<?xml version="1.0" encoding="utf-8" ?>
<rss version="2.0">
<channel>
	<title>Trao Đổi Học Thuật</title>
	<description>Trao Đổi Học Thuật RSS</description>
	<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php</link>
	<pubDate>Thu, 09 Sep 2010 11:22:47 +0700</pubDate>
	<ttl>360</ttl>
	<item>
		<title><![CDATA[Những Nhân Vật "sàigon đệ Nhất"]]></title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15942</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro--><div align='center'><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro-->“Nhất Sĩ” trong tứ đại phú .<br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></div><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><!--coloro:#a9a9a9--><span style="color:#a9a9a9"><!--/coloro--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><b>Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Sài Gòn nổi lên bốn nhà cự phú, giàu có nức tiếng. Họ không chỉ giàu nhất Sài Gòn mà còn là giàu nhất Nam Kỳ lục tỉnh và cả giàu nhất Đông Dương. Bởi thế mới có câu <i>Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xương, tứ Định </i>(*) truyền tụng cho đến mãi ngày nay. Trước hết, chúng ta hãy "tiếp cận" với nhân vật được xếp hạng "số một": Huyện Sĩ. <br /><br /><img src="http://www.thanhnien.com.vn/News/Picture201002/Thang/dfgrgdsgdsgsdsgp435456.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Tượng bán thân Ông Huyện Sĩ.<br />Ngày nay, nếu có dịp đi qua góc đường Tôn Thất Tùng - Nguyễn Trãi (Q.1, TP.HCM), bạn sẽ thấy tọa lạc ở đây là một nhà thờ uy nghiêm, cổ kính. Đó là nhà thờ giáo họ Chợ Đũi, tuy nhiên dân gian vẫn quen gọi là Nhà thờ Huyện Sĩ nhằm tưởng nhớ người đã bỏ 1/7 gia sản của mình ra để xây dựng và cung hiến, dần dần tên gọi "Nhà thờ Huyện Sĩ" trở thành tên gọi chính thức của ngôi thánh đường này.<br /><br />Tiểu sử của Huyện Sĩ đến nay vẫn còn khá giản lược nhưng di sản và tiếng tăm của một dòng họ "trâm anh thế phiệt" đến nay vẫn lưu truyền.<br /><br />Huyện Sĩ tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900), thuở nhỏ có tên là Sĩ. Ông sinh tại Cầu Kho (Sài Gòn) nhưng quê quán ở Tân An (Long An) trong một gia đình theo đạo Công giáo, tên thánh là Philipphê. Do vậy, ông được các tu sĩ người Pháp đưa sang du học ở Pénang (Malaysia). Ở đây, Sĩ được học các ngôn ngữ: La Tinh, Pháp, Hán và quốc ngữ (chữ Việt mới sơ khai), rồi do trùng tên với một người thầy dạy nên Sĩ đổi tên thành Lê Phát Đạt. Khi về nước, Lê Phát Đạt được Chính phủ Nam Kỳ bổ dụng làm thông ngôn, rồi làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ (từ năm 1880). Tuy nhiên, dù đã đổi tên nhưng bà con lối xóm vẫn gọi ông bằng cái tên cúng cơm: Sĩ.<br /><br />Theo học giả Vương Hồng Sển trong <i>Sài Gòn năm xưa </i>(NXB TP.HCM, 1991) thì cái sự "lên hương" của Lê Phát Đạt chẳng qua là... ăn may:<i> "Tương truyền buổi đầu, Tây mới qua, dân cư tản mác. Pháp phát mãi ruộng đất vô thừa nhận, giá bán rẻ mạt mà vẫn không có người đầu giá </i>(chú thích: "Hồi Tây qua, nghe nói lại, những chủ cũ đều đồng hè bỏ đất, không nhìn nhận, vì nhận e nỗi quan và triều đình Huế khép tội theo Pháp. Vả lại, cũng ước ao một ngày kia Tây bại trận rút lui. Chừng đó ai về chỗ nấy, hốp tốp làm chi cho mang tội... Không dè bởi đất không ai nhìn, nên Pháp lập Hội đồng Thành phố, Ủy ban Điền thổ rồi đưa nhau đi khám xét từng vùng. Đến chỗ nào địa thế tốt, thì những ủy viên bản xứ nhận là của mình: "Ùy" (Oui) một tiếng! Đến chỗ nào nẻ địa thì lắc đầu, tiếp theo nói "Nông" (Non) cũng một tiếng! Chung quy chỉ học hai tiếng "Ùy", "Nông" mà có ông lập nghiệp truyền tử lưu tôn. Trận bão năm Giáp Thìn (1904), đất Gò Công bỏ hoang vô số kể, ai đủ can đảm chịu ra mặt đóng thuế thì làm chủ chính thức, mà có ai thèm đâu..."). Thế rồi, nài ép ông, ông bất đắc dĩ phải chạy bạc mua liều. Nào ngờ vận đỏ, ruộng trúng mùa liên tiếp mấy năm liền. Ông trở nên giàu hụ, trong nhà có treo câu đối dạy đời: "Cần dữ kiệm, trị gia thượng sách/Nhẫn nhi hòa, xử thế lương đồ".<br /><br />Tương truyền ngôi nhà lầu đồ sộ của Huyện Sĩ tại Tân An (nằm gần ngã ba sông Tân An và Bảo Định) được cất trên thế đất hàm rồng nên gia đình ông trở nên giàu có, danh vọng bậc nhất thời đó. Nhiều tài liệu nói rằng khi đang xây nhà thờ Chợ Đũi (tức nhà thờ Huyện Sĩ), theo yêu cầu của giáo dân vùng Bảy Hiền, người ta đã cắt bớt một gian giữa của nhà thờ này để lấy tiền đó xây nhà thờ Chí Hòa; con trai của Huyện Sĩ là kỹ sư Lê Phát Thanh cũng bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây (góc Quang Trung - Lê Văn Thọ, Gò Vấp). Tất cả những ngôi nhà thờ này đều xây trên đất của Huyện Sĩ. Ngày nay, nếu đi bằng xe máy từ nhà thờ Huyện Sĩ đến nhà thờ Hạnh Thông Tây phải mất gần một tiếng, đủ thấy "lãnh thổ" của Huyện Sĩ mênh mông chừng nào.<br /><br />Không chỉ có thế, các con của Huyện Sĩ như bà Lê Thị Bính (mẹ của Nam Phương hoàng hậu), Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân... đều là những đại điền chủ có rất nhiều đất đai ở Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ và Đồng Tháp Mười... Riêng trưởng nam của Huyện Sĩ là Lê Phát An được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương, là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ thuộc hàng dân dã, không là "hoàng thân, quốc thích" được lên ngôi vị cao quý nhất của triều đình (vương, công, hầu, bá, tử, nam - NV). Năm 1934, nhân dịp gả cô cháu gái về Huế làm Hoàng hậu, Lê Phát An đã tặng cho Nguyễn Hữu Thị Lan 1 triệu đồng tiền mặt để làm của hồi môn (1 triệu đồng lúc bấy giờ giá vàng khoảng 50 đồng/lượng, vị chi món quà này tương đương 20.000 lượng vàng - NV). Gia đình Nguyễn Hữu Hào (cha của Nam Phương hoàng hậu, rể của Huyện Sĩ) giàu hơn Bảo Đại. Trong đời làm vua của mình, vị hoàng đế thích ăn chơi Bảo Đại xài tiền của vợ nhiều hơn của hoàng gia.<br /><br /><img src="http://www.thanhnien.com.vn/News/Pictures201002/Thang/dfhdfhfhdfhfhdfhp8675643.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Nam Phương Hoàng Hậu (cháu ngoại của Huyện Sĩ)<br /><br />Huyện Sĩ mất năm 1900, hai mươi năm sau vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài cũng tạ thế. Người ta đưa xác hai ông bà vào chôn ở gian sau cung thánh nhà thờ Huyện Sĩ như một nhà mồ... Người viết đã may mắn quen biết với một người là thành viên của Hội đồng giáo xứ nhà thờ Huyện Sĩ nên đã nhờ ông dắt vào tận nơi (đây là khu vực đặc biệt, không phải ai muốn vào cũng được). Phía bên trái là tượng bán thân bằng thạch cao của ông Huyện Sĩ, kế đến là phần mộ bằng đá cẩm thạch được trang trí hoa văn (nghe nói là chôn nổi). Trên mộ là tượng toàn thân của ông Huyện Sĩ (cũng bằng đá cẩm thạch) nằm kê đầu lên hai chiếc gối, đầu chít khăn đóng quay mặt về phía cung thánh, mình mặc áo dài gấm có hoa văn rất tinh xảo, hai tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày. Phía bên phải, ở những vị trí đối xứng là tượng bán thân của vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài (1845-1920), rồi đến mộ và tượng toàn thân của bà: búi tóc, cũng nằm kê đầu lên hai chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài. Phía trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu của ông bà là Lê Phát Thanh (bên trái) và Đỗ Thị Thao (bên phải)... <br /><br />Đứng bên phần mộ của những con người đã từng có một thời giàu có và tiếng tăm nhất nước này, mới thấy kiếp người phù sinh. Tuy nhiên, phải thừa nhận phần mộ có tạc tượng của ông bà Huyện Sĩ xứng đáng là công trình nghệ thuật tuyệt tác.<br /><br /></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><div align='right'><!--coloro:#000000--><span style="color:#000000"><!--/coloro--><b>Hà Đình Nguyên</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--coloro:#a9a9a9--><span style="color:#a9a9a9"><!--/coloro-->.<!--colorc--></span><!--/colorc--></div><div align='right'>nguồn thanhnienonline.</div><!--colorc--></span><!--/colorc-->]]></description>
		<pubDate>Tue, 07 Sep 2010 04:48:41 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15942</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Đánh Giá Phong Thuỷ Kiến Trúc Trường Ptth Chuyên Hà Nội Amsterdam Mới</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15920</link>
		<description><![CDATA[<a href="http://vietnamnet.vn/giaoduc/201008/Ngoi-truong-pha-vo-mot-triet-ly-giao-duc-932810/" target="_blank">http://vietnamnet.vn/giaoduc/201008/Ngoi-t...iao-duc-932810/</a><br /><a href="http://vietnamnet.vn/giaoduc/201009/Truong-Ams-moi-don-the-he-hoc-sinh-dau-tien-933075/" target="_blank">http://vietnamnet.vn/giaoduc/201009/Truong...au-tien-933075/</a><br /><a href="http://www.ams.edu.vn/Article/Detail/234" target="_blank">http://www.ams.edu.vn/Article/Detail/234</a><br /><a href="http://tintuc.xalo.vn/00-1056121592/ngam_truong_thpt_ha_noi_amsterdam_moi_ngay_khai_giang.html" target="_blank">http://tintuc.xalo.vn/00-1056121592/ngam_t...khai_giang.html</a><br /><br />Ngôi trường này mới xây dựng, các bạn hãy quan sát và phỏng đoán về hậu vận của ngôi trường mới xây dựng này]]></description>
		<pubDate>Sun, 05 Sep 2010 10:14:36 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15920</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Kẻ Lửa(bài 2)</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15893</link>
		<description><![CDATA[<br />Kẻ Lửa, bài  2<br /> Khoa học gen chỉ ra rằng người Homo Sapient bắt nguồn từ Đông Phi,<br />khoảng 80.000 năm trước một nhóm trong số họ men theo bờ biển Ả Rập thiên di về bờ biển Ấn Độ phía đông. Khoảng 60-70.000 năm trước họ đã đến trú ở ven biển Đông Nam Á. Một chi đi về đông nam đến Indonexia, khoảng 50.000 năm trước họ đến  Châu Úc thành tổ tiên của người bản địa Maori ở Úc. Một chi khác men theo bờ biển Đông vào vùng Hoa Nam sau đó mới lên phía bắc cư trú ở lưu vực sông Hoàng.<br />Báo “Di truyền học Trung Quốc” năm 1991 đưa ra so sánh gen nhân  chủng người Trung Quốc, phát hiện người Mân Nam Trung Quốc (nghiên cứu ở Hạ Môn Phúc Kiến,Sán Đầu Quảng Đông), người Khách Gia ( nghiên cứu ở Mai Huyện Quảng Đông) về chủ thể huyết hình đều là Việt tộc phương nam ( gen chiếm 75% đến 90% trở lên), gần gũi nhất với người  Đông Nam Á; người Quảng Châu càng ít huyết thống phương bắc hơn cả người Mai Huyện. Mân Nam là tên chỉ vùng Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Đài Loan và Hải Nam, chung hệ ngữ gọi là Mân Nam ngữ. Thời cổ đại ngôn ngữ Bách Việt là một ngôn ngữ cộng thông tính. Phân tích của giáo sư Lâm Ma Lợi林媽利 viện nghiên cứu huyết thống của Đài Loan vào năm 2007 chỉ rõ người Đài Loan có 48% là đến từ Phúc Kiến, 52% còn lại là từ dân miền núi bản địa Đài Loan, dân đảo Đông Nam Á và dân các vùng khác của châu Á. Về gen thì 85% người Đài Loan có gen của dân bản địa Đài Loan và dân đảo Đông Nam Á, đồng thời hơn 90% người Đài Loan là có gen của Việt tộc. Các phó giáo sư Trầm Kiến Đức, Hứa Minh Châu của đại học Trung Hưng khi nghiên cứu tính chân thực trong tộc phả của người Hà Lạc Đài Loan đã nhận định rằng người Hà Lạc Đài Loan thực chất là người Bình Bồ (bản địa Đài Loan) đã bị người Hà Lạc di cư từ Phúc Kiến ,Quảng Đông sang đồng hóa chứ không phải là người Hán thuần chủng từ Trung Quốc đến Đài Loan.<br />Ngôn ngữ của dân Đài Loan là tiếng Ho Ló, sử gọi là tiếng Hà Lạc 河洛Người Đài Loan còn gọi là người Hà Lạc (Ho Ló), còn có các tên gọi khác là người Phước Lào, Hạc Lào, Học Lão, dân số 17 triệu người, phân bố ở Đài Loan và ở hải ngoại. Người Hà Lạc tức người nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Hà Lạc, bao gồm người Bình Bồ bản địa đã bị Hà Lạc hóa, người Việt đã bị Hán hóa, người Khách Gia đã bị Hà Lạc hóa. Họ là hậu đại của cư dân ven biển nam Trung Quốc di cư sang Đài Loan hỗn huyết cùng dân Bình Bồ bản địa. Thời xưa di dân từ Trung Quốc sang là dân Chương Châu漳州 và Tuyền Châu泉州 của Phúc Kiến và sau hơn là dân Triều Châu潮州, Sán Đầu 汕頭của Quảng Đông là những sắc dân Việt tộc đã bị Hán hóa.<br />Về ngôn ngữ Hà Lạc Đài Loan thì ở những vùng khác nhau của Đài Loan có giọng nói khác nhau chút ít nhưng đều giao tiếp được. Đài Loan có bốn dân tộc lớn, người Hà Lạc Đài Loan chiếm  73,3%(16.572.000 người). Người Khách Gia ở Đài Loan được gọi là Hà Lạc Khách vì ngôn ngữ của họ đã hầu như thất truyền, nhiều người vẫn nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Khách Gia nhưng lại tự xưng mình là người Hà Lạc, nhiều nhân sĩ người Khách Gia kể cả nguyên tổng thống Lý Đăng Huy tiên tổ là người Khách Gia ở Giang Châu Phúc Kiến thì đến đời tổ phụ của họ đã là không còn nói được tiếng Khách Gia.