ỨNG DỤNG CÁC DÒNG SINH ĐIỆN TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI ĐIỀU TRỊ - DÒNG ĐIỆN SINH HỌC CỦA HỆ KINH LẠC 1.3

Ngày đăng: Thứ sáu 28/06/2013 12:00:00 (GMT +7)

Chương một

Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc

(tiếp theo)

 

D.2. Cấu trúc của hệ kinh lạc và các đặc tính của điện sinh học:

D.2.1. Cấu trúc của hệ kinh lạc gồm: 12 kinh chính, 8 mạch kỳ kinh, 15 lạc mạch, 12 kinh nhánh, 12 kinh cân và 12 khu da.

Tất cả các đường kinh, 6 mạch kỳ kinh, cả 12 khu da, 13 lạc mạch đều có 2 đường hay 2 nhánh, 1 ở bên phải 1 ở bên trái; trên đường tuần hành, dù khi đi thẳng, lúc đi chéo, khi gấp khúc, lúc đổi chiều, hay khi phân nhánh, đều hoàn toàn đối xứng với nhau qua mặt phẳng trước sau giữa 2 bên phải trái.

Chỉ có 2 mạch Nhâm, Đốc và 2 lạc mạch Cưu vĩ, Trường cường là có 1 nhánh, song mạch Nhâm và lạc mạch Cưu vĩ đi ở chính giữa mặt trước cơ thể, mạch Đốc và lạc mạch Trường cường đi ở chính giữa mặt sau cơ thể, chúng đều nằm hoàn toàn trên mặt phẳng trước sau.

Đặc biệt 12 kinh chính tạo nên 1 vòng tuần hoàn khép kín. Kinh khí bắt đầu tuần hoàn từ kinh Phế vào giờ Dần, kết thúc ở kinh Can vào giờ Hợi, rồi lại trở về kinh Phế vào giờ Dần ngày hôm sau, để bắt đầu 1 vòng tuần hoàn mới, cứ như thế không bao giờ ngừng.

D.2.2Chức năng của hệ kinh lạc:

D.2.2.1 Toàn hệ kinh lạc ngoài việc dẫn truyền khí huyết như đã bàn ở trên, còn có nhiệm vụ:

+ Hỗ trợ các tạng phủ trong các hoạt động sinh lý khi cơ thể bình thường hay bị bệnh .

+ Hỗ trợ các tạng phủ thể hiện hành vi, thái độ đáp ứng với những kích thich có lợi hay có hại tác động lên cơ thể từ môi trường ngoài hay từ trong cơ thể

+ Cùng tạng phủ hợp thành 1 khối thống nhất, giúp cơ thể luôn ở thế cân bằng động, chống ngoại tà , bảo vệ cơ thể.

+ Dẫn truyền và phản ảnh tất cả các hoạt động, các đáp ứng của tạng phủ qua hành vi, thái độ như: Nhanh nhẹn, hoạt bát khi cơ thể khỏe mạnh và cân bằng. Chậm chạp, ủ rũ khi ốm đau và mất cân bằng. Vui vẻ, hân hoan khi gặp kích thích có lợi. Buồn rầu, giận dữ khi gặp kích thích bất lợi ….

D.2.2.2. Mỗi kinh mạch ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ chung của toàn hệ kinh lạc, nó còn có nhiệm vụ đặc thù riêng như:

+ Chống ngoại tà xâm nhập vào bản thân nó, ngăn cản không cho ngoại tà đi vào sâu để bảo vệ cơ thể.

+ Liên lạc với đường kinh chính có quan hệ biểu lý với nó bằng tách ra nhánh lạc mạch để nối thông với kinh có quan hệ biểu lý. Lạc mạch lại phân chia thành các nhánh nhỏ dần có tên là tôn lạc, phù lạc, huyết lạc. Sự phân nhánh nhỏ dần của các lạc mạch góp phần cùng các kinh mạch tạo thành 1 mạng lưới tuần hoàn và liên lạc của toàn thân.

