương, sinh tố trái cây, cháo lươn, cháo bột mè... là những món ăn lý tưởng cho người bị bệnh trĩ quấy rầy.

Mỗi sáng thức dậy mọi người đều cảm thấy đầu óc thanh sáng, tinh thần phấn chấn. Nhưng, có một số người và trong một hoàn cảnh nào đó, giấc ngủ ...