<br />Giải thích từ vựng Hà Lạc河洛<br />Để giải thích nguồn gốc của từ vựng này, vốn chỉ một tộc người ngày nay nói thứ tiếng đó là tiếng mẹ đẻ của họ, thì phải dùng mẫu tự Latin ký âm đúng như người Đài Loan gọi là “ Ho Ló”. <br />Chữ Mân là chữ thời Tần chỉ dân tộc bản địa toàn bộ vùng Đông Việt và Nam Việt , ngày nay thành cái tên chỉ vùng bao gồm toàn bộ tỉnh Triết Giang, toàn bộ tỉnh Phúc Kiến, Triều Châu và Mai Châu của Quảng Đông.  Thời Đông Hán học giả Hứa Thận trong cuốn sách “Thuyết văn giải tự “của mình đã giải thích chữ Mân là chỉ Việt tộc thờ rắn vùng Đông Nam, lấy bộ thủ “môn” làm chú âm, bộ thủ “trùng” làm phù hiệu nghĩa. Mân Việt tộc là tộc Việt vùng Đông Nam thờ rắn. Năm 1984 ở Phúc Kiến đã khai quật được Cổ Việt thành là thành của vua nước Mân Việt.<br /> Thực ra cổ đại thì Mân là từ ký âm chỉ người Mun,da ngăm ngăm hơn người Hán, mà người Hán còn gọi là người Man蠻 với ý khinh thị. (Từ “mun” là từ Việt cổ chỉ màu đen, có lẽ nó có từ thời lục địa “Mu” , tự nó cũng đã nói lên nguồn gốc châu Phi của loài người, từ “mun” ấy nay trong tiếng Việt chỉ còn ở “cây gỗ mun”, “con mèo mun”, “con chó mực”, “mực tàu” mà thôi, còn thì phổ biến dùng từ “đen” thay thế). Danh từ “Bách Việt” đến thời Xuân Thu Chiến Quốc mới xuất hiện trong Hán thư để chỉ Việt tộc nói chung, chứ còn âm tiết “việt” thì nó đã có trước đó hàng ngàn năm.<br />Văn hiến đời Thanh ghi rằng người Khách Gia ở Phúc Kiến gọi những người nói tiếng Hà Lạc ở Phúc Kiến là “ Hà Lão” hay  “Phúc Kiến Lào” , gọi tắt là “Phúc Lào”, tiếng Khách Gia phát âm là “ Phuk Lò”, tự gọi mình là “Khách Gia Lào”. Còn người Hà Lạc gọi chính mình là “Ho Ló”. Âm tiết “Ló” và “Lò” trong tiếng Hà Lạc hay tiếng Khách Gia có nghĩa là “người” , sử thư viết là “ Hà Lạc nhân” tức “người Hà Lạc” là viết thừa chữ người, làm cho người đọc cứ tưởng  Hà Lạc là tên một địa phương nào đó nên người xuất xứ từ đó gọi là người Hà Lạc.Tuy vậy ngày nay từ “Hà Lạc”mà chính sử dùng và giải thích là “do nguồn gốc từ lưu vực Hoàng Hà và Lạc Thủy tức Trung Nguyên”, nghiễm nhiên thành từ chỉ  tộc người cũng như chỉ ngôn ngữ của họ.<br />Trung Quốc sở dĩ tồn tại tới 7 phương ngữ không thể giao tiếp với nhau được là do nguồn gốc của chúng không đồng nhất.Tiếng Ho Ló là một ngôn ngữ bắt nguồn từ phương Nam. Khi người Hán tránh xâm lăng của Hồ, Di mà chạy về Giang Nam thì họ chỉ là dân tị nạn, thiểu số so với dân bản địa ở đó từ xưa.  Ngôn ngữ Ho Ló cổ là tiếng mẹ đẻ của người Phúc Kiến. Sau do người Hán di cư đến và ảnh hưởng của chữ Hán tạo nên ngôn ngữ Ho Ló có diễn biến Hán hóa, nhưng không thể vì cái yếu tố Hán hóa này mà nói rằng tiếng Ho Ló bắt nguồn từ lưu vực Hoàng Hà, cũng giống như người Hàn, người Nhật, người Việt Nam từ xưa vẫn học và đọc chữ Hán nhưng không thể nói tiếng các dân tộc đó là bắt nguồn từ lưu vực Hoàng Hà. Lại nữa, người Hán ở phương Bắc do bị người Hồ thống trị nên ngôn ngữ của họ bị ảnh hưởng, nhưng không thể nói ngôn ngữ họ là tiếng Hồ được.<br />Trong tiếng Khách Gia nói “Lò” và tiếng Hà Lạc nói “Ló” có nghĩa là “người” ,vậy nó chính là từ tiếng Việt nói “Lòi” cũng gọi là “Nòi” (do tiếng Việt “N”và “L” chuyển đổi được cho nhau nên hay bị lầm lẫn với từ đồng âm dị nghĩa,vì tiếng Việt còn có từ “nòi” = “giống”, bởi vậy mới cần đến ngữ pháp hàn lâm để qui ước chặt chẽ), tiếng Lào nói “Nọi” hoặc “Neo”, tiếng Quảng Đông nói “lào” đều có nghĩa là “người”. Tiếng Việt “con người” còn nói là “con nòi” , xứng đáng là “con nòi” ý là xứng đáng là người để làm giống, do chơi chữ nòi=người, đồng âm dị nghĩa với nòi=giống. “Nòi” có biến âm là “Mòi” cũng nghĩa là người, mà trong tiếng Việt con người cổ xưa nhất tức xuất hiện đầu tiên trên trái đất thì gọi là “Mọi” (chứ không phải như trong nhà trường vẫn giải thích “mọi” là từ “do thực dân Pháp sang ta nó đặt ra để gọi miệt thị dân ta”). “Mòi” là cá nhân một con người tức “Mỗi”, phân biệt được với nhau từ cái mong manh nhất là “Mùi” nên con chó nó mới đánh hơi phân biệt được. Biến âm “Mùi” ở giới hạn khái niệm này cũng nghĩa là “con người cá nhân” mà chữ nho viết là “Vị” 位mà gốc dân gian của nó từ thuở đầu tiên là “Lòi”. Từ vựng “Lòi” ấy Quan Thoại đọc là “wây” (của chữ Vị), L- đã biến sang V- tương tự như Lang đã biến thành Vương mà Quan Thoại đọc là “Wáng” cũng như “Lửa” tức chữ nho Liệt烈 (“rực”) đã biến thành Việt 越,粤mà Quan Thoại đọc là “Duê”. (“Duê”, “Yuê” còn biến âm thành “Huê” 華, “Hoa” 華, người Hoa cũng là do Việt tộc mà ra). Chư vị=các vị=các người=các ngài. Còn từ vựng “mùi” ở khái niệm là cái ngửi được thì chữ nho cũng viết bằng một chữ “Vị” khác là 味 (cũng còn đọc là “mùi”) mà Quan Thoại đọc là “wây” chứ trong Quan Thoại không có âm tiết “mùi”. Trong tiếng Việt thì cái mà ngửi được là “mùi”= “vị”= “mùi vị”, từ ghép “mùi vị” là ghép “mùi” của dân gian có trước với “vị” của chữ nho đồng nghĩa có sau để chỉ “nhiều mùi”, trong cách ghép đó “mùi” đứng trước vì nó ra đời trước, mà  không hề có  ghép ngược là “vị mùi”, đúng như qui luật của tiếng Việt. “Ngửi mùi” để nhận biết chính mình đã cho ra từ “Người” đồng nghĩa với “Lòi” ban đầu, mà tiếng Đài Loan từ mang nghĩa là “người”, họ phát âm là “nghìn”. Từ vựng “Mòi” nghĩa là “người” ấy trong tiếng Mân Nam có từ vựng “Mằn” cũng là “người”, mà chữ nho viết là “Dân”; trong tiếng Quảng Đông thì còn có từ vựng “Dành” cũng là người, mà chữ nho viết là “Nhân”, còn tiếng Tày thì gọi là “cần”. Từ “nhân dân” là một từ ghép hai từ đồng nghĩa “nhân”= “dân”= “người” để mang ý “nhân dân” là nhiều người, đúng như qui tắc của tiếng Việt, “nhân dân” thì Quảng Đông-Phúc Kiến nói là “dành mằn”, Quan Thoại  nói là “rấn mín”.Tiếng Huế có từ “tình cảm mằn mòi” nghĩa là tình cảm “mằn” với “mòi” tức người với người, nó hẳn là sâu sắc và nó mang nghĩa ngọt ngào chứ không phải là “mặn mòi” tức “mặn mói” = “đậm muối” = cho quá nhiều muối. Tiếng Việt từ vựng “Lòi Người” là một từ ghép hai từ đồng nghĩa con người để tạo ý nhiều người, đúng qui luật từ “Lòi” ra đời trước nên đứng trước, “Lòi Người” sau phát âm là “Loài Người” (chắc do từ tiếng Huế, “nói” phát âm thành “noái”, “thói” phát  âm thành “thoại”, chứ ở vùng quê Nam Bộ “đối thoại” người ta vẫn phát  âm là “đối thọi”). Từ ghép “giống lòi” trong tiếng Việt chỉ có duy nhất một nghĩa là “giống người” nhưng hàm ý còn hẹp hơn, đó là “giống lòi Việt”, “giống Việt”, nhưng do hàn lâm quen nói “N”, chê nói “L” là nói ngọng, nên dùng “giống nòi Việt”, câu “giống nòi Việt Nam” là một câu thiêng liêng, tuy vậy nó bị đồng âm thành ra nhạt  ý, vì “giống” = “nòi” nên “giống nòi” = nhiều giống =  nhiều nòi, đã nói Việt thì chỉ có một giống tức một nòi chứ làm gì có nhiều?  “Loài người” nghĩa là “nhiều người”, cũng tương tự như vậy, từ “mọi” nghĩa là “ người” có từ ban đầu cũng được ghép đứng trước từ “người” để có từ “Mọi Người” nghĩa là nhiều người. Còn có từ ghép “ Mọi Nhân” = nhiều Người , mà “Mọi Nhân” đã lướt thành “Muôn” để chỉ con số, Muôn (Việt) = Mưn (Tày) = Man (Nhật Bản), chữ nho viết là Vạn萬, quan thoại đọc là “wan”. Lòi Người = Mọi Người = Loài Người = nhiều Người theo đùng qui tắc của tiếng Việt là: hai từ đồng nghĩa ghép với nhau thì thành một từ ghép có hai âm tiết cũng đồng nghĩa nhưng mang ý là nhiều, trong thứ tự ghép thì từ xuất hiện trước đứng trước, từ xuất hiện sau đứng sau. Đây chính là do tư duy “ lưỡng hợp” của người Việt, kẻ đã phát minh ra thuyết  Âm Dương, hai từ đồng nghĩa tức cùng gốc từ Một, nhưng là hai âm tiết khác nhau như một tiếng  Âm và một tiếng  Dương, cùng hợp với nhau chúng sẽ cho ra “nhiều”.<br />Từ “Lòi” nguyên thủy trong tiếng Việt nghĩa là “người” ấy cũng chính là từ mà người Việt nguyên thủy dùng gọi “Mặt trời” là “Blời”,rồi vo thành “Lời”, rồi lại biến âm thành “Trời” (Trống đồng có hình mặt trời là sản phẩm đặc trưng của người Việt cổ). Con “Lòi” tồn tại dưới mặt “Lời” từ khi nó “lòi” ra khỏi bụng mẹ, rồi nó “lớn” lên, đến khi nó “lằm” xuống là hết một “đời”của nó, từ “Đời” chữ nho viết là “Đại” 代 mà Quan Thoại đọc là “tai” (vậy thử hỏi chữ “Đại” ấy là từ Hán-Việt hay từ Việt-Hán? Tiếng Hán gọi là “thế”, “thế hệ”).Từ “Con” do từ “Kẻ” mà ra , “con người” = “con lòi” =  “kẻ lòi”. Cũng cùng logic như đời người ( Lòi ra, Lớn lên, Lằm xuống), sự tồn tại của mặt trời là “Lời” trong một ngày cũng là từ “Lòi” ra lúc bình minh,lên “ Lửa” lúc giữa trưa, cho đến “Lặn” xuống lúc hoàng hôn là hết một “Ngày”, rõ ràng là từ “Ngày” rất có logic với từ “Ngài” = “Người”. Chính “Lòi” nghĩa là “người” đã biến âm thành “Lửa” bởi người nguyên thủy đã biết tự gọi mình là người bằng tiếng “Lòi” từ khi còn chưa phát hiện ra lửa, khi loài người tìm ra được lửa họ mới thực sự là “người” và  làm chúa tể muôn loài. Khi người nguyên thủy vô tình cọ xát đá sinh ra lửa cháy họ đã hô lên “lòi !” để gọi nhau đến “coi”. “Lửa” đã có tên gọi do “Lòi”, và logic tồn tại của Lửa cũng tương tự logic tồn tại của “đời người” hay logic tồn tại của “ngày trời” là Lửa đã từ “Lòi” ra khi nảy ra từ đá , lớn lên thành ngọn là Liệt (rực) nhất rồi giảm dần cho đến lúc “Lụi” đi khi đã ngốn hết củi đun. Người Việt cổ đã tự gọi mình là “Kẻ Lòi” mà lúc đầu là “Kẻ” hay “Lòi” đều có nghĩa là “người”. “Lửa” đã sinh ra do từ “Lòi” là người vì chính con người tìm ra lửa và làm ra lửa nên người Việt cổ cũng còn gọi mình là “Kẻ Lửa” là một từ đại diện để phân biệt với những kẻ khác là động vật không biết làm ra lửa. Rồi người Việt sáng tạo ra dịch lý, gọi Kẻ Lửa là Quẻ Ly, xác định phương nơi mình sống là phương của quẻ ly là phương xích đạo ấm (chữ nho là “Ôn” 温) là phương nóng bức, từ đó “Quẻ Ly”= “Kẻ Lửa”= “Kẻ Lả”= “Kẻ La”= “Kẻ Ly” đều là tên người Việt tự gọi mình. Chẳng thế mà nhà sàn có đốt bếp lửa ở giữa sàn như còn thấy ở vùng Tây Nguyên hay miền núi phía bắc, đồng bào miền núi phía Bắc Việt Nam đến ngày nay vẫn gọi là “nhà quẻ ly”, đó chính là nhà của dân Kẻ Lửa tức dân Việt. Chuyện cổ tích của người Ba Na kể rằng thời xưa loài người nói chung một thứ tiếng, sau vì cùng nhau dựng một cái nhà rông quá rộng,mài nhà quá lớn quá cao, khi lợp mái người ngồi lợp các phía mái chẳng thấy được nhau, đến khi lợp xong xuống thì không còn hiểu nhau được nữa vì tiếng nói đã bị khác nhau mất rồi. Cái mái lá của nhà rông cong bốn phía và võng trên nóc để lại dấu ấn rõ ràng trong kiến trúc đền chùa miếu mạo của khắp vùng Phúc Kiến, Quảng Đông,Việt Nam và Trung Hoa mà hoàn toàn không phải là dấu ấn của kiến trúc của dân du mục đồng cỏ Mogoloit. Nhà sàn “quẻ ly” ấy thời cổ đại tồn tại phổ biến ở Quảng Đông mà sử thư gọi là nhà “sào cư 巢居tức nhà cách đất trên cọc như tổ chim, ở Việt Đông”, và phổ biến ở Phúc Kiến mà cổ thư gọi là nhà cách đất tức “nhà can lan 干欄 ở Mân Việt”, do phiên chữ một âm tiết là “sàn” mà thành chữ “can lan”.<br /> Quẻ Ly là “Lửa” được người Việt ghi bằng ký tự kẻ vạch của dịch lý bằng ba kẻ vạch là : một kẻ vạch liền là Dương ở dưới cùng, một kẻ vạch đứt là Âm ở giữa, một kẻ vạch liền là Dương ở trên cùng, logic biến của nó từ hào dưới là vạch dưới cùng lên hào trên là vạch trên cùng cũng là logic biến từ tĩnh (Dương) đến động (Âm) rồi lại đến tĩnh (Dương), cũng hợp logic biến của “Lòi” là con người từ “Ló” ra đến “ Lớn” lên rồi “Lằm” xuống, cũng là logic trong một ngày trời của “Lời” là mặt trời từ “Ló” ra đến “Liệt”(rực) nhất lúc giữa trưa rồi cũng đến “Lặn”. Ba kẻ vạch của quẻ ly là một nét dài dưới, hai nét ngắn giữa, một nét dài trên, tất cả là bốn nét. Bốn nét ấy đã được cách điệu thành chữ nho là bộ Hỏa 火 hay灬đều chỉ gồm bốn nét . Lại do Lửa là từ đại diện chỉ người nên chữ nho có chữ Nhân 仁bốn nét là lòng nhân tức chữ nhân viết hoa, và có chữ Tâm心 bốn nét là từ đại diện chỉ con người, mà hình ảnh của chữ Tâm心 là ba ông đầu rau và cái vòng kiềng chỉ cái bếp, lửa trong lòng người cũng như cái bếp ở giữa sàn nhà sàn là nơi quây quần gia đình. Quẻ Ly cũng như các tên quái khác trong bát quái rõ ràng là những cái tên Việt ở Việt Nam, thời mà người Việt sáng tạo ra Bát Quái thì đã ghi bằng ký tự của dịch lý, rồi sau chắc là có ký âm bằng chữ khoa đẩu mà đã bị thất truyền, chữ nho chưa kịp đặt chữ cho chúng theo đúng âm và đúng biểu ý, để cho về sau người Mongoloit vốn chỉ quen dùng âm tiết chắp dính chứ không quen chữ biểu ý nên đã dùng những chữ nho có âm tương tự tiếng Việt để ghi âm, thành ra Ly vốn là lửa được họ ghi âm bằng chữ “ly” 離 là ly khai ,chẳng có một bộ thủ nào là hỏa, chữ Cấn vốn là núi ( do “bnâm” = “phnom” = “non” = “cồn” = “cấn”  là từ Khơ Me sang Việt) đã được họ ghi âm bằng chữ “cấn”艮 cũng chẳng có một bộ thủ nào là sơn, và các tên của các quẻ khác của bát quái cũng trong tình trạng như vậy cả. Học giả Trần Trọng Kim năm 1945 đã có ý muốn lấy ký tự “Quẻ Ly” trong dịch lý của dân Kẻ Lửa để làm hình tượng biểu trưng cho dân tộc Việt, vì các vạch của Quẻ Ly nếu tô đậmdày nét lên thì nhìn thấy rõ phần trống còn lại của nó là hình chữ “công” 工 nghĩa là người lao động. Ngày nay ta lấy hoa văn mặt trống đồng Đông Sơn làm hình tượng biểu trưng dân tộc Việt, mà như Nhật Nguyên đã giải mã, nó có ý nghĩa lịch sử và văn hóa toàn diện và sâu sắc hơn nhiều.