+ Phản ảnh tình trạng bệnh lý khi đường kinh bị bệnh. Ví dụ: Kinh đại tràng bị bệnh thì ngón tay trỏ vận động khó. Kinh tâm bào bị bệnh thì gan bàn tay nóng. Mạch đới bị bệnh thì kinh nguyệt rối loạn, ra khí hư. Mạch xung, mạch nhâm bị bệnh thì kinh nguyệt, thai sản bất thường ….

+ Đặc biệt mỗi đường kinh đều mang 1 tính ngũ hành khiến nó có mối tương quan với tất cả các kinh khác theo qui luật ngũ hành. Mỗi kinh đều được 1 kinh khác hợp tác, trợ giúp. Mỗi kinh đều được 1 kinh khác sinh phù. Mỗi kinh đều phải sinh phù cho 1 kinh khác. Mỗi kinh đều khắc chế 1 kinh khác. Mỗi kinh đều bị 1 kinh khác khắc chế. Mỗi kinh đều phải thực hiện 5 mối tương quan trên một cách hài hòa để duy trì khối thống nhất của cơ thể và duy trì mối tương quan giữa tất cả các kinh mạch luôn ở thế cân bằng động.

D.2.2.3. Với huyệt vị, chúng cũng có những chức năng chung và những chức năng đặc thù riêng của mỗi loại huyệt.

+ Theo học thuyết kinh lạc mỗi huyệt vị đều là nơi dinh khí, vệ khí vận hành qua lại, nơi thần khí hoạt động vào ra, nơi kinh mạch dựa vào đó mà thông suốt với phần ngoài cơ thể, nơi biểu hiện các dấu hiệu bất thường khi tạng phủ hay kinh mạch mắc bệnh, nơi tiếp nhận các kích thích để điều trị bệnh của kinh mạch hay tạng phủ.

+ Do cấu trúc của huyệt gồm nhiều loại khác nhau như: Nguyên, lạc, khích, bối du (ở lưng), mộ. Tỉnh, huỳnh, du (ở tay, chân), kinh, hợp. Huyệt ngoài kinh (kỳ huyệt). Huyệt ở chỗ đau (a thị huyệt). Mỗi loại tên huyệt đều đặc trưng cho nguyên khí, kinh khí, khí của tạng phủ khi vận hành tới đó thì đặc tính ra sao, ví dụ : Huyệt nguyên là nơi nguyên khí đi qua và dừng lại. Huyệt du ở lưng là nơi khí của tạng phủ thấu ra. Huyệt du ở tay, chân là nơi kinh khí dồn lại …. Đồng thời mỗi loại huyệt cũng đặc trưng cho tác dụng điều trị những bệnh, chứng khác nhau, Ví dụ : Huyệt mộ, huyệt du ở lưng dùng chữa bệnh của tạng phủ. Huyệt du ở tay chân dùng chữa bệnh của bản kinh. Huyệt a thị chữa  các chứng đau ….

Đặc biệt 5 huyệt tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp mỗi huyệt còn mang thêm 1 đặc tính ngũ hành, nên chúng tương quan mật thiết với nhau, khi chúng sinh khắc hài hòa đường kinh sẽ ở thế cân bằng động tốt. Ngoài ra khi chọn huyệt để điều trị theo qui luật ngũ hành, sẽ tăng thêm kết quả điều trị .

D.2.2.4. Các đặc tính điện sinh học của hệ kinh lạc: Như trên đã chứng minh, hệ kinh lạc là 1 hệ hiện hữu trong cơ thể, nên có dòng điện sinh học riêng của nó.

Với những đặc tính về cấu trúc toàn bộ hệ kinh lạc, mỗi dường kinh, mạch hay mỗi loại huyệt vị như đã viện dẫn, ta có thể chứng minh thêm các đặc tính riêng của các dòng sinh điện thuộc hệ kinh lạc:

+ Với cả hệ kinh lạc:

– Do cấu trúc của cả hệ kinh lạc hoàn toàn đối xứng với mặt phẳng trước sau giữa 2 bên phài trái, nên trục ĐTTHTB của toàn hệ kinh lạc cũng  nằm trên mặt phẳng đó. Tâm của trọng trường nằm trên đường gặp nhau của mặt phẳng đứng trước sau và mặt phẳng ngang đi qua rốn, nên tâm của ĐTTHTBcũng nằm trên đường gặp nhau này và trục của ĐTTHTB cũng đi qua đường gặp nhau này.


Trong cơ thể hầu như không có nguồn điện sinh học đơn cực, nguồn sinh điện của tất cả các tổ chức, cơ quan đã được khám phá đều là nguồn sinh điện lưỡng cực, nên các nguồn sinh điện của hệ kinh lạc cũng là những nguồn sinh điện lưỡng cực.

– Vec-tơ chỉ cường độ trọng trường tổng hợp trung bình của nam giới có chiều từ trước hướng ra sau, của nữ giới có chiều từ sau hướng ra trước, vec-tơ CĐ ĐTTHTB cũng có chiều như thế.

– Về điểm đặt của vec-tơ CĐ ĐTTHTB ngoài dựa vào hiện tượng nam hay nữ bị chết đuối khi nổi lên nằm sấp hay nằm ngửa, ta còn có thể dựa vào học thuyết kinh lạc để chứng minh thêm:

Học thuyết kinh lạc gọi huyệt mệnh môn là cửa của sinh mệnh, rất hay dùng để chữa các bệnh nặng, hay bệnh có phần dương mất cân bằng nặng. Huyệt mệnh môn lại là huyệt ở trên mặt phẳng nằm ngang với rốn. Nên có thể xác định vec-tơ CĐ ĐTTHTB của nam giới có điểm đặt ở gần rốn, còn chiều hướng về phía huyệt mệnh môn, vì nam giới thuộc dương, mạch đốc và huyệt mệnh môn cũng thuộc dương, nên chiều của vec-tơ cũng phải hướng về phía dương.

Hệ kinh lạc có mạch nhâm có tác dụng điều hòa phần âm của toàn thân (bể của các kinh âm), trên mạch nhâm có huyệt thần khuyết ở giữa rốn (nơi hội tụ thần khí), huyệt khí hải (bể của khí) và huyệt quan nguyên (bể của nguyên khí) đều ở bụng dưới, 3 huyệt này thường được cứu để chữa phần âm mất cân bằng nặng. Huyệt thần khuyết nằm ngay trên mặt phẳng ngang đi qua rốn, nên có thể xác định vec-tơ CĐ ĐTTHTB của nữ giới có điểm đặt ở gần huyệt mệnh môn, còn chiều hướng về huyệt thần khuyết, vì nữ giới thuộc âm, mạch nhâm và huyệt thần khuyết cũng thuộc âm, nên chiều của vec-tơ cũng phải hướng về phía âm.

+ Với mỗi đường kinh, mạch:

– Như đã viện dẫn, mỗi kinh mạch dù có 2 đường đi ở 2 bên phải trái, hay chỉ có 1 đường đi ở chính giữa, nó cũng hoàn toàn đối xứng qua mặt phẳng trước sau giữa 2 bên phải trái, nên trục ĐTTHTB của mỗi đường kinh, mạch cũng nằm trên mặt phẳng trước sau.

– Tâm của ĐTTHTB, cũng như phương, chiều, điểm đặt của vec-tơ CĐ ĐTTHTB thuộc mỗi kinh, mạch , tôi chưa viện dẫn được lý do để chứng minh đầy đủ tọa độ của chúng. Điều duy nhất đã biết, trục điện trường nằm trên mặt phẳng trước sau, cũng chỉ xác định được tâm ĐTTHTB và điểm đặt của vec-tơ CĐ ĐTTHTB cũng ở trên mặt phẳng trước sau đó, vì tâm điện trường và điểm đặt của vec-tơ đều phải nằm trên trục điện trường, còn nằm ở điểm nào của trục điện trường thì đành chờ những nghiên cứu ở tương lai !