<br />Thời Tần người Hán di cư xuống Mân ngày càng nhiều, nhất là từ thời Tấn và Lục triều thì số người Hán di cư xuống Mân chỉ có ngày càng tăng chứ không giảm, ngôn ngữ Việt tại chỗ dần dần bị đồng hóa, nhất là ngữ pháp. Đến thời Đường Tống thì căn bản đã định hình một thứ ngôn ngữ được gọi là Mân Nam ngữ tồn tại đến ngày nay trong khẩu ngữ mà chỉ có nó mới đọc đúng được vần điệu của những thơ và những từ viết vào thời thời Đường Tống. Tiếng Mân Nam  Đài Loan cũng bảo lưu được thanh điệu thời trung cổ này nên đọc và ngâm được đúng thơ Đường. Mân Nam ngữ về khẩu âm sở dĩ được bảo tồn cho đến ngày nay là do khoảng thời Minh các cố đạo Tây Ban Nha ở Manila đã dùng ký tự Latin để phiên âm tiếng Mân Nam phục vụ cho truyền giáo. Người Mân Nam di cư đến Đài Loan vào cuối Minh đầu Thanh, đến cuối thời Thanh thì đã phổ biến toàn Đài Loan. Người bản địa Đài Loan lui lên vùng rừng núi, người Khách Gia định cư ở vùng chân núi Đài Bắc, người Mân Nam ở vùng đồng bằng phía Tây.<br />Tiếng Ngô: lang = người, am = lãnh (= ẵm, người Việt vẫn nói “nó ẵm gọn tiền của người ta rồi”).Tiếng Quảng Đông “lào” 佬 = con trai. Người Khách Gia gọi người Phúc Kiến là “Phúc lào” 福佬 (huk lò) với ý miệt thị, tiếng Khách Gia “lò” 佬 = người, những từ khinh miệt trong tiếng Khách Gia như “tặc lò” 贼佬= kẻ trộm, “á lò” 哑佬 = kẻ câm. Người Trung Nguyên không biết nên viết là Phúc Lào nhân 福佬人 = người Phúc Lào, người đời sau cứ tưởng Phúc Lào福佬 là một tên riêng địa danh hay tộc người, cuối cùng cũng chấp nhận trong chính sử như cái tên riêng là Phúc Lào mà người Khách Gia phát âm là “huk lò”, người Đài Loan phát âm là “ho ló”. Về sau có xuất hiện một cuốn sách là “ Phúc Lào thoại ngữ pháp” không biết tác giả là người Khách Gia hay người Đài Loan. Các âm “phúc”= “học” = “hạc”= “hà” chỉ là biến âm của một từ mà người Mân phát âm là “hok”, “họ”, “hỏ”. Các âm “lào”= “lão”= “lạc” cũng chỉ là biến âm của một từ mà người Mân phát âm là “ló”. Thành ra có các từ dùng chữ nho ghi âm trong chính sử là Phúc Lào福佬, Phúc Lão福老, Học Lào學佬, Hạc Lào鶴佬, Hà Lạc河洛, rồi bảo đó là những tên gọi khác nhau của một tộc người có một hệ ngữ riêng là tổ tiên của người Mân Nam. Những chữ ký âm đó đúng là tam sao thất bản, chẳng có biểu ý gì để chứng tỏ nó là một địa danh hay tộc người cả. (Đó là nhược điểm của văn tự không phải là văn tự ký âm. Nhưng văn tự biểu ý cực kỳ hữu dụng cho những ngôn ngữ có quá nhiều từ đồng âm dị nghĩa như tiếng Hán hay tiếng Nhật. Người Nhật đã vô cùng sáng tạo khi từ chỗ dùng hoàn toàn chữ nho mà họ gọi là kanji đã chế tác thêm ra văn tự ký âm hiragana để ghi những từ gốc Nhật và văn tự ký âm katakana để ghi những từ gốc phương Tây, thành ra trong văn bản tiếng Nhật dùng cả ba loại ký tự.Văn tự biểu ý còn có một lợi thế nữa là khi đã được ngữ pháp hàn lâm bắt buộc nó phải đồng nhất về ngữ pháp thì nó là một công cụ hữu hiệu làm văn viết chung cho các cộng đồng khẩu ngữ không giao tiếp được với nhau có thể thống nhất được với nhau trong một quốc gia, đó là phương thức gọi là bút đàm). Những từ chỉ có “tiếng” mà  không có chữ  trong ngôn ngữ Mân Nam có nhan nhản, vốn cái tênHà Lạc ấy tự điển cổ ký âm là “hỏ ló”,người đời sau bị Hán hóa bằng chữ viết và bằng ngữ pháp trong văn ngôn và cả văn nói rồi nên lu mờ luôn cũng không còn biết nguyên gốc nó nghĩa là gì, đành chấp nhận là cái tên như chính sử viết về mình là Hà Lạc河洛. Chính sử lại căn cứ vào cái chữ Hà Lạc河洛 là có vẻ có biểu ý hơn cả trong những cái tên trên, nên giải thích là đó là người từ vùng Hà là Hoàng Hà và từ vùng Lạc là Lạc Thủy, tức từ Trung Nguyên tới , là tổ tiên của người Mân Nam. Các bậc túc nho ngày xưa đâu có ngớ ngẩn gì mà viết như vậy? “Hà” là “sông”, Hoàng là tên riêng; “Thủy” là đại diện cho “sông”, Lạc là tên riêng; nếu ghép hai lưu vực đó thành một cái tên vùng chung như một cái tên riêng thì phải lấy hai tên riêng ghép lại với nhau là Hoàng Lạc chứ, tức vùng lưu vực Hoàng hà và Lạc thủy. Rõ ràng là “Hà Lạc” chỉ là mượn chữ nho để ký âm “hỏ ló” mà thôi. Các học giả Trung Hoa đã  tìm suốt một trăm năm qua trong thư tịch “Phúc Kiến chí thư” 福建志書 mà không thấy có chữ nào là chữ Hà Lạc河洛 là danh xưng( tên đất hay tên tộc người cả). Còn “ Hỏ Ló” là gì thì phải hỏi người Bách Việt cổ ấy, họ có Nôm na mới hiểu được, nó là chữ “Kẻ Lửa” hay “Kẻ Lòi” tức “nhiều người” hay “bách Việt” cũng vậy. Lòi = Người (Việt) = Lào (Quảng Đông) = Lang (Ngô) = Lò =Ló (Mân Nam) = Lang (=con trai vua Hùng ,như Hán thư đã ghi) = Quan (=con trai vua Hùng, như Hán thư đã ghi) = Dân (=người, địa vị xã hội thấp hơn Quan) = Cần (Tày) = Dành (=nhân, Quảng Đông)= Mằn (=dân, Phúc Kiến). Kẻ = Lả= Tỏ= Đỏ=Hỏ (Mân Nam)= Người ( “dân đen” = “con đỏ” = nhân dân= nhiều người, mà địa vị xã hội thấp hơn Quan tộc).  “Lòi Lang” = nhiều Người vì là hai từ đồng nghĩa “ người” ghép với nhau.  Còn ý nữa, Lòi Lang = Người + Con trai vua Hùng, nên nó có nghĩa là nhiều người , nhưng là “cộng đồng người có người đàn ông lãnh đạo”, đó chính là “Làng”, do lướt từ “ Lòi Lang” mà thành từ một âm tiết là Làng .( Qui tắc lướt để thành từ một âm tiết là một qui tắc cố hữu tự nhiên trong tiếng Việt do thói quen “đơn âm thành nghĩa”  đối với từ hai âm tiết hay đối với cả một câu dài, dù dân gian chẳng biết chữ họ vẫn đặt ra từ lướt một cách tự nhiên. Ví dụ câu “ thợ dũa Lưỡi cưa cũ cho sắc lại như Mới” đã lướt thành “thợ Lỡi”, đó là thợ tay nghề cao dù thủ công nhưng không phải ai cũng làm được “thợ Lỡi”, này nay tự động hóa, người ta gọi là “máy mài tự động lưỡi cưa” chứ không biết gọi là “máy Lỡi” như từ “thợ Lỡi “ đã dùng phổ biến ở miền Nam từ xưa, đó là vì từ điển hàn lâm không theo kịp ngôn ngữ dân gian. Hay như câu “đi du lịch kiểu Phóng khoáng Vượt mọi trở ngại tự nhiên và sự bắt buộccủa tua truyền thống” đã được giới trẻ ngày nay chỉ lướt một tiếng là “đi Phượt”).Từ “làng” trong tiếng Việt hàm ý cộng đồng người chứ không hàm ý vùng đất, chỉ có tên riêng đi kèm “làng” mới là địa danh. Ví dụ “làng” Cót là nơi “nhiều người”= “dân làng” làm cót, “làng” Bún là nơi “nhiều người” = “dân làng” làm bún. Khi có người lỡ gặp nạn ở cánh đồng làng Bún, người đó kêu cứu gọi : “bớ làng ơi ! cứu tôi với! ” = “bớ mọi người ơi !...”= “bớ nhiều người ơi!...”= “bớ dân làng ơi!...” =  “bớ nhân dân ơi!...”, chứ không phải là gọi  “bớ Bún ơi ! cứu tôi với !”. Bởi vậy những từ chỉ người thì “Lang” biến thành（ “wáng”）= Vương, Lửa biến thành （“lia”）= Liệt, biến thành Việt; quan thoại là bắt chước tiếng dân gian thì mới có thể giao tiếp quan dân được, lấy luôn cả chữ nho có từ xưa, chỉ có là phát âm theo giọng quan tộc và bắt ngữ pháp phải theo ngữ pháp ngôn ngữ của quan tộc, quá trình ấy gọi là quá trình đồng hóa ngôn ngữ.(Đồng nhất ngữ pháp đã phải hoàn thiện trong hàng ngàn năm để cuối cùng hoàn toàn theo ngữ pháp quan thoại.Thời kỳ đầu cú pháp Việt vẫn chiếm ưu thế. Bởi vậy người quan thoại ngày nay đọc cổ văn chữ Hán dù biết hết mặt chữ mà vẫn không thể dịch ý ra được, phải học qua đại học chuyên về dịch cổ văn thì mới dịch được,cũng như người Việt Nam ngày nay dù có giỏi ngoại ngữ là tiếng quan thoại cũng không dịch nổi cổ văn, phải học qua đại học Hán-Nôm thì mới dịch nổi cổ văn.Ví dụ câu cổ văn viết “thử điềm điềm giả” 此甜甜者 = thử điềm điềm dã” 此甜甜也,  không ai hiểu nổi, nhưng rõ ràng nó là câu chữ nho ngữ pháp Việt: “nó ngọt ngọt là”). Từ “ Ho Ló” chính là “Kẻ Lòi” = “Kẻ Lửa” đã bị lịch sử Hán hóa làm lu mờ đi mà thôi.Ta so sánh từ vựng tiếng Ho Ló với từ vựng tiếng Đông Nam Á và tiếng Nam Đảo (Austronesian) thì thấy nhiều từ giống nhau, về thanh âm nó không phải là của tiếng Hán ( xem <a href="http://ws.twl.ncku.edu.tw/hak-chia/1/lou-ek-ki/kongpah-oat.htm)" target="_blank">http://ws.twl.ncku.edu.tw/hak-chia/1/lou-e...ongpah-oat.htm)</a>, chứng tỏ nó không phải nguồn gốc Hoàng Hà, mà nó là nguồn gốc Nôm na. Ví dụ:  Alnni = nì, nầy (Việt Nam) = ney (Thái) =ini (Mã Lai); dah, doh = đâu (Việt Nam); lut = lọt (Việt Nam) = lu-chut (Mã Lai) = lu-cut (Indonexia); vat, bat = biết (Việt Nam); za, cha = ta, choa (Việt Nam) = tau, cau (Philipin) = cau (Vân Kiều); za bou, cha po = cha bố (Việt Nam) v.v.Tiếng Mân Nam hình thành và tồn tại đến nay đã hai nghìn năm.<br />]]></description>
		<pubDate>Fri, 03 Sep 2010 15:42:15 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15893</guid>
	</item>
	<item>
		<title><![CDATA[Cách "kiêu Ấn Độc Vượng" Của Nhà Bác Học Thiên Tài Albert Einstein.]]></title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15887</link>
		<description><![CDATA[Cách "Kiêu Ấn Độc Vượng" của nhà bác học thiên tài Albert Einstein.<br /><br />      Nhà bác học thiên tài Albert Einstein (sinh ngày 14/3/1879) là một ví dụ điển hình về trình độ học vấn, vi vậy trong tứ trụ không thể không có thông tin “Thương quan trùm Ấn“. Từ đây chúng ta dễ dàng suy ra trụ giờ là Ất Mùi (từ 13,00' tới 15,00').<br /><br />      Tứ trụ:    Kỷ Mão - Đinh Mão - ngày Bính Thân - Ất Mùi<br /><br />          Điểm vượng của 5 hành trong vùng tâm:<br /><br />                      Kim.........Thủy........Mộc.......Hỏa........Thổ<br /><br />                     1.64.........#3.........18.9.......14.8.......5.85<br /><br />     Các đại vận và thời gian của chúng:<br /><br />Bính Dần.....Ất Sửu.....Giáp Tý....Quý Hợi.....Nhâm Tuất<br />.....5..............15............25............35...............45<br />...1884........1894........1904.........1914...........1924<br /><br />Tân Dậu.......Canh Thân.......Kỷ Mùi<br />....55..................65...............75<br />..1934..............1944...........1954  <br /><br />     Tứ trụ này Thân khá vượng mà Kiêu Ấn lại nhiều nên dụng thần đầu tiên phải là Tài tinh/Canh tàng trong Thân trụ ngày. Nếu như vậy thì hai đại vận dụng thần là Tân Dậu và Canh Thân phải là 2 đại vận huy hoàng nhất nhưng chúng lại hoàn toàn ngược với thực tế của nhà bác học này  bởi vì 2 đại vận này lại là xấu, ông ta không phát minh thêm được một điều gì cả. Cho nên ông ta đã đổ lỗi cho toán học phát triển chậm và Đức Chúa Trời đã từ bỏ ông ta.<br /><br />      Nếu theo các sách cổ thì tứ trụ này không thuộc bất cứ một loại đặc biệt nào. Do vậy để phù hợp với thực tế của ví dụ này tôi phải đưa ra loại "Kiêu Ấn độc vượng”. Cách này tương tự như các cách độc vượng, nó chỉ khác là Kiêu Ấn phải nắm lệnh, Thân phải vượng và điểm vượng trong vùng tâm của nó phải lớn hơn của Thân.<br /><br />      Nếu áp dụng loại này thì dụng thần phải là Kiêu Ấn (Mộc)/Ất ở trụ giờ, hỷ thần là Thủy và Hỏa, kỵ thần là Kim và Thổ<br /><br />      Đại vận Ất Sửu và Giáp Tý là 2 đại vận dụng thần nên chúng là 2 đại vận huy hoành nhất. Đại vận tiếp theo là Quý Hợi cũng thuộc dụng thần bởi vì có tam hợp Hợi Mão Mùi hóa Mộc là dụng thần có 4 chi làm cho Thương (Kỷ) trụ năm trở thành vô dụng khi gặp Quan (Quý) đại vận là hỷ thần. Tiếp là đại vận Nhâm Tuất cũng thuộc dụng thần bởi vì Nhâm hợp với Đinh hóa Mộc là dụng thần. 3 đại vận Tân Dậu, Canh Thân và Kỷ Mùi đều là kỵ thần. Tất cả các đại vận đều phù hợp với thực tế của nhà bác học Albert Einstein.<br /><br />      Đây là một tứ trụ thuần về Thương gặp Ấn (chỉ về học thuật) bởi vì trong tứ trụ Tài tinh là Thân ở trụ ngày thất lệnh còn bị Bính được lệnh khắc trực tiếp. Do vậy Tài không có khả năng phá cách "Kiêu Ấn độc vượng” này, trừ 2 đại vận Tân Dậu và Canh Thân.<br /><br />]]></description>
		<pubDate>Fri, 03 Sep 2010 06:28:53 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15887</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Kẻ Lửa</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15822</link>