+ Với mỗi loại huyệt vị:

– Mỗi loại huyệt cùa 12 kinh chính đều có 2 huyệt cùng tên, 1 ở bên phải, 1 ở bên trái đối xứng với nhau qua mặt phẳng trước sau ở giữa cơ thể. Nên cũng như 12 kinh chính, ĐTTHTB 2 huyệt cùng tên của mỗi loại huyệt cũng có tâm, trục, vec- tơ, điểm đặt của vec-tơ nằm trên mặt phẳng trước sau này.

– Như đã viện dẫn ở trên, mỗi loại huyệt ngoài những chức năng chung, tùy theo từng loại huyệt nó còn có khá nhiều chức năng riêng khác nhau. Do đó, ở vị trí mỗi huyệt phải có các loại tế bào khác nhau để thực hiện các chức năng chung và riêng của huyệt, hoặc chỉ là những loại tế bào mà tổ chức học hiện đại đã quan sát được, nhưng biệt hóa đi để thực hiện các chức năng của huyệt (như ở điểm C5 tôi đã giả định: chính màng tế bào và màng bọc các tổ chức mới là tổ chức đặc thù của hệ kinh lạc). Như vậy , dòng sinh điện của những tế bào thực hiện các chức năng của từng huyệt trong 2 huyệt cùng tên thuộc mỗi loại huyệt, sẽ tổng hợp thành ĐTTHTB của từng huyệt, điện trường này do các tế bào cùng 1 chức năng và ở ngay tại chỗ tổng hợp thành, nó là dòng điện sinh học của từng huyệt, tương tác của các dòng điện sinh học khác lên nó không đáng kể, vì lực tương tác bị suy giảm theo bình phương khoảng cách và còn có thể suy giảm vì chức năng của mỗi dòng điện sinh học không giống nhau.

Huyệt ở ngay dưới da lại làm nhiệm vụ liên hệ giữa nội môi và ngoại môi, nên rất có thể trục ĐTTHTB vuông góc với mặt da, vì như thế sẽ giúp huyệt làm nhiệm vụ liên hệ giữa nội môi và ngoại môi tốt nhấtTâm ĐTTHTB của mối huyệt là tâm của huyệt đó.

– Ta có thể thấy ngay vec-tơ cường độ điện trường tổng hợp trung bình có điểm đặt ở tâm của huyệt. Còn phương và chiều ? Cũng rất có thể phương là phương của đoạn đường kinh,mạch có huyệt đó, chiêu là chiều của kinh khí vận hành.


D.3. Cách ghi và khảo sát các dòng sinh điện của hệ kinh lạc

D.3.1. Bản chất dòng điện ghi được bằng cách đặt 2 điện cực trên da:

Tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên mọi tổ chức, cơ quan và toàn cơ thể.

Đo dòng sinh điện của bất cứ tổ chức, cơ quan nào thực chất là đo dòng sinh điện tổng hợp của tất cả các loại tế bào cấu tạo nên tổ chức, cơ quan ấy. Đo dòng sinh điện của toàn cơ thể thực chất là đo dòng sinh điện của tất cả các loại tế bào cấu tạo nên cơ thể.

Y học hiện đại cho biết: Đặc trưng cho sự sống của tế bào là 1 chuỗi liên tiếp của 2 pha hoạt động (khử cực) và nghỉ ngơi (tái cực). Nếu chuỗi này dừng lại là tế bào chết.

Vì tế bào liên tục khử cực và tái cực nên dòng sinh điện của tế bào là dòng điện 2 pha. Do đó, dòng sinh điện đo được ở mỗi tổ chức hay toàn cơ thể chủ yếu cũng là dòng tổng hợp 2 pha. Nhưng vì mỗi tổ chức hay toàn cơ thể được cấu tạo từ rất nhiều loại tế bào, nếu có 2 hay nhiều loại tế bào có tần số như nhau, cùng có pha tái cực mạnh hơn pha khử cực, nhưng lệch pha nhau 180°; ta sẽ ghi thêm được dòng điện tổng hợp 1 chiều.

Muốn đo được dòng điện khử cực và tái cực của tế bào chính xác, ta phải đặt 1 điện cực ở ngoài màng, còn 1 điện cực phải xuyên qua màng vào trong tế bào.

Trên thực tế khi muốn đo dòng sinh điện tổng hợp của 1 tổ chức, ta không thể làm như vậy, vì ta không thể xuyên điện cực qua màng của hàng triệu, hàng tỉ tế bào! Ta chi có thể đặt 2 điện cực trên bề mặt của tổ chức đó thôi . Thông thường vì những điều kiện cụ thể ta chỉ có thể đặt 2 điện cực trên da chỗ gần tổ chức đó nhất .


Khi đo dòng sinh điện của bất cứ tổ chức nào bằng 2 điện cực đặt trên da thực chất là đo dòng điện sinh ra bởi các ions tích điện ở mặt ngoài màng tế bào (tức dòng điện của các ions tích điện ở khoảng gian bào của tổ chức ấy). Do đó, bản chất của tất cả các dòng sinh điện của cơ thể đều là dòng điện hóa . Ở thời điểm này khoảng gian bào có số ions dương nhiều hơn số ions âm ta ghi được 1 sóng điện dương (giai đoạn tái cực), sang thời điểm khác số ions âm lại nhiều hơn số ions dương ta ghi được 1 sóng điện âm (giai đoạn khử cực), chính sự khử cực (tế bào hoạt động) và tái cực (tế bào nghỉ ngơi) của màng tế bào là nguyên nhân gây ra sự thay đổi liên tục các ions tích điện ở khoảng gian bào. Vì thế, khi đo dòng sinh điện của 1 tổ chức bằng 2 điện cực đặt trên da chỗ gần tổ chức đó nhất, ta cũng chỉ gián tiếp đo được dòng điện khử cực và tái cực tổng hợp của các tế bào cấu tạo nên tổ chức đó, qua sự biến đổi liên tục của các ions tích điện trong khoảng gian bào của tổ chức đó thôi.


D.3.2. Đo dòng sinh điện của hệ kinh lạc :

D.3.2.1. Tại vị trí các huyệt ta đo được cả dòng sinh điện 2 pha và dòng sinh điện 1 chiều không đều. Đặc tính của chúng là luôn biến đổi, biên độ lúc này rất cao khi khác lại rất thấp, có thể khác nhau hàng chục lần. Với dòng 2 pha tần số cũng luôn biến đổi, khi nhanh khi chậm, cũng có thể nhanh chậm hơn nhau hàng chục lần.

Do đặc tính luôn biến đổi ấy, khi muốn khảo sát một loại huyệt nào đó (huyệt nguyên chẳng hạn) ta phải đo cùng 1 thời điểm cả 24 huyệt nguyên mới có thể so sánh huyệt này với huyệt khác được.

D.3.2.2. Cũng như điện vật lý dòng sinh điện có rất nhiều thông số (hiệu điện thế, cường độ dòng điện, điện dung, điện trở, dung trở, tổng trở, tần số….) nhưng hiệu điện thế và tần số quan trọng hơn cả, nên được ứng dụng phổ biến trong nghiên cứu y học.

D.3.2.3. Khi đo dòng sinh điện 2 pha cũng cần tuân theo 3 điều kiện:

+ Phải đặt cực đo ở gần tổ chức cần đo nhất: Với điều kiện này việc đo dòng sinh điện của huyệt hay kinh mạch có rất nhiều lợi thế, vì tổ chức huyệt và đường tuần hoàn kinh khí đi qua huyệt ở ngay dưới da, chỉ cách cực đo 1-2Cm, nó ngắn hơn khoảng cách từ điện cưc trước ngực đến tim, hay từ điện cực quanh đầu tới não nhiều. Nhất là, da được coi là phần bên ngoài của kinh mạch, nên khi ta đặt được cực đo đúng huyệt là ta thực hiện được yêu cầu đặt cực đo trực tiếp trên tổ chức cần khảo sát, dữ liệu đo được chủ yếu phản ảnh các đặc tính của huyệt cũng như đường kinh có huyệt đó, đặc tính điện của các tổ chức khác ảnh hưởng vào dữ liệu đo chỉ là thứ yếu.