		<description><![CDATA[KẺ LỬA<br />Chữ “môn” mà người ta cứ giải thích là từ Hán Việt tức từ Việt gốc Hán thực ra nó 100% là từ Việt (về sau Quan Thoại dùng nó đọc là “mấn” là cái cửa,chính là một từ Hán gốc Việt). Hàng chục vạn năm về trước khi con người còn là người nguyên thủy nhưng hơn động vật là biết nói để giao tiếp thì những từ biết đến đầu tiên là chỉ các bộ phận trên cơ thể con người.Tiếng Việt trên “ mặt” có: “mắt”, “mi”, “mày”, “mũi”, “mồm” là những cái chui ra đầu tiên khi mẹ đẻ ra là thấy ngay vì đỡ ra là nó nằm ngửa. Cái  “mồm” ấy ở con người vì biết nói “tiếng” có ý nghĩa để giao tiếp nên mới gọi là cái “miệng”, khác với con vật chỉ có mồm (ngày nay có người vẫn lầm lẫn nên vẫn viết là con vật có miệng, tưởng là dùng từ ấy cho nó sang hơn chứ không tục). Cái mồm ấy khi đem “món” ăn bón cho khi còn chưa mọc răng không nhai được,chỉ nuốt , nên gọi là “măm”, còn khi mở mồm “đưa”  thức ăn từ trong ra qua mồm thì gọi là “mửa”, chính từ mửa này là tiền đề cho từ “cửa” có sau , khi con người đã biết làm nhà ở. Còn khi đang còn là người nguyên thủy chưa biết làm nhà ở thì cái cửa ấy người ta đã gọi là “môn”. Bởi vì mọi cái cửa đầu tiên mà con người ý thức được là nó ở trên cơ thể con người. Cái cửa đầu tiên có ở con người khi đang còn bào thai trong bụng mẹ là cái cửa duy nhất thông với cơ thể mẹ để lấy dinh dưỡng gọi là cái “rốn”.Tiếp đến trên cơ thể thấy các cửa là: cái “nõn”( “nõ”-“lõ”-“linga” ,mà hình tượng nhất là cái “nõ” điếu cày); cái “nồn” ( “yôni”-“nường”-“lường” nên từ “lường gạt” là từ mắng thậm tệ chỉ dùng cho gái điếm thay cho “lừa gạt” nhẹ hơn, cặp sinh thực khí Âm/Dương mà người Việt thời cổ đại thờ là cặp Nõn/Nường hay Lõ/Lường cũng vậy); cái “trôn” (mà Quan Thoại gọi là “hậu môn”, một âm tiết phải dịch ra thành hai âm tiết), cái cửa trong của trôn gọi là cái “dom” vì phải vạch ra “nom” mới thấy. Người nguyên thủy vì ban đầu chưa biết làm nhà nên ở trong hang mà cái cửa hang là một lỗ nhìn vào tối “om om” hay tối “um” (mà về sau Hán ngữ phiên cái từ “đơn âm thành ý”  là “um” ấy của tiếng Việt thành từ hai âm tiết bằng hai chữ “u minh”,chữ “u”烏 cũng nghĩa là tối đen, chữ “minh”冥 cũng nghĩa là tối đen) như hang dơi nhưng để con người có chỗ mà “chun” ra chun vô nên thoạt đầu họ gọi nó là cái “mun”,cũng thành từ để chỉ màu đen. Loại gỗ đen chỉ có ở rừng miền Trung Việt Nam  là cây gỗ mun, mà ngày nay còn rất hiếm. Cư dân nông nghiệp của nền văn minh lúa nước yêu con mèo hơn con chó vì nó trị chuột , bảo vệ ngũ cốc, họ thích vuốt ve mèo,cho mèo ngủ chung trong chăn với người, còn chó thì chẳng mấy ai ôm và bị đuổi ra sân ngủ chứ đừng nói cho ngủ trên giường với người. Khác hẳn dân du mục đồng cỏ, họ ôm chó trong áo lông, cho chó ngủ chung giường vì nó là bạn chăn cừu và đi săn cùng họ. Con mèo đen gọi là mèo mun. Con chó đen gọi là chó mực cùng từ chữ mun mà ra (chữ “mực” ấy sau dùng chỉ mực là chất lỏng màu đen chế ra để viết trên giấy mà Quan Thoại gọi là “mặc thủy”. Cùng thời  với Khổng Tử còn có ông Mặc Tử, cũng viết ra một cái giáo lý riêng của ông ấy gọi là “Mặc giáo”, cổ thư chữ Hán nói cũng chẳng biết ông ấy họ tên gì,sống độc thân ,đi lang thang, gọi là Mặc Tử vì ông ấy da đen trũi , tóc lại quăn -vậy thì ông ấy chính là người dòng Nam Đảo của Việt tộc chứ chẳng lẽ lại là người Hán?). Cái “mun” hỏm hòm hom là cửa hang của người nguyên thủy ấy sau viết chữ nho là chữ “môn”.Thời ở hang của con người thì mỗi hang là một dòng họ, phân biệt bằng cửa hang là “mun” nên gọi là “dòng mun” mà về sau chữ nho viết là “tông môn”, là cửa của một họ. Họ ấy là người một gốc,  mà tiếng Choang gốc gọi là “thị”, chữ nho viết là thị氏 tức gốc đằng mẹ, vì chế độ mẫu hệ. Khi con người đã chuyển sang chế độ phụ hệ thì cái “gốc” ấy chữ nho viết là “tộc”族 , “thị” cũng là họ nhưng  là họ theo mẹ, “tộc”族 cũng là họ nhưng là họ theo cha, “thị tộc”氏族 là từ chỉ cộng đồng người nguyên thủy, là một từ ghép theo đúng trật tự thời gian từ nào có trước đứng trước và từ nào  có sau đứng sau, vì chế độ mẫu hệ là có trước, chế độ phụ hệ có sau. Khi con người biết làm nhà để ở thay cho ở hang thì cái cửa nhà là cái “đưa” con người chun ra chun vô nhưng nó sáng chứ không tối như cửa hang nên gọi là “cửa”. Thời ở hang là thời đại đồ đá cũ ,đến thời đại đồ đá mới kéo dài mấy chục ngàn năm, con người đã biết trồng trọt mà phương thức canh tác đầu tiên là chọc lỗ tra hạt trên đất khô. Hết thời ở hang, người Việt làm nhà sàn để ở. Nền văn minh lúa nước ra đời, và phát triển liên tục hàng chục ngàn năm,gắn bó đồng thời với văn minh nhà sàn và văn minh sông nước ở vùng nhiết đới nóng ẩm và gió mùa của Đông Nam Á. Nền kinh tế ấy cũng đồng thời sản sinh ra văn minh dịch lý để tính toán vũ trụ, thời tiết, nông lịch v.v. phục vụ cho chính nó.Nền văn minh ấy là vào khoảng 20.000 BC-17.000 BC, thời của vua Phục Hy. Người Việt được gọi là Mun ( “ngăm-ngăm”)  bao gồm các nhánh Môn, Miên, Chăm, Lùm (Lào Lùm), Mường v. v.mà sử Hán gọi là “Man”, “Nam”, rồi từ ghép theo cú pháp Hán là “Nam Man”, (nếu theo cú pháp Việt thì phải đặt ngược lại là Man Nam) vì họ có nước da Nam Đảo-Nam Á ngăm đen chứ không trắng bằng người Hán là chủng Mogoloit. Theo phương dịch lý do mình sáng tạo ra , người Việt gọi mình là Kẻ Lửa (mà ngôn ngữ dịch lý thì gọi là Quẻ Ly, tượng là màu Đỏ, gọi theo ngũ hành là Hỏa) tức người ở phương nóng bức gần xích đạo. (Đồng bào miền núi phía bắc Việt Nam đến tận bây giờ vẫn gọi cái nhà sàn có bếp lửa đốt ở giữa nhà là “nhà quẻ Ly”, đó không phải là nói về cái kiểu nhà ,mà là do ký ức xa xưa nói đó là nhà của dân Kẻ Lửa).Từ KẺ đã có những biến âm trong tiếng Việt là KÒ (tiếng Thanh Hóa)=KÔ (tiếng Nhật Bản)=KU (tiếng Việt)=TU (tiếng Tày)=TỬ ( chữ nho子)=ZỬ (tiếng Quan thoại)=TÍ (chữ nho 子)=CON (tiếng Việt) đều có nghĩa là “con”. Từ KẺ ấy ban đầu viết bằng ký tự kẻ vạch là một kẻ dương (—) là kẻ có đầu tiên( hoa văn kẻ vạch chìm-hoa văn kỷ hà học- trên vỏ đồ gốm thời đại đồ đá mới tìm thấy ở nhiều nơi,kể cả ở Đài Loan và Nhật Bản, điển hình là ở di chỉ Hà Mẫu Độ ở Triết Giang Trung Quốc 7000 năm BC cùng di tích hạt lúa và rơm chất đống được các nhà khoa học Trung Quốcnhất  trí nhận định là di tích văn hóa của dân tộc Bách Việt, là một trong những nét đặc trưng để nhận biết là văn hóa của người Bách Việt cổ đại. Hoa văn kẻ vạch ấy còn thấy trên trống đồng , và còn hiện hữu rực rỡ trên nền thổ cẩm của các dân tộc Mường, Dao, Hmông, Chăm,Tây Nguyên đến tận ngày nay. Trong nghề gốm sành ở Nghệ An, các động tác gia công là: kẻ, khắc, khía, khứa, khót-là nạo bên trong lòng vật gia công-mà dụng cụ chỉ là một sợi lạt cật.Trong chuyện cổ tíchVợ chồng  An Tiêm (có thể là bà An ông Tiêm) lên thuyền trôi dạt ra đảo,trồng dưa hấu, kẻ khắc ký tự lên vỏ quả dưa gửi trôi theo biển về báo cho cha là Vua Hùng rằng họ còn yên lành và khấm khá, đó là cái đạo hiếu của người Việt, con không bao giờ trách cứ cha mẹ “con cái không chê cha mẹ khó, con chó không chê chủ nghèo”,  hòn đảo ấy chắc là đảo Đài Loan, dân bản địa Đài Loan từ cổ gọi nơi họ ở nam Đài Loan là Tuan Uan (có thể là do chỗ của ông Tiêm bà An), mà thành từ “Thái Oan” tức Đài Loan bây giờ, còn chuyện thuyền đánh cá của ngư dân Việt từ miền trung Việt Nam bị bão trôi dạt vào Đài Loan thì đến bây giờ vẫn là cái “chuyện thường năm ở huyện”).Từ LỬA đã có những biến âm trong tiếng Việt là: LẢ (tiếng Bắc Trung Bộ)=LA=LI (trong dịch lý)=LIỆT (chữ nho烈, nghĩa là “rực”), để rồi LIỆT biến âm thành VIỆT, cũng như LANG đã biến âm thành VƯƠNG . Đến thời Xuân Thu Chiến quốc trong Hán thư mới có từ Bách Việt, trước đó người Hán vẫn gọi dân tộc ở phía nam của họ là Man , do từ Mun của người Việt, vì có nước da ngăm đen hơn họ. Đến thời Tam Quốc người Hán vẫn chưa vượt nổi sông Dương Tử nên quân Ngụy của Tào Tháo thua quân Ngô của Ngô Tôn Quyền khi đòi vượt sông.Trận thua “xất bất xang bang” đó sau sử gọi là trận Xích Bích tức húc phải bức tường lửa của dân Kẻ Lửa,chứ chẳng có địa danh nào bên sông Trường Giang gọi là Xích Bích cả.  Biết bao làng quê, sông,núi của Việt Nam và cả những vùng đất bao la ở Giang Nam của Trung Quốc ngày nay đều có cái tên (địa danh) chỉ bằng một âm tiết theo đúng nguyên tắc ngôn ngữ Việt  mà các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc nhận địnhnó là yếu tố đặc trưng của tiếng Bách Việt cổ, là “đơn âm thành ý” tức cứ phát ra một tiếng là có mang một ý nghĩa hoàn chỉnh, mà khi phiên ra tiếng Hán phải dùng hai chữ Hán. (Cũng vì nguyên lý này mà lỡ đánh một cái rắm thành tiếng thì người ngồi bên đã phê bình khéo là mày chê cái gì “ít”). Một nguyên tắc đặc trưng khác mà các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc thừa nhận ở tiếng Bách Việt cổ khác với tiếng Hán là cú pháp tiếng Việt “chính trước phụ sau,ở tiếng Hán thì phụ trước chính sau”.Các địa danh Việt chỉ có một âm tiết. Ở Việt Nam trước thời Bắc thuộc biết bao tên làng , tên sông là Lửa (làng Cầu Lửa tức Kẻ Lửa ở Nghệ An), là La (sông La ở Hà Tĩnh tức con sông của dân Kẻ Lửa), là Liệt ( làng Phương Liệt, tức vuông Liệt ở Hà Nội , là ruộng của dân Kẻ Lửa) . Đến như con sông Mịch La tận bên Giang Nam, nơi nhà thơ Khuất Nguyên trẫm mình là từ do Quan Thoại dùng từ “mi lúa” phiên âm từ “mẹ lửa” của tiếng Việt , là con sông mẹ của người Kẻ Lửa, cũng như người Thái gọi “mè Khoỏng” là “mẹ sông” mà thành tên Mê Kông. Đất nước của dân Kẻ Lửa ấy Hán thư phiên âm theo Quan Thoại là “Quẩy Sử” rồi viết đúng cú pháp Hán là  “Sử Quẩy” tức nước “Xích Qủi”, “xích” là đỏ, lấy ý tương tự như “lửa” . Các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc rất tôn trọng đặc điểm đặt tên địa danh bằng một âm tiết ấy của lịch sử nên trong từ điển Hán ngữ đều có chú nguồn gốc xuất xứ của từ. Ví dụ một từ “điền” được giải nghĩa là ruộng, lại chú thêm “Điền” là địa danh gọi vùng Vân Nam thời cổ đại (đó là nước Điền Việt), do vậy đến khi nền văn minh nhân loại có vụ đăng ký biển số ô tô, cục quản lý xe chỉ việc lấy chữ đó làm mã số vùng, không như ta lấy hai con số đầu làm mã số vùng, nhìn qua đều chưa kịp giải mã xem nó là vùng nào. Ví dụ ở Trung Quốc nhìn biển số xe ô tô có chữ Việt粤 đầu biết ngay là xe Quảng Đông, nhìn chữ Quế桂 đầu biết ngay là xe Quảng Tây, nhìn chữ Điền田 đầu biết ngay là xe Vân Nam v.v, mà còn hiểu được cả lịch sử vùng đó xưa là đất Việt .Từ điển tiếng Việt của ta xuất bản thì không hề có chuyện đó. Ví dụ tra chữ “noi” được giải thích là theo gương, không có mục “Noi” là tên làng Việt cổ sát Hà Nội gọi là Kẻ Noi nằm bên bờ sông Noi, mà thời Bắc thuộc Kẻ Noi được phiên âm là Cổ Nhuế, sông Noi được phiên là Nhị Hà, mà dân thì vẫn quen  “đơn âm thành nghĩa “ nên gọi là sông Nhuệ; “lừ” được giải thích là phụ từ của lừ đừ,không có mục “Lừ” là tên con lạch cổ ở Hà Nội đổ ra sông Noi, thời Bắc thuộc “lạch Lừ” được phiên âm kèm đổi sang cú pháp Hán nên ngược thành  “Lừ lạch” viết là “Tô Lịch”( đoạn cuối sông ấy ở đồng ruộng nhà quê bây giờ nước ô nhiễm đặc quánh và đen ngòm, dân vẫn gọi là con sông Lừ, nó còn lừ đừ hơn là con lạch trong xanh chảy êm đềm vì giữa đồng bằng,  mà ngày xưa gọi là con lạch Lừ. (Nhưng từ điển giải thích từ Hán-Việt thì nhiều lắm, nhan nhản đủ kích cỡ, dày mỏng, trong hiệu sách ngày nay). Đến như Thuận Hóa là kinh đô cuối cùng của thời “Hán học” mà dân vẫn chỉ gọi có một âm tiết là Huế, rồi bắt buộc quan hàn lâm phải theo mà thành tên Huế cho đến bây giờ,  trở thành thân yêu với bao nhiêu đặc sắc văn hóa hàm chứa chỉ  trong một tiếng “Huế” . <br />Người Việt của dân tộc Bách Việt cổ đại đã đem nền văn minh lúa nước lấn-lướt (chữ nho “lăng liệt”凌烈) lên phía bắc bằng đường biển khai phá vùng Giang Nam rồi đồng bằng nam sông Hoàng hàng chục nghìn năm trước công nguyên. Từ khi người Mogoloit tràn xuống chiếm vùng đồng bằng Hoàng Hà là bắt đầu một sự hội nhập và đồng hóa mà dân tộc học gọi là quá trình “vàng hóa” chủng Nam Á- Nam Đảo da ngăm đen trên mảnh đất gọi là Trung Nguyên . Chủng Việt lui dần về nam sông Trường Giang, bảo lưu đặc sắc ngôn ngữ và văn hóa của mình, đến thời Xuân Thu Chiến Quốc hình thành hàng loạt quốc gia Bách Việt hùng mạnh “ kéo dài từ Giao Chỉ đến Cối Kê hàng 7,8 ngàn dặm”, một trong số đó là Việt Quốc của Câu Tiễn tồn tại 160 năm với 8 đời vua, sau bị Tần diệt.Từ thời Tần Hán mới bắt đầu quá trình Hán hóalần thứ hai, diễn ra ở Giang Nam mà trước tiên là quá trình đồng hóa ngôn ngữ. Đến thời Hán Vũ Đế thì Bách Việt hoàn toàn bị xóa sổ. Những trung tâm chính trị của dân tộc Bách Việt đều bị Hán Vũ đế chinh phục, đổi thành quận