+ Cực chung đặt gần tâm điện trường nhất : Yêu cầu này không quan trọng như đo điện tim điện não, vì các dòng sinh điện đo tại huyệt vị rất mạnh, hiệu điện thế đo được có khi lên đến 600-700 mV, mạnh gấp hàng trăm lần điện tim hàng nghìn lần điện não . Do đó, không cần tìm cách đặt thế nào cho điện thế của cực chung bằng 0, để có được hiệu điện thế cao hơn .


Tuy nhiên, nếu muốn cực chung có điện thế gần bằng 0 cũng rất dễ, vì hệ kinh lạc có 1 lợi thế rất lớn là tất cả các thành phần cấu tạo nên hệ, từ các huyệt đến các kinh mạch, đều đối xứng qua mặt phẳng trước sau giữa 2 bên phải trái (mặt đẳng thế có điện thế = 0) và ta đã chứng minh gốc của vec-tơ CĐ ĐTTHTB (điểm có điện thế = 0) ở gần rốn nam giới và ở gần huyệt mệnh môn nữ giới. Như vậy, khi đo nữ giới ta đặt cực chung lên huyệt mệnh môn, còn khi đo nam giới vì rốn không bằng phẳng khó đặt, ta đặt cực chung vào chỗ da bằng phẳng ở phía trên hay phía dưới rốn. Cả 2 điểm đều ở gần gốc vec-tơ CĐ ĐTTHTB nhất nên có điện thế gần = 0.

Hoặc muốn đỡ phiền toái, ta dùng 4 điện cực đặt lên 2 huyệt khúc trì và 2 huyệt túc tam lý (huyệt của 2 kinh đa khí đa huyết) rồi nối cả 4 huyệt với nhau thành hình sao, tôi gọi nó là “mạch Sao kinh lạc”, nó là mạch đối xứng của 4 điện trở đều gồm: cực điện, mặt tiếp xúc cực với da và cơ thể, nên 4 điện trở này coi như bằng nhau. Do hệ kinh lạc và 4 cực chung cùng đối xứng qua mặt phẳng trước sau nên cực chung có điện thế bằng điện thế ở gốc vec-tơ cường độ điện trường tổng hợp trung bình, tức = 0, cực chung này là 1 điện cực ảo đặt ở gốc vec-tơ cường độ điện trường tổng hợp trung bình và mặt đẳng thế số 0. Cực này nên nối vào cực âm của máy đo, còn cực dương của máy đo nên nối với điện cực khảo sát, nối như vậy ta sẽ ghi được 1 sóng điện dương khi huyệt có hiệu điện thế dương và 1 sóng điện âm khi huyệt có hiệu điện thế âm.

Tóm lại, biên độ các sóng điện chỉ phụ thuộc vào hiệu điện thế của huyệt.


Lưu ý: Phải đặt cực đo lên các vùng da không bj xước và không có sẹo để đảm bảo điện trở của các huyệt gần như bằng nhau.

+ Loại các dòng điện ký sinh vào huyệt: Để loại các dòng điện ở ngoài nhiễm vào cơ thể đối tượng đo và cực đo, ta dùng cách nối cơ thể đối tượng đo với đất , nếu giường đối tượng nằm đo làm bằng kim loại cũng phải nối với đất.


Do hệ kinh lạc có những mối tương quan với toàn bộ các tổ chức, cơ quan cấu tạo nên cơ thể, nhất là tương quan ngũ hành giữa các huyệt và các kinh mạch với tạng, phủ và các bộ phận khác của cơ thể, như học thuyết kinh lạc đã phân loại. ĐTTHTB của hệ kinh lạc được tổng hợp từ ĐTTHTB của toàn bộ tổ chức, cơ quan trong cơ thể, nên không có vấn đề dòng sinh điện của tổ chức không có quan hệ với hệ kinh lạc ký sinh vào cực đo. Vì thế, khi khảo sát dòng sinh điện 2 pha, không cần có bộ cộng hưởng tần số để loại bất cứ dòng sinh điện nào của cơ thể; nếu tìm cách loại bỏ bất cứ dòng sinh điện của 1 tổ chức nào, đều phá vỡ các mối tương quan của nó với hệ kinh lạc, phá vỡ tính thống nhất của toàn bộ cơ thể, phá vỡ luôn đặc tính tổng hợp của ĐTTHTB của toàn cơ thể. Đây là 1 đặc tính hoàn toàn khác biệt giữa khảo sát dòng sinh điện của hệ kinh lạc với khảo sát dòng sinh điện của não, tim, cơ….trong y học hiện đại.

Nếu khảo sát dòng sinh điện 1 chiều của hệ kinh lạc, do đặc tính đối xứng và đặc tính tương quan với toàn thân của nó, cũng giúp ta không phải băn khoăn về dòng sinh điện của 1 tổ chức không có quan hệ với hệ kinh lạc lẫn vào hiệu điện thê ở cực đo, vì trong cơ thể không có tổ chức nào không liên quan với nó.

D.3.3. Trình tự khảo sát hệ kinh lạc:

D.3.3.1. Khảo sát các huyệt cùng 1 loại (nguyên, lạc, khích …) là khảo sát các đặc tính điện thuộc các chức năng riêng của loại huyệt mang tên đó trên 24 đường kinh.

D.3.3.2. Khảo sát những huyệt quan trọng nhất của mỗi kinh, mạch (nguyên, lạc, khích, mộ, du ở lưng, tỉnh, huỳnh, du ở tay chân, kinh, hợp) là khảo sát các đặc tính điện thuộc các chức năng riêng của mỗi kinh, mạch.

D.3.3.3. Khảo sát tất cả các kinh, mạch là khảo sát các đặc tính điện thuộc các chức năng của toàn bộ hệ kinh, mạch.

D.3.3.4. Qua phân tích 3 điểm trên ta dễ nhận ra nên bắt đầu khảo sát từ các đặc tính điện của huyệt trước, và nên bắt đầu khảo sát từ huyệt nguyên vì huyêt nguyên vừa lá huyệt chính của mỗi kinh vừa có liên quan với nguyên khí của cơ thể, rồi đến huyệt lạc là huyệt có chức năng liên lạc với đường kinh có quan hệ biểu lý với kinh chủ quản nó, sau đó khảo sát đên các huyệt quan trọng khác của mỗi đường kinh.

 

----o0o----

Mời các bạn xem tiếp các phần tiếp theo:

1. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Lời tâm sự

2. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.1

3. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.2

4. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 1.3

5. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.1

6. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.2

7. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 2.3

8. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.1

9. Ứng dụng các dòng sinh điện trong chẩn đoán và theo dõi điều trị - Dòng điện sinh học của hệ kinh lạc 3.2


Bài viết cùng chuyên mục

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền với nội dung: “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Đây là một công trình nghiên cứu về hiện đại hóa y học cổ truyền . Nội dung : “Sử dụng Hiệu điện thế sinh học và Điện huyệt đồ của các huyệt ...

Cá lóc cuốn rau, canh mướp hương, sinh tố trái cây, cháo lươn, cháo bột mè... là những món ăn lý tưởng cho người bị bệnh trĩ quấy rầy.

Mỗi sáng thức dậy mọi người đều cảm thấy đầu óc thanh sáng, tinh thần phấn chấn. Nhưng, có một số người và trong một hoàn cảnh nào đó, giấc ngủ ...

Ở người bình thường, lượng mỡ trong gan dưới 5%. Do ăn uống nhiều chất béo (lipid) hoặc do rối loạn chuyển hóa làm cho lượng mỡ trong gan vượt quá 5% gọi ...