huyện của triều Hán.Từ đó về sau cái tên Bách Việt không còn thấy ghi trong sách sử nữa, cái tên dân tộc Việt cũng bị lãng quên trên đất Trung Hoa, chỉ còn dân tộc Việt Nam hậu duệ đích tôn của dân tộc Việt là còn tồn tại như một dân tộc độc lập với ngôn ngữ Việt nguyên vẹn là Nôm na.Tuy rằng ngày nay không còn tìm đâu ra cái tên gọi là dân tộc Bách Việt hay nhóm dân tộc Việt nhưng văn hóa Bách Việt trên thực tế thấu qua muôn ngàn phương thức lưu lại muôn ngàn dấu tích trong văn hóa các dân tộc khác nhau. Đó là những đặc điểm văn hóa mà các nhà khoa học Trung Quốc thừa nhận là đặc điểm riêng để nhận biết cùng nguồn gốc: Gốm hoa văn kẻ vạch chìm đặc trưng của dân tộc này từ thời đồ đá mới; thờ rồng, tự coi mình là cháu con của rồng; tập tục xăm mình; cuộc sống làng gần nước; tập quán nhai trầu và nhuộm răng đen; khí cụ đồng thau tinh xảo, nhất là trống đồng, kiếm đồng,chuông đồng lớn;   trồng lúa nước,vấn khăn xếp, bói chân gà, khắc cánh tay kết bạn, ăn nhiều ốc hến hải sản, ở nhà sàn (mà Hán ngữ phải phiên âm “sàn” bằng hai chữ “can lan”干欄),  giỏi dùng thuyền và giỏi thủy chiến, thích chọi gà v.v. Mặt khác ngôn ngữ Bách Việt cổ còn đậm dấu ấn trong tiếng  nói của hậu duệ người Mân Việt (Phúc Kiến), mà ở Đài Loan vẫn dùng, gọi là tiếng Hà Lạc, mặc dù ở Đài Loan và Phúc Kiến chẳng có địa danh nào gọi là Hà Lạc cả (Quan Thoại phiên âm là “ hứa lua”, nghe còn phảng phất  âm “kẻ lửa” ,còn theo chữ dùng ghi âm đó là chữ河洛thì chỉ còn có thể nhận được ở bộ thủy có ở cả hai chữ, để hiểu rằng đó là chỉ thứ tiếng của dân sông nước, đó chính là tiếng của dân văn minh lúa nước, dân Kẻ Lửa) và tiếng Việt粤 của dân Quảng Đông . Sự gần gũi để còn nhận thấy là : ở cách phát âm, ở cú pháp ghép cụm từ là cú pháp Việt trong khẩu ngữ nhất là ở những từ gốc (Ví dụ：曆日(lịch nhật)=lịch ngày, 風颱(phong đài)=bão (quan thoại là đài phong), 人客(nhân khách)=người khách, quan thoại là khách nhân, 鬧熱(náo nhiệt), quan thoại là nhiệt náo, 雞母(kê mẫu)=gà mái, quan thoại là mẫu kê, 雞公(kê công)=gà trống, quan thoại là công kê v.v.); <br />Ở bổ động từ, ví dụ: 看現現(khán hiện hiện=rõ mồn một)、行透透(hành thấu thấu=đi thông thống)；食食去(thực thực khứ=ăn ăn đi)、摃走走去(tẩu tẩu khứ=chạy chạy đi)<br />Và ở từ láy , mà ở Kinh Thi gặp rất nhiều, nhưng ghi bằng hai chữ Hán giống nhau nên không rõ được thanh điệu của hai tiếng láy ấy phải là một Âm một Dương  như khẩu ngữ nói, ở tiếng Hà Lạc còn có láy ba, ví dụ：甜甜甜(điền điền điền=Ngót ngòn ngọt),           烏烏烏 (u u u= hỏm hòm hom)、鹹鹹鹹 (hàm hàm hàm=Mắn mằn mặn),花花花 (hoa hoa hoa=Hỏe hòe hoe)v .v.<br />Đó là những đặc điểm cực giống tiếng Việt mà ở tiếng Hán không hề có. <br />Về từ láy thì tiếng Việt phong phú vô cùng, láy hai, láy ba, láy bốn, láy xuôi, láy ngược, láy lặp đi lặp lại, mà gốc cơ bản của nó là sự tách đôi một âm tiết trong cái bầu biểu tượng Âm Dương của người Lạc Việt như sự tách đôi tự sinh sản của tế bào, cho ra một từ hai âm tiết dính nhau không thể đảo ngược.<br />Để thư dãn cuối bài viết ,xin tặng bạn đọc bài thơ khuyết danh:<br />Tai nghe gà gáy te te<br />Ánh dương vừa rọi sân hè chói chang<br />Chập chùng mây núi chon von<br />Hoa năm sắc nở tươi non lập lòe<br />Chim tình bầu bạn tỉ tê<br />Ong chăm nuôi chúa lượm về phấn hoa<br />Lợi danh mặc kệ người ta <br />Mình đây nướng giấc đẫy đà khỏe re.<br />Để thấy rằng đổi qua dùng từ láy ba ,nó sẽ có hẳn một mùi vị khác thật dí dỏm:<br />Tai nghe gà gáy tẻ tè te<br />Bóng ác vừa lên hé hẻ hè<br />Núi một chồng cao von vón vót<br />Hoa năm sắc nở lóe lòe loe. <br />Chim,tình bầu bạn kia kìa kỉa,<br />Ong,nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè<br />Danh lợi mặc người ti tí tỉ.<br />Ngủ trưa chưa dậy khỏe khòe khoe.<br /> ( Khi đã dùng đến từ láy của tiếng Việt thì các ngôn ngữ khác khó mà dịch cho ra nổi cái mùi vị của của câu văn và cái cảm xúc của người đọc)<br />]]></description>
		<pubDate>Fri, 27 Aug 2010 18:59:12 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15822</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Một Vài Nhận định Về Yếu Tố Thiên Thời Của Cụ Thiên Lương Trong Khoa Tv</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15788</link>
		<description><![CDATA[<b>NHẬN ÐỊNH VỀ SỰ XUNG KHẮC GIỮA TAM HỢP ÐẠI HẠN VÀ TAM HỢP TUỔI CỦA THIÊN LƯƠNG (YẾU TỐ THIÊN THỜI THEO CỤ THIÊN LƯƠNG)<br /><br /></b>Theo Cụ Thiên Lương thì Tam Hợp Tuổi (THT) được xếp vào bốn hành như sau:<br />Tuổi Thân Tí Thìn hành Thủy<br />Tuổi Dần Ngọ Tuất hành Hỏa<br />Tuổi Tỵ Dậu Sửu hành Kim<br />Tuổi Hợi Mão Mùi hành Mộc<br /><br />Tam hợp Ðại Hạn (THDH) cũng được tứ hành hoá giống THT<br /><br />Cung Ðại Hạn Thân Tí Thìn hành Thủy<br />Cung Ðại Hạn Dần Ngọ Tuất hành Hỏa<br />Cung Ðại Hạn Tỵ Dậu Sửu hành Kim<br />Cung Ðại Hạn Hợi Mão Mùi hành Mộc<br />Cụ Thiên Lương cho rằng:<br />THDH sinh nhập THT: tai hại (vì có Thiên Không). (Có lúc ông lại cho là <br />&nbs p; &nbs p; &nbs p; Tốt) ??????????????<br /><br />THDH hòa THT: tốt (vì có Tứ Linh)<br /><br />THT sinh xuất THDH: tai hại, bị người lợi dụng, bị thiệt thòi, phục vụ cho đời mà thù lao không xứng, không được thụ hưởng, làm co ????? cho người.<br /><br />THT khắc xuất THDH: phải gắng công tranh đấu gặp khó khăn nhưng nếu nổ lực có thể thắng được hoàn cảnh (Có lúc ông lại ghi khắc phục và bị sa lầy, mưu sự đầu thành sau trắc trở)<br /><br />THDH khắc nhập THT: xấu nhất, bị hoàn cảnh chế ngự, vận mạng tàn tạ khó ganh đua, nguy khốn, thân bại danh liệt.<br /><br />Cụ Thiên Lương còn nhấn mạnh rằng đắc Thiên Thời thì đời lên hương, mất Thiên Thời thì đời sẽ thấy khó khăn để rồi xuống dốc.<br /><br />Dương Nam, Âm Nữ Ðại Hạn an theo chiều thuận.<br /><br />Tuổi Thân Tí Thìn (THT hành Thủy), Mệnh an ở Thân Tí Thìn <br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Thân Tí Thìn) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THT khắc xuất THDH (Dần Ngọ Tuất )<br />Ðại hạn thứ Tư: THT sinh xuất THDH (Hợi Mão Mùi)<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất (cứ cách 3 đại hạn thì lại trở về như cũ)<br /><br />Tuổi Thân Tí Thìn, Mệnh an ở Tỵ Dậu Sửu <br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THT khắc xuất THDH (Dần Ngọ Tuất )<br />Ðại hạn thứ Ba: THT sinh xuất THDH (Hợi Mão Mùi)<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Thân Tí Thìn) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Thân Tí Thìn, Mệnh an ở Dần Ngọ Tuất <br />Ðại hạn thứ Nhất: THT khắc xuất THDH (Dần Ngọ Tuất )<br />Ðại hạn thứ Hai: THT sinh xuất THDH (Hợi Mão Mùi)<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Thân Tí Thìn) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Thân Tí Thìn, Mệnh an ở Hợi Mão Mùi<br />Ðại hạn thứ Nhất: THT sinh xuất THDH (Hợi Mão Mùi)<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Thân Tí Thìn) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THT khắc xuất THDH (Dần Ngọ Tuất )<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Tỵ Dậu Sửu (THT hành Kim), Mệnh an ở Tỵ Dậu Sửu <br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) hòa THT <br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Dần Ngọ Tuất ) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THT khắc xuất THDH (Hợi Mão Mùi)<br />Ðại hạn thứ Tư: THT sinh xuất THDH (Thân Tí Thìn) <br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Tỵ Dậu Sửu (THT hành Kim), Mệnh an ở Dần Ngọ Tuất <br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Dần Ngọ Tuất ) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THT khắc xuất THDH (Hợi Mão Mùi)<br />Ðại hạn thứ Ba: THT sinh xuất THDH (Thân Tí Thìn)<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Tỵ Dậu Sửu (THT hành Kim), Mệnh an ở Hợi Mão Mùi<br />Ðại hạn thứ Nhất: THT khắc xuất THDH (Hợi Mão Mùi)<br />Ðại hạn thứ Hai: THT sinh xuất THDH (Thân Tí Thìn)<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Dần Ngọ Tuất ) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Tỵ Dậu Sửu (THT hành Kim), Mệnh an ở Thân Tí Thìn<br />Ðại hạn thứ Nhất: THT sinh xuất THDH (Thân Tí Thìn)<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Dần Ngọ Tuất ) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THT khắc xuất THDH (Hợi Mão Mùi)<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Dần Ngọ Tuất (THT hành Hỏa), Mệnh an ở Dần Ngọ Tuất <br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Dần Ngọ Tuất ) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Hợi Mão Mùi) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Thân Tí Thìn) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THT khắc xuất THDH (Tỵ Dậu Sửu ) <br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Dần Ngọ Tuất (THT hành Hỏa), Mệnh an ở Hợi Mão Mùi<br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Hợi Mão Mùi) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Thân Tí Thìn) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THT khắc xuất THDH (Tỵ Dậu Sửu )<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Dần Ngọ Tuất ) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Dần Ngọ Tuất (THT hành Hỏa), Mệnh an ở Thân Tí Thìn<br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Thân Tí Thìn) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THT khắc xuất THDH (Tỵ Dậu Sửu )<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Dần Ngọ Tuất ) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Hợi Mão Mùi) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Dần Ngọ Tuất (THT hành Hỏa), Mệnh an ở Tỵ Dậu Sửu <br />Ðại hạn thứ Nhất: THT khắc xuất THDH (Tỵ Dậu Sửu )<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Dần Ngọ Tuất ) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Hợi Mão Mùi) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Thân Tí Thìn) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Hợi Mão Mùi (THT hành Mộc), Mệnh an ở Hợi Mão Mùi<br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Hợi Mão Mùi) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Thân Tí Thìn) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THT sinh xuất THDH (Dần Ngọ Tuất )<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Hợi Mão Mùi (THT hành Mộc), Mệnh an ở Thân Tí Thìn<br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Thân Tí Thìn) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THT sinh xuất THDH (Dần Ngọ Tuất )<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Hợi Mão Mùi) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Hợi Mão Mùi (THT hành Mộc), Mệnh an ở Tỵ Dậu Sửu <br />Ðại hạn thứ Nhất: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Hai: THT sinh xuất THDH (Dần Ngọ Tuất )<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Hợi Mão Mùi) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Thân Tí Thìn) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />Tuổi Hợi Mão Mùi (THT hành Mộc), Mệnh an ở Dần Ngọ Tuất <br />Ðại hạn thứ Nhất: THT sinh xuất THDH (Dần Ngọ Tuất )<br />Ðại hạn thứ Hai: THDH (Hợi Mão Mùi) hòa THT<br />Ðại hạn thứ Ba: THDH (Thân Tí Thìn) sinh nhập THT<br />Ðại hạn thứ Tư: THDH (Tỵ Dậu Sửu ) khắc nhập THT<br />Ðại hạn thứ Năm: như Ðại hạn thứ Nhất<br /><br />NHẬN ÐỊNH<br /><br />DƯƠNG NAM, ÂM NỮ<br />Tuổi Tuổi Thân Tí Thìn, Mệnh an ở Thân Tí Thìn (có bộ Tuế Phù Hổ)<br />Hoa, sinh nhập, khắc xuất, sinh xuất <br />Tuổi Thân Tí Thìn, Mệnh an ở Tỵ Dậu Sửu (có bộ Dương Tử Phúc)<br />Sinh nhập, khắc xuất, sinh xuất, hoà<br />Tuổi Thân Tí Thìn, Mệnh an ở Dần Ngọ Tuất (có bộ Tang Tuế Ðiếu)<br />Khắc xuất, sinh xuất, hoà, sinh nhập <br />Tuổi Thân Tí Thìn, Mệnh an ở Hợi Mão Mùi (có bộ Âm Long Trực)<br />Sinh xuất, hoà, sinh nhập, khắc xuất<br />Như vậy, cung Ðại Hạn luân chuyển theo một vòng tròn khép kín là Hoà (bình hoà), sinh nhập, khắc xuất, sinh xuất rồi trở lại Hoà. Dương Nam Âm Nữ thì đi theo chiều thuận như trên.<br /><br />ÂM NAM, DƯƠNG NỮ Ðại hạn theo chiều nghịch, do đó sẽ luân chuyển theo chiều ngược của vòng (là Hoà, sinh xuất, khắc xuất, sinh nhập)<br /><br />Tuổi Tỵ Dậu Sửu , Dương Nam Âm Nữ thi luan chuyen theo chieu thuan cua vong Hoa, khắc nhập, khắc xuất, sinh xuất. Am Nam, Duong nu thi theo chieu nghich cua vong (Hoa, sinh xuất, khắc xuất, khắc nhập)<br /><br />Tuổi Dần Ngọ Tuất , Dương Nam Âm Nữ thì luân chuyển theo chiều thuận của vòng Hoà, sinh nhập, khắc nhập, khắc xuất. Âm Nam, Dương nữ thì theo chiều nghịch của vòng (Hoà, sinh nhập, khắc nhập, khắc xuất)<br /><br />Tuổi Hợi Mão Mùi Dương Nam Âm Nữ thì luân chuyển theo chiều thuận của vòng Hoà, sinh nhập, khắc nhập, sinh xuất. Âm Nam, Dương nữ thì theo chiều nghịch của vòng (Hoà, sinh xuất, khắc nhập, sinh nhập) <br /><br />NHẬN ÐỊNH: trên vòng tròn luân chuyển ta nhận thấy: <br />Tuổi Thân Tí Thìn chỉ có một vị trí xấu là khắc xuất<br />Tuổi Tỵ Dậu Sửu thì có hai vị trí xấu đứng liền nhau là khắc nhập, khắc xuất<br />Tuổi Dần Ngọ Tuất có hai vị trí xấu đứng liền nhau là khắc nhập, khắc xuất<br />Tuổi Hợi Mão Mùi chỉ có một vị trí xấu là khắc nhập<br />Nếu căn cứ vào các sao thuộc vòng Thái Tuế xuật hiện tại đại hạn thì ta có bảng tổng kết dưới đây: <br />TUỔI & amp; amp;n bsp; CÁC BỘ SAO TẠI ĐẠI HẠN <br />Thân Tí Thìn Hoa Sinh nhập khắc xuất sinh xuất Tỵ Dậu Sửu ; ; ; Hoa khắc nhập khắc xuất sinh xuất <br />Dần Ngọ Tuất Hoa sinh nhập khắc xuất Hợi Mão Mùi Hoa sinh nhập khắc nhập sinh xuất<br />Cũng cần nêu thêm hai yếu tố mà cụ Thiên Lương cho rằng là phụ khi giải đoán đại hạn, đó là yếu tố địa lợi và nhân hòa <br />địa lợi (CỦA ĐẠI HẠN) là hành cung và hành mệnh có tương đắc hay không? Nếu tương đắc thì tính mệnh được phần nào vững chắc yên lành <br />nhân hòa là lòng người. Lòng người thuận hay nghịch là tính theo tinh đẩu: tinh đẩu của hạn có cùng trong hệ phái của Mệnh là cùng một bộ trong thế lưỡng nghi và hết sức loại tránh Lục Sát tinh nhất là Không Kiếp. Nếu Mệnh ở thế Tử Phủ Sát Phá Tham hay Cơ Lương Cự Nhật, nếu gặp đồng bộ, nghĩa là cùng phe phái thì hòa thuận, bằng như đụng độ khác phái thì hẳn là có sự khó khăn, gia thêm Lục Sát tinh ngươi có số càng thêm chuyện, vất vả là may. Nói rõ hơn thì khi xét nhân hòa phải xem bộ chính tiinh tại đại hạn có cùng hay khác thế lưỡng nghi với bộ chính tinh của Mệnh. Cụ Thiên Lương chia 14 Chính tinh thành 2 thế lưỡng nghi Âm Dương: Dương ( Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham ), Âm ( Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật), và tiếp tục phân thành Tứ Tượng như sau: <br />Tử Phủ Vũ Tướng (Thiếu Dương): 60% thực hành, 40% lý thuyết<br />Sát Phá Liêm Tham (Thái Dương): 100% thực hành<br />Cơ Nguyệt Đồng Lương (Thái Âm): 100% lý thuyết <br />Cự Nhật (Thiếu Aam): 60% lý thuyết, 40% thực hành <br /><br />Nếu chính tinh đồng bộ cùng phe phái, cùng thế lưỡng nghi như Tử Phủ Vũ Tướng , Sát Phá LIêm Tham thì khi chuyển vận gặp nhâu vẫn ít thay đổi , dễ dàng hơn là gặp bộ khác thế lưỡng nghi là Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật (nếu thêm trung tinh đắc cách tam hợp thì càng được tốt đẹp. Nếu như khác phe phái, khác thế lưỡng nghi như Cơ Nguyệt Đồng Lương (CNDL) vận hành gặp Sát Phá Liêm Tham (SPLT) thì hẳn là có sự đụng chạm nặng nề, phần thiệt hại thuộc về phe yếu thế là CNDL (nếu gia thêm Sát tiinh nhập hạn thì sẽ gặp nhiều chuyện không may) <br />Từ thế của bốn bộ chính tinh (Tứ tượng) trên muốn được thêm hoàn mỹ và thành công thì theo cụ cần phải có tối thiểu: <br />Bộ; Tử Phủ Vũ Tướng cần nhất là Tả Hữu Thai Tọa <br />Bộ Sát Phá Liêm Tham cần nhất là Lục Sát tinh và Thai Cáo<br />Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương cần nhất là Khôi Việt và Xương Khúc <br />Bộ Cự Nhật cần nhất là Hồng Đào Quang Quý <br />Riêng bộ Nhật Nguyệt nếu như lạc hãm ngoài bộ Đào Hồng Hỉ ít nhất phải đứng cặp với một trong 3 bộ hợp cách với nó là Xương KHúc, Long Phượng, Quang Quí <br />Cụ Thiên Lương cho rằng địa lợi và nhân hòa là hai yếu tố phụ. Uư tiên là Thiên Thời , rồi đến Nhân Hòa , còn địa lợi là thứ yếu chỉ cần an thân. Được 3 yếu tố thì quá tốt. Thông thường chỉ cần được 1 thiên thời cũng đủ mãn nguyện. Đại hạn nào có đủ 2 yếu tố Thiên Thời và địa lợi thì sẽ khá, nếu có thêm Nhâm Hòa thì đại hạn rất rực rỡ. Trường hợp nếu thiên thời không có thì phải nhờ đến Nhân Hòa là lòng người. <br /><br />Thiên Lương cho rằng cũng có người gặp đại vận Thái Tuế, nghĩa là Mệnh không có ở Tam hợp Thái Tuế, khi đo thắng lợi chỉ là một giai đoạn rồi sụp đổ hoặc bị thị phi dèm pha để rồi ô danh sự nghiệp. Cũng có người gặp 2, 3 đại vận liên tiếp nhưng phải là Âm Nam Dương Nữ gặp Thiên Không trước rồi gặp Thái Tuế, nghĩa là muốn thành công phải gặp gian nan trước cho nếm mùi chua mặn chát của cuộc thế, hiểu cái thất bại để đem đến thành công <br /><br />Cần chú ý theo cụ Thiên Lương: <br /><br />Nếu Đại vận bị khắc nhập hay sinh xuất thì chỉ là miếng xương nuốt vào cũng khó mà nhả ra cũng vướng, thêm Quyền Lộc thì càng thêm lung tung khổ về Quan Lộc <br />Người Thái Tuế, trường hợp gặp Bạch Hổ Đường Phù trong tam hợp , vào hạn Thái Tuế dễ trút hơi thở cuối cùng với uy danh được hậu thế ghi nhận <br />Hạn gặp Thái Tuế là phải đắc ý, nhưng nếu gặp thêm Không Kiếp thì lên để mà xuống <br />Hạn gặp Thiên Không là phá sản, nhưng Thiên Không gặp Khoa là xuống để mà lên]]></description>
		<pubDate>Wed, 25 Aug 2010 14:18:49 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15788</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Thần Cơ Diệu Toán</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15779</link>
		<description><![CDATA[<a href="http://www.mediafire.com/?awoqthjain98l8x" target="_blank">http://www.mediafire.com/?awoqthjain98l8x</a>]]></description>
		<pubDate>Tue, 24 Aug 2010 15:04:30 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15779</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Lạc Việt Ngữ Là Nôm Na</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15770</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro-->Ngôn ngữ Bách Việt là Nôm na<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#483d8b--><span style="color:#483d8b"><!--/coloro--><i><b>Các nhà khoa học Trung Quốc khi nghiên cứu về ngôn ngữ của dân tộc Bách Việt đã nhận định rằng Bách Việt ngữ là ngôn ngữ dính黏著語 (chứ không phải ngôn ngữ chắp dính), nó là “đơn âm thành nghĩa”  tức nói ra một tiếng là mang một nghĩa rõ ràng, không giống như Hán Ngữ  (Hán ngữ thường là hai âm tiết ghép với nhau mới cho ra một nghĩa), về Bách Việt ngữ cổ , khi dịch một âm tiết Việt thành Hán ngữ  thường phải dịch thành hai chữ Hán. </b></i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->N<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->ghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc chỉ rõ, sau khi dân tộc Bách Việt đã bị Hán hóa, rất nhiều từ chữ mà họ đã từng sử dụng còn lưu lại nguyên dạng trong từ vựng của không ít ngôn ngữ các dân tộc hiện nay, ví dụ trong ngôn ngữ  các dân tộc thiểu số hệ ngữ Choang-Đồng và Miêu-Dao ở TQ, mà vẫn thường được gọi là “phương ngữ  miền nam của Hán ngữ”.Thậm chí từ gốc của Bách Việt còn thấy trong ngôn ngữ các dân tộc ở Indonexia, Malaixia, Haiti, Niudilân và các dân tộc Nam Đảo. Ví dụ từ Việt “nhền nhện (nguyên gốc là nền nện”, cũng như “nớn” sau đọc mềm đi là “nhớn”) thì tiếng thổ dân Niudilân là “na nai”, tiếng thổ dân Haiti là “nana nana”, tiếng Khách Gia ở Đài Loan là “la kia”, tiếng Malai-Indonexia là “lawa lawa”; từ Việt “mau lên” tiếng thổ dân Madagatca là “gao len”. Tiếng Nhật Bản cũng có rất nhiều từ là từ ngôn ngữ Nam Đảo.<br />Sở dĩ tiếng Việt chỉ còn là “đơn âm thành nghĩa” vì người Việt đã VO tròn mọi từ đa âm tiết của ngôn ngữ chắp dính Nam Á trong cái “nôi khái niệm”  là cái “hình cầu biểu tượng Âm Dương” của người Lạc Việt, như một cái VÒ là cái VỎ chứa đựng mọi khái niệm cũng như VŨ là bầu không gian của vũ trụ chứa đựng tất cả, để nó bị VÒ rụng mất đầu và đuôi còn lại trọi một âm tiết lõi. Bởi vậy từ vựng tiếng Việt chủ yếu là từ đơn âm tiết và từ láy có hai âm tiết dính nhau không thể đảo ngược  (nó là do từ một âm tiết sinh ra khi đang tự tách đôi thành hai nửa Âm Dương còn dính nhau trong nôi khái niệm và đang lớn dần lên để biến hình và tách rời hẳn khi nở ra khỏi nôi). Ví dụ khái niệm “đưa một phần tử rời cái tổng thể mà nó vốn gắn bó” tiếng Việt chỉ diễn tả bằng một “tiếng” là “KHỎI”. Từ KHỎI nầy rõ ràng là xuất hiện từ một cái tổng thể là KHỐI, một khối là một tổng thể. Từ KHỐI ở trong nôi khái niệm nó tự tách đôi thành KHÍT-KHAO còn dính nhau, trong nôi ấy “khít” đang trưởng thành dần về phía Âm hơn tức phía ít để rồi nở ra thành KHÉP, “khao” đang trưởng thành về phía Dương hơn là “lao” tức “lào” tức “lão” tức “lãnh” cho đến lớn, như “lồ” của khổng lồ, để rồi nở ra thành KHỎI. Cái nôi ấy là KHÉP…KHÍT-KHAO…KHỎI, đi từ “khép” đến “khỏi” là đi từ “ tĩnh” đến “động”, từ “kín mít” đến “tự do”. Từ KHỎI đã dẫn đến hàng trăm từ đơn âm tiết trong tiếng Việt mà chỉ cần phát âm một tiếng là đủ thấy ý “rời cái tổng thể” , để dùng trong các sắc thái khái niệm khác nhau. Nhưng trong tiếng Hán thì cái từ Việt một âm tiết ấy phải dịch thành một chữ Hán kèm với từ “khai” nữa là hai chữ Hán.Ví dụ tiếng Việt nói “lìa” tiếng Hán phải dịch là “ly khai”, tiếng Việt nói “rụng” tiếng Hán phải dịch là “lạc khai”…Nhưng từ “khai” mới chỉ là một phần khái niệm nhỏ của “khỏi” mà thôi, chỉ khi nào con người đạt đến trạng thái “khỏi” thật sự  tức tự do hoàn toàn thì mới phát hiện được tiềm năng của chính mình như Lão Tử từng nói.Cái chuỗi các từ mà từ KHỎI dẫn đến trong tiếng Việt mới chỉ đếm qua loa đã là như  sau:<br />KHỎI-khơi-cơi-cời-dời-di-đi-chi-chọi-chói-rọi-cởi-xới-bới-tưới-rưới-rời-sôi-lôi-lái-moi- mổ-sổ-bỏ-trổ-nổ-nở-nã-né-xé-bẻ-rẽ-vẽ-vỡ-rỡ-dỡ-giơ-đổ-xả-ngả-thả-phá-ra-rải-vãi-bày-lấy-lẩy-bẩy-chạy-nhảy-bay-bứng-vung-rụng-tung-bong-tâng-tách-tan-dâng-nâng-tranh-tránh-lánh-lãnh-lĩnh-lỉnh-lan-tràn-đẵn-cắt-chặt-xắt-cất-nhấc-bốc-bóc-móc-róc-dốc-dứt-đứt-rút-tụt-tút-tát-vớt-rắc-lắc-vứt-viết-chiết-vuốt-vuột-bước-tuột-lột-lọc-lọt-rót-rây-sẩy-nẩy-nảy-xảy-sảy-sàng-văng-vần-luồn-tuồn-khuân-chuồn-chuyền-chuyển-chém-ném-nới-tời-xoi-KHỎI. Đủ thấy có độc lập(KHỐI) và có tự do (KHỎI) sẽ đẻ ra tất cả. Độc lập có trước cũng như vũ trụ là MỘT có trước, mới có tự do có sau.<br />Nhưng tiếng Việt cũng có từ hai âm tiết.Ví dụ hai từ hoàn toàn đồng nghĩa với nhau đi ghép với nhau như là một từ hai âm tiết là để chỉ ý nhiều cái cùng chủng loại, như “đồng ruộng” thì “đồng”= “ruộng”= “vuông” là cái diện tích đất nhưng “đồng ruộng” có ý là nhiều diện tích đất, hay “gà qué” thì “gà” là của người Việt nói, “qué” tức “cáy” là của người Tày hay người Hoa nói cùng một con cả nhưng “gà qué” ý là nhiều loại gà, hay “chó má” thì “chó” là của người Việt nói, “má” là của người Tày hay người Lào nói cùng một con cả nhưng “chó má” ý là nhiều loại chó.Trong cách ghép ấy thì qui luật là cứ từ nào có sử dụng trong tiếng Việt trước thì được xếp đứng trước cũng như qui luật bất di bất dịch là chính trước phụ sau. Những kết cấu khác ghép hai hay ba âm tiết thì nó là cụm từ chứ không phải một từ.Ví dụ cụm từ “cu tí” là “con trai”, là do “kẻ”= “cò”= “KÔ”= “con”=“cu”= “tu”= “tí”= “tử”= “ZỬ ” mà chữ nho viết là 子nghĩa là một phần tử, cũng đồng thời mang ý là con trai. Trong các cách phát âm trên của một từ thì “KÔ” là của tiếng Nhật (kodomo là con trai), “tu” là của tiếng Tày (“tu má” là con chó,kết cấu cú pháp chính trước phụ sau), “ZỬ ” là của tiếng Quan Thoại ( “cẩu zử” là con chó, kết cấu cú pháp phụ trước chính sau),còn lại đều là của tiếng Việt.Vậy trong các từ đồng nghĩa ấy cái nào có trước tiên? Rõ ràng là từ “kẻ” có trước tiên vì nó nằm trong biểu ý của chữ nho 子 <br />là một cái KẺ vạch ngang (—) là phần tử Dương, là cái có đầu tiên trong vũ trụ và cái kẻ vạch biểu trưng cho Dương ấy là nét ký tự đầu tiên của người Lạc Việt, còn cái nét 了đó là chữ “rồi” tức “rồi đời” tức “liễu” là kết liễu, kết thúc cuộc đời. Chữ 子 (đọc là “tử” ) biểu ý cho KẺ hay CON thì kẻ nào cũng vậy, con nào cũng vậy,  dù là con vật hay con người đều hiện diện từ bắt đầu( — ) cho đến kết thúc(了 )sự tồn tại của nó.Cái âm tiết là “tử” mang lại cái biểu âm cho chữ TỰ mà chữ nho viết là 字 (tức宀 là hình + âm là子 = biểu ý) nghĩa là con (người) ở dưới mái nhà ( mà bộ “miên” 宀  tức từ “mái” nhà của tiếng Việt, tiếng Hán mái nhà gọi là “kai” tức “cài” hay “đậy” là cái nắp úp như lều vải bạt của dân du mục đồng cỏ-kiến trúc nóc bầu tròn như Thiên Đàn ở Bắc Kinh hay các tháp ở Matcơva của Nga là ảnh hưởng văn hóa kiến trúc của dân Tácta Mông Cổ, người Nga là dân Slavơ đã có pha trộn với Tácta, dù dân số đông gấp nhiều lần dân các nước Slavơ khác, người Nga vẫn công nhận mẫu tự Slavơ là do người Slavơ cổ ở Bungari sáng tạo ra, người Bungari là dân Slavơ cổ sau đã có pha trộn với Thổ Nhĩ Kỳ).Con người đã biết làm nhà để ở tức đã văn minh rồi nên mới có chữ.<br /><br />Cũng bởi cái qui luật cụm từ ghép trong tiếng Việt là cái từ có trước đứng trước, cái từ có sau đứng sau nên tôi mới nghi ngờ cụm từ “ông Nam Tào Bắc Đẩu”, rồi “ông Nam Tào” , “sổ Nam Tào” chứ chưa từng nghe thấy từ “ông Bắc Đẩu”, nên mới nêu ra đây để nhờ Thầy Thiên Sứ giải thích giùm. Nghe đến mấy từ ấy ai cũng thấy rờn rợn kính sợ, đúng như  “đại uy nỗ”  trong tranh ngũ hổ Hàng Trống.Ví dụ nghe bị vào sổ Nam Tào tức hiểu là đã bị vào sổ đen của thần chết. Rồi nghe nói là phải “cúng ông Nam Tào Bắc Đẩu”.Vậy Nam Tào Bắc Đẩu là một ông hay hai ông? hay là Nam Tào=Bắc Đẩu?Tra trong tử điển tiếng Việt thì không thấy có mấy từ đó. Từ điển tiếng Việt (nxb KHXH 1977) có giải thích từ “bắc đẩu” là “chòm sao về phương Bắc,trông như một cái gàu sòng lớn”, từ “nam tào” là “tên một vì sao về phương Nam”, không có từ “ông Nam Tào” và cũng không có từ “ông Nam Tào Bắc Đẩu”.Từ điển Hán Việt (nxb KHXH) có chữ Bắc Đẩu tinh北斗星 là “sao Bắc Đẩu” và chữ Nam Đẩu Tinh南斗星  là “sao Nam Đẩu”. Từ điển bách khoa Việt Nam (nxb từ điển bách khoa Hà Nội 2003) có từ “bắc đẩu” chứ không có từ “nam tào”, và cũng không có từ “ông Nam Tào” hay “ông Nam Tào Bắc Đẩu”. Không biết trong thiên văn học có vì sao “Nam Đẩu” không?mà trong máy tính thì có chữ “bắc đẩu tinh”北斗星, có chữ “nam đẩu”南斗 chứ lại không có chữ “nam đẩu tinh”南斗星, đó là cái mà tôi cần hỏi. Vì “nam tào”= “nam đẩu” thì rõ ràng rồi, đó là do phát âm mà thôi, chữ thì chỉ là một南斗.Còn cái “Ông Nam Tào Bắc Đẩu” như dân gian nói nếu chỉ là một ông là “chòm sao Bắc Đẩu” mà họ thờ một cách kính sợ trong tranh ngũ hổ thì tức là “Nam Tào”= “Bắc Đẩu”, chẳng qua là tên gọi có trước ghép cùng tên gọi có sau mà thôi. Nếu đúng như vậy thì rõ ràng là thuở xưa người ta dùng la bàn gọi là cái “Kim chỉ Nam” để tìm ra hướng “Nam Tào” là hướng của dịch lý chỉ hướng bắc cực, cái tên Nam sau bị con người đổi cách gọi là Bắc chăng ?chứ trục trái đất thì vẫn thế?]]></description>
		<pubDate>Mon, 23 Aug 2010 16:57:07 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15770</guid>
	</item>
	<item>
		<title><![CDATA[Thông Tin Thêm Về "bách Việt Tiên Hiền Chí"]]></title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15743</link>
		<description><![CDATA[<!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro--><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Thông tin thêm về cuốn sách “Bách Việt tiên hiền chí”<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /> <!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->T<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->hời Xuân Thu Chiến Quốc kéo dài từ năm 770 BC đến 221 BC là thời kỳ có rất nhiều học phái gọi là “Bách gia tranh minh” tức trăm nhà đua gáy thể hiện sự năng động hoạt bát trong sáng tạo tư duy của dân Bách Việt, các đạo cùng tồn tại và thỏa sức tranh luận nhau, đó là Nho gia của Khổng-Mạnh-Tuân, Đạo gia của Lão-Trang, Mặc gia của Mặc tử, Pháp gia của Hàn Phi tử, Âm Dương gia của Trâu Diễn, Tung Hoành gia của Tô Tần-Trương Nghĩa, Tạp gia của Lã Bất Vi, Nông gia của Hứa Hạnh, Danh gia của Huệ Thi- Công Tôn Long. <br />Từ Tần Thủy Hoàng bắt đầu bạo hành “đốt sách, chôn Nho sĩ”; sau đó Hán Vũ Đế Lưu Triệt (156 BC-87 BC) lại phản động theo một cực đoan khác là cấm “bách gia”, chỉ độc tôn Nho gia , đề xuất “tam cương”: Thiên tử thụ mệnh ư thiên,Thiên hạ thụ mệnh ư thiên tử, Thân dĩ tâm vi bản, Quốc dĩ quân vi bản, Quân vương vị trung tâm; để nhất nhất phải theo chỉ ý của triều đình mà nói thuyết và hành sự (không như “phép vua thua lệ làng” trong tư tưởng hoạt bát của dân Việt cổ).<br />Từ khi căn bản diệt xong nhà Tống, các triều đại sau kế tiếp nhau từ Liêu, Kim, Nguyên, Minh, Thanh thì bốn trong năm triều đại đó đều là ngoại bang (rợ Khiết Đan)  thống trị Trung Hoa. Thời Nguyên, người Mông Cổ chia chức nghiệp ra làm mười bậc:  Quan, Sứ, Tăng, Đạo, Y, Công, Thợ, Xướng, Nho, Ăn mày, cho thấy họ đánh giá Nho còn thấp hơn cả xướng kỹ. (Thời nhà Thanh sửa đổi cổ thư còn tệ hại hơn. Lỗ Tấn trong cuốn “Hoa cái tập,này với kia华盖集 这个与那个” đã nói triều Mãn Thanh công nhiên sửa đổi cổ tịch: “ Hiện nay các học giả Trung Quốc và phương Tây hầu như hễ nghe đến danh mục “Khâm định tứ khố toàn thư” đều ngoan ngoãn thán phục và nghe theo, kỳ thực nguyên tác các sách cổ đã bị sửa đổi rồi, thêm vào nhiều chữ sai, thậm chí nhiều đoạn văn bị cạo xóa sửa lại. Rõ ràng nhất như “Lâm Lương bí thất tùng thư 琳琅秘室丛書” trong đó có bản “Mâu đình khách thoại茅亭客話”, nếu lấy bản của Tống so sánh với bản của “Tứ khố” thì sẽ phát hiện ra ngay. Thời Thanh phát hành, mọi người nghĩ ắt thấy ngay, nhưng ai dám công nhiên trách vấn?”).<br /> Cho nên cuối Nguyên đầu Minh có năm học giả trứ danh người Lĩnh Nam là Tôn Công, Triệu Giới, Vương Hựu, Hoàng Triết, Lý Đức rủ nhau lập ở Nam Viên thành phố Quảng Châu một Hội thơ nhằm chấn hưng phong nhã. Do năm vị này về học vấn và đạo đức đều có ảnh hưởng rất lớn trong giới trí thức Lĩnh Nam nên người đương thời rất kính trọng và mến mộ họ, gọi họ là “Nam Viên ngũ Tiên sinh”. Đến thời vua Gia Tĩnh triều Minh, học giả Âu Đại Nhậm cùng bốn học giả khác là các ông Lương Hữu Dự, Lê Dân Biểu, Ngô Đán, Lý Thì vì hâm mộ cao phong lượng tiết và thi thư xuất sắc của năm vị tiền bối của Hội thơ xưa nên lại khởi xướng ở Nam Viên một Hội thơ “nhã tập hào ngâm”. Do vậy người đương thời gọi họ là “Nam Viên hậu ngũ tử”.<br />Âu Đại Nhậm tên chữ là Trinh Bá, người huyện Thuận Đức tỉnh Quảng Đông, khi còn trẻ ông đã thi hương (cấp tỉnh) để đậu cử nhân rồi qua tiếp thi hội (ở kinh đô) đậu cống sinh, còn gọi là cống sĩ (chưa đến tiến sĩ), nhậm chức Huấn đạo ở Giang Đô (nay là Dương Châu tỉnh Giang Tô). Không lâu sau đó ông phụng mệnh lên kinh đô Nam Kinh tham gia sửa cuốn “Thế tông thực lục”. Sau lại chuyển về Quang Châu (nay là Hoàng Xuyên tỉnh Hà Nam) làm học chính. Năm Vạn Lịch thứ ba (1575) nhậm chức trợ giáo Quốc Tử Giám, sau thăng lên chức Đại lý thi bình sự. Ông chấp pháp rất ngay thẳng, không khuất phục áp lực của quyền quí nên rất nổi danh. Ông đã phản bác lại rất nhiều án giả, án sai, án oan trong lĩnh vực dân sự. Cuối cùng ông làm quan ở bộ công đến năm Vạn Lịch thứ mười hai thì lấy cớ tuổi cao cáo quan về quê khởi động lại thi đàn, là thành viên của “Nam Viên hậu ngũ tiên sinh”, không cam chịu dính nhơ nhớp trong quan trường thối nát. Ông sáng tác nhiều thơ, tập hợp thành 28 quyển. Nội dung và khí tiết thơ của thi đàn Nam Viên được hậu thế kính trọng và hâm mộ. Sau ông mất, được thờ tại Hương Hiền tự và Tiền Hậu Ngũ Tiên Sinh tự.<br />Tập  “Bách Việt tiên hiền chí” của Âu Đại Nhậm gồm bốn quyển, sưu tầm được 120 danh nhân là những học giả trứ danh người Bách Việt từ thời Đông Hán đến thời Minh, đông nhất là thời các nước Việt, Ngô, Sở. Riêng người ở Cối Kê thủ đô của Việt Quốc của Việt Vương Câu Tiễn chiếm đến 30 vị, ở Nam Hải 5 vị, ở Giao Châu 1 vị quê ở Sòng Sơn.]]></description>
		<pubDate>Fri, 20 Aug 2010 17:19:09 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15743</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Ông Khiết - Biểu Tượng Minh Triết Việt</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15722</link>
		<description><![CDATA[Tôi xin gửi hình Ông Khiết Cổ sưu tầm được,để mọi người tham khảo,vì không vào được chủ đề Ông khiết -<br /><br />Biểu Tượng Minh Triết Việt - nên xin phép tạo chủ đề mới - mục đích chính là để mọi người biết thêm một <br /><br />hình ảnh nữa về Ông Khiết...]]></description>
		<pubDate>Thu, 19 Aug 2010 13:14:41 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15722</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Khảo Sát Về Nguồn Gốc Lễ Vu Lan ở Kathmandu, Nepal</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15705</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#8b0000--><span style="color:#8b0000"><!--/coloro--><div align='left'><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#8b0000--><span style="color:#8b0000"><!--/coloro--><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></div>Khảo sát về nguồn gốc Lễ Vu lan ở Kathmandu, Nepal.<br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><b>Trong quá trình 5 năm cư trú tại Nepal, chúng tôi đã có dịp may để khảo sát những phong tục cổ truyền của dân chúng địa phương. Một trong những lễ quan trọng trong năm, cũng có thể nói là quan trọng nhất, của Phật tử ở đây là Đại lễ Vu lan. Lễ Vu lan của Nepal có gì khác với lễ Vu lan tại Trung Quốc và Việt Nam? Nó được thực hiện như thế nào? Nguồn gốc của lễ ấy? Trước tiên chúng ta hãy nhìn lại nguồn gốc của lễ Vu lan ở Trung Quốc.</b> <br /><br /><div align='left'><b>Nguồn gốc Lễ Vu lan tại Trung Quốc</b> </div><br />Phần này chúng tôi không đi sâu vào chi tiết về từ nguyên, lịch sử hoặc cách thức thực hành nghi lễ. Chỉ điểm qua một số nét chính để có cơ sở so sánh với lễ Vu lan tại Nepal.<br /><br /><img src="http://giacngo.vn/UserImages/2010/08/13/1/levulan.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br /><i>Tượng Phật được trưng bày cho Phật tử chiêm bái và cúng dường nhân mùa Güla.<br /><br />Có lẽ bị ảnh hưởng từ Phật giáo Trung hoa, Phật giáo của Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên cũng tổ chức lễ Vu lan gần giống như của Trung Hoa. Nói chung, tất cả các nước trên đều tổ chức lễ Vu lan dựa theo bài kinh [i]Phật thuyết kinh Vu lan</i> do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn (265-316). Kinh này nói về sự tích Phật dạy ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ khi mẹ bị đọa ở địa ngục. Và tất cả đều thống nhất ở một điểm theo truyền thống Phật giáo: ngày rằm tháng Bảy (theo âm lịch Trung Hoa) là ngày chư Phật hoan hỷ, oai lực chư Tăng được tăng trưởng sau ba tháng an cư, và là ngày tự tứ, do đó chư Tăng hội họp đầy đủ.<br /><br />"…<i>Rằm tháng Bảy là ngày tự tứ</i><br /><br /><i>Mười phương Tăng đều dự lễ này</i><br /><br /><i>Phải toan sắm sửa chớ chầy</i><br /><br /><i>Thức ăn trăm món, trái cây năm màu…".</i>(Phật thuyết Kinh <i>Vu lan</i>)<br /><br />Thật ra, tập tục cúng bái tổ tiên và tẩy trừ ma quỷ vào dịp rằm tháng Bảy tại Trung Quốc đã xuất hiện từ rất lâu đời (ít nhất là từ đời Hán). Còn Tết Trung nguyên của Đạo giáo thì cũng có trước thế kỷ thứ VII. Khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc, có lẽ trùng hợp về thời điểm và quan niệm báo hiếu nên người Trung Quốc đã hấp thụ lễ Vu lan của Phật giáo và biến lễ Vu lan tại Trung Quốc trở thành một lễ dân gian mang tính tổng hòa của: Tập tục thờ cúng tổ tiên + Tết Trung nguyên của Đạo giáo + Lễ báo hiếu của Phật giáo.<br /><br /><img src="http://giacngo.vn/UserImages/2010/08/13/1/vulan.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br /><div align='center'><i>Chư Ni tụng kinh trên đỉnh đồi Swayambhu vào mùa Güla</i>.</div>]]></description>
		<pubDate>Wed, 18 Aug 2010 09:45:29 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15705</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Phong Thủy Ngôi Nhà Của Người Mẹ ăn Mày Và 10 đứa Con điên</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15699</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#483d8b--><span style="color:#483d8b"><!--/coloro--><!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->PHONG THỦY NGÔI NHÀ CỦA NGƯỜI MẸ ĂN MÀY NUỐI 10 ĐỨA CON ĐIÊN.<br /><br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><b><i><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->T<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec-->rước tiên, Tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn Mickey và Phóng Viên Phạm Ngoc Dương đã rất nhiệt tình trong việc làm từ thiện.<br />Mickey là học viên lớp PTCB3, đã cho tôi xem đường link này. Nhiệt tình và đầy tình người, Mickey lấy xe riêng rồi gọi cho Phóng Viên Phạm Ngọc Dương-ngừoi đã viêt bài phóng sự này thu xếp cùng tôi đi Hải Phòng. Mục đích để tìm xem liệu có thể dùng Phong Thủy Lạc Việt để giảm bớt nỗi khổ cho Người Mẹ của 10 đứa con điên hay không. Một việc từ thiện và đương nhiên tôi được Sư Phụ Thiên Sứ ủng hộ và khuyến khích.<br />Trước khi lên đường, Tôi có ngồi cùng SP và Mickey, độn được quẻ Hưu-Lưu Niên. Tôi chỉ xác định là có lẽ dưới lòng đất ngôi nhà này có mạch nước ngầm hay cái gì đó rất xấu. Sp cũng đồng ý và nói thêm, có khả năng ngôi nhà này bị bế khí vì ở trong con hẻm. Được SP dặn dò kỹ lưỡng trước khi đi, Tôi và Mickey tràn đầy hy vọng vì có thể giúp được nhân vật trong câu chuyện sau:</i></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><br /><a href="http://www.vtc.vn/394-255763/phong-su-kham-pha/nguoi-me-an-may-va-10-dua-con-dien.htm" target="_blank">http://www.vtc.vn/394-255763/phong-su-kham...ua-con-dien.htm</a><br /><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><br />Người mẹ ăn mày và 10 đứa con điên<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><!--coloro:#000000--><span style="color:#000000"><!--/coloro--><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->27/07/2010 09:01<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br /><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#2f4f4f--><span style="color:#2f4f4f"><!--/coloro--><i><b>(VTC News) - Bà Nở hỏi: “Gầm trời này, cháu có thấy ai khổ như cô không?”. Tôi im lặng. Chẳng biết phải nói thế nào. Không hiểu “bể khổ” có lớn bằng nỗi khổ của bà không nữa.</b></i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->V<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->ào ngõ 239, đường Đà Nẵng (Quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng), hỏi bà Nguyễn Thị Nở, người dân lại hỏi: “Chú ở bệnh viện tâm thần à?”, “Chú đến cho gạo bà Nở hả?”… Vậy mà phải hỏi rất nhiều lần, vòng qua mấy ngóc ngách, tôi mới tìm thấy ngôi nhà có cổng rả xộc xệch. Căn nhà cấp bốn, tường vữa loang lổ, ám khói đen xì.<br />Tôi gọi cổng, người đàn bà tóc muối tiêu, đôi mắt u sầu, quần áo xộc xệch hơn cả cái cổng, chui ra từ căn bếp khói mù mịt. Bà dụi dụi đôi mắt ám khói bảo: “Mời chú vào nhà”.<br /><br /><img src="http://vtc.vn/media/vtcnews/2010/07/26/DSC035099.jpg" border="0" class="linked-image" /><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><i><br />10 lần rứt ruột đẻ con, thì kết cục bà Nở nhận được là 10 người con tâm thần. Ảnh: Phạm Ngọc Dương. </i><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Nhìn ngó mãi, tôi chẳng thấy trong căn nhà rộng chừng 30 mét vuông có thứ gì đáng giá. Có lẽ, để hoang ngôi nhà này, may ra có mấy bà đồng nát xấu bụng nhặt được mấy cái xoong méo mó. Sống giữa thành phố hoa lệ, song bà Nở vẫn đun bếp bằng củi, khói bay mù mịt, làm nức mũi hàng xóm. Bà Nở giải thích: “Gạo ăn còn chẳng có, cháu bảo lấy tiền đâu mà mua ga, mua than. Cô phải đi dọc hai bờ sông Cấm, xem có miếng củi nào dạt vào bờ thì vớt lên phơi, phơi khô thì chẻ ra, bó lại, vác về chất trong bếp đun dần. Hàng xóm xung quanh cũng tốt bụng, ai có giường tủ, bàn ghế mục nát, cũng để dành cho cô. Giường của người chết họ cũng không đốt, không thả trôi sông, mà cho cô chẻ ra đun. Mấy cái chiếu mới trải tạm xuống nền nhà để mấy mẹ con ngủ cũng là của người chết bố thí cho đấy’.<br />Tôi ngồi xuống manh chiếu của gia đình có người mới chết cho mà lòng rưng rưng. Bà Nở ngồi thu lu ở góc nhà, đôi mắt đục buồn nhìn vào bốn bức vách. Cậu con trai Phạm Văn Hậu ngồi góc nhà, cởi trần trùng trục, khoe bộ xương sườn, chẳng nói chẳng rằng gì cả. Cô con gái Phạm Thị Bích thì ngồi ở góc bên kia, nói luôn mồm, nhưng cũng chẳng rõ cô nói gì.<br /><br /><br /><img src="http://vtc.vn/media/vtcnews/2010/07/26/DSC03512.jpg" border="0" class="linked-image" /><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><i><br />Trong ngôi nhà của mẹ con bà, thứ đáng giá nhất là mấy cái xoong méo. Ảnh: Phạm Ngọc Dương. </i><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Tôi hỏi mấy câu về cuộc đời bà, rằng đời bà lúc nào thấy khổ nhất, bà Nở chẳng biết bắt đầu từ đâu. Bà bảo: “Suốt đời cô, cô chả thấy lúc nào sướng, lúc nào cũng khổ, cũng không biết lúc nào là khổ nhất cả. 65 tuổi rồi, cô vẫn phải đi ăn mày để nuôi thân, nuôi con, thì cháu bảo đến bao giờ cô mới hết khổ. Không biết, chết đi rồi, ở kiếp khác, cô có khổ nữa không nhỉ?”.<br />Bà Nguyễn Thị Nở sinh năm 1945, đúng vào năm cả nước chết đói, chết như ngả rạ. Nhà không có gì ăn, cả làng chết đói, thế mà cô bé Nở vẫn sống. Sau này, bố mẹ bảo Nở là người giời, không có gì ăn suốt một tuần mà không chết, mà cứ khóc oe oe. Bà Nở bảo, đời bà là vậy, sinh ra, đã đói, đã khổ rồi. Nếu bà chết đói luôn khi đó, thì bà và chục con người không phải khổ đến thế này.<br /><br /><img src="http://vtc.vn/media/vtcnews/2010/07/26/DSC03516.jpg" border="0" class="linked-image" /><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><i><br />Bà Nở phải ra sông Cấm vớt củi vào những ngày nước lũ mới có thứ để đun. Ảnh: Phạm Ngọc Dương. </i><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />Bà Nở quê ở xã Cộng Hiền (Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Năm 19 tuổi, bà gặp ông Phạm Văn Phong, trai Hà Nội, nhà ở Giảng Võ hẳn hoi. Ông là trai Hà Nội, nhưng nghề nghiệp là bốc vác xi măng ở Nhà máy xi măng Hải Phòng. Bà Nở cũng làm bốc vác xi măng. Hai kẻ nghèo hèn gặp nhau, nên vợ nên chồng. <br />Tôi hỏi: “Gia đình nhà hai bác, có ai bị tâm thần không?”. Bà Nở ngẫm một lát mới nhớ ra rằng, ông ngoại bà bị tâm thần, còn bên chồng thì có anh trai của chồng bị tâm thần. Chẳng biết có mối liên hệ gì không, nhưng bà Nở không tâm thần, ông Phong lại càng bình thường, thế mà đẻ ra tới 10 đứa con tâm thần. Thật là khó tưởng tượng.<br />Tuy nhiên, bà Nở bảo, nguyên nhân đàn con đông đúc của bà bị tâm thần tất thảy không phải vì có mối liên hệ với ông ngoại bà và anh trai chồng, mà có nguyên nhân rất “mê tín dị đoan”, từ cái ngôi nhà “ma ám” này!<br />Theo lời bà Nở, xưa kia, ngôi nhà gia đình bà ở là của một anh lái tàu biển rất giàu có. Anh ta mua ngôi nhà này cho vợ ở và thi thoảng về thăm vợ mỗi chuyến cập bến Hải Phòng. Mỗi lần về, anh ta lại mang về một nắm vàng, vợ đựng đầy ống bơ. Hai vợ chồng vàng đeo lủng liểng khắp người.<br />Thế nhưng, một ngày, hai vợ chồng anh này nổi điên. Lúc tỉnh táo, anh ta đã gọi vợ chồng bà đến, bán cho với giá bằng nửa tháng công bốc vác xi măng. Hai vợ chồng nghèo, tự dưng vớ được ngôi nhà rẻ như cho, nên vui lắm. Sau đó vợ chồng anh này đi đâu, sống chết thế nào thì chẳng ai rõ.<br />Những người con đẹp đẽ như thế này cứ bỗng dưng phát bệnh tâm thần. Ảnh chụp lại. <br /><br /><img src="http://vtc.vn/media/vtcnews/2010/07/26/DSC05650.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br />Chẳng biết lời đồn có đúng hay không, hay nặng nợ truyền kiếp, nhưng số phận gia đình bà Nở lại cay nghiệt đến vậy. Bà mê tín dị đoan, rước không biết bao nhiêu thầy cúng về. Tuy nhiên, thầy cúng thì cứ cúng, những đứa con đẹp đẽ thì cứ lần lượt điên khùng, không gì kìm hãm được. Mấy ông thầy cúng chả chế ngự được cái sự điền rồ triền miên trong ngôi nhà này, thì đổ cho “đất nghịch”, đổ cho người Trung Quốc xưa kia “yểm bùa”… Họ còn bảo, nếu họ đuổi tà ma trong nhà, thì họ sẽ bị tà ma… ăn thịt! <br />Thôi thì đủ cả thứ đồn đại, đủ cả thứ dị đoan trong ngôi nhà này. Kết cục thì hồi đầu năm, túng quá, bà Nở tính bán căn nhà để có tiền nuôi con, chữa bệnh cho con, rồi mẹ con ra gầm cầu Bính, Cầu Niệm, Cầu Rào, hay cái gầm cầu nào ở cũng được, ở với bọn nghiện cũng được. Nhưng khốn nỗi, gọi mãi mới có người đến mua. Anh ta tính giá 200 ngàn một mét vuông, miếng đất của bà tổng cộng 60 mét vuông, vậy vị chi là 12 triệu đồng. Cầm 12 triệu đồng thì làm được gì chứ, đủ cho một đứa nằm viện nửa tháng là cùng. Trong khi, những ngôi nhà bên cạnh, họ bán vài trăm triệu, thậm chí tiền tỉ. Ấy vậy mà, đã từng có một vị khách nữa đến trả ngôi nhà giữa TP. Hải Phòng của bà 5 triệu đồng. Sao người ta đang tâm thế nhỉ? Thôi thì, mẹ con bà đành chấp nhận sống giữa thành phố hoa lệ, mà sống cảnh chị Dậu, còn hơn cả chị Dậu nữa chứ.]]></description>
		<pubDate>Tue, 17 Aug 2010 17:28:11 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15699</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Bách Việt Tiên Hiền Chí</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15689</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro--><b>Bách Việt     Tiên Hiền Chí </b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->hodovietnam.vn<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><br />  					<!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto-->05/04/2007				  			  				  <!--fontc--></span><!--/fontc--><b><br /></b>    <br /><br />  <!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><i><b>Giới   Thiệu "Bách Việt Tiên Hiền Chí" là một tác phẩm quan trọng cho những ai   muốn tìm hiểu về nguồn gốc của chủng tộc Bách Việt ngày xưa.</b></i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--> <br />  <br /><br />  <!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->"T<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->heo bộ đại từ điển Từ Hải Hợp đính, gọi tắt là Từ Hải, viết bằng lối   chữ phồn thể, xuất bản tháng 3 năm 1947 (tái bản tháng 2 năm 2003) thì: <br />   "Bách   Việt (chữ Việt bộ Tẩu), tên của chủng tộc, cũng viết là Bách Việt (chữ   Việt bộ Mễ). Theo sách Thông Khảo Dư Địa Khảo Cổ Nam Việt: Từ Ngũ Lĩnh   về phía Nam, cùng thời với Đường, Ngu, Tam Đại, là nước của Man Di, ấy   là đất của Bách Việt."   <br />"Bách   Việt (chữ Việt bộ Tẩu), tên của chủng tộc, cũng viết là Bách Việt (chữ   Việt bộ Mễ). Theo sách Thông Khảo Dư Địa Khảo Cổ Nam Việt: Từ Ngũ Lĩnh   về phía Nam, cùng thời với Đường, Ngu, Tam Đại, là nước của Man Di, ấy   là đất của Bách Việt."     Từ   Hải còn ghi chú thêm: "Từ Giao Chỉ đến Cối Kê, bảy, tám nghìn dặm, Bách   Việt sống lẫn lộn với các dân tộc khác, nhưng luôn luông giữ cá tính của   dân tộc(Bách Việt tạp cư, các hữu chủng tính).   <br />  Xem   như vậy, Bách Việt , từ núi Ngũ lĩnh đổ xuống phương Nam, vừa là nước,   vừa là sắc dân, sự hiện diện đã được ghi nhận, từ thời thượng cổ Đường (   vua Nghiêu), Ngu ( vua Thuấn), Tam Đại ( Hạ, Thương, Chu). Và, người   Bách Việt có cá tính riêng và luôn luôn giữ cá tính nầy. Đúng với sự   khẳng định của Nguyễn Trãi, trong bài Bình Ngô Đại Cáo:   <br /><br />  <i><!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->Sơn xuyên chi phong vực ký thù  <br />Nam Bắc chi phong tục diệc dị<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><b><br />  </b><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><br />Sơn hà cương vực đã chia<br />  Phong tục Bắc Nam cũng khác<br />  <!--colorc--></span><!--/colorc--></i><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro-->Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ dịch<!--colorc--></span><!--/colorc--><br />  <br />  "Bách Việt Tiên Hiền Chí", như tựa đề, là một công trình sưu tập, nghiên   cứu, ghi lại một cách công phu hành trạng, công nghiệp, ngôn từ, tư   tưởng của các danh nhân người Bách Việt , trải qua nhiều triều đại của   Trung Hoa. Những danh nhân này, với phong cách cao quý, tài năng vượt   bực, tư tưởng cao siêu, đã là thành phần nồng cốt xây dựng nên nền văn   minh, mà ngày nay, thế giới gọi là văn minh Trung Hoa.<br />  Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam đã sưu tập được hai bộ "Bách Việt   Tiên Hiền Chí".   <br />  Một   bản in năm Tân Mão (1831), đời Thanh, chữ lớn, khắc đẹp, nơi tên tác giả   đề là Thuận Đức Âu Đại Nhậm (ông Âu Đại Nhậm, người ở Thuận Đức).<br />  Bản thứ hai, in vào năm Dân Quốc thứ hai mươi sáu (1936), chữ nhỏ, bản   khắc có nhiều chữ không rõ, nơi tên tác giả đề là Minh Thuận Đức Âu Đại   Nhậm Trinh Bá soạn (soạn bởi ông Âu Đại Nhậm, tự là Trinh Bá, người ở   Thuận Đức, đời nhà Minh).    <br /><br />  Như   vậy, tác giả của sách là Âu Đại Nhậm.   <br />  Theo   Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu, Âu Đại Nhậm, tên chữ là Trinh Bá, người   huyện Thuận Đức, tỉnh Quảng Đông, làm quan đời Gia Tĩnh, triều Minh, đã   từng giữ những chức vụ huấn đạo Giang Tô, đổi làm học chánh Quang Châu,   rồi về triều làm bác sĩ Quốc Tử Giám, chúc vụ sau cùng của ông là hộ bộ   lang trung ở Nam Kinh.   <br />  Phần lớn cuộc đời làm quan của ông là ở đất Bách Việt cũ, nên ông có   nhiều cơ hội tìm hiểu, sưu tập những chứng tích về tiên hiền Bách Việt.   <br />  Vả   chăng, Âu Đại Nhậm, gốc tích từ Thuận Đức, Quãng Đông, cũng là người   thuộc gốc Bách Việt.   <br />  Thuận   Đức là một huyện thuộc Quảng Đông, phía Đông Nam huyện Nam Hải, gần   giáp Giang Tây, chạy ra tới biển. Tên huyện được đạt thời nhà Minh, tiếp   tục giữ dưới thời nhà Thanh. Đến đời vua Quang Tự nhà Thanh, Thuận Đức   được mở rộng thành một hải cảng lớn, nỗi tiếng là nơi sản xuất và xuất   cảng tơ, lụa, vân, sa...<br />  (Xin đừng lầm với phủ Thuận Đức thuộc tỉnh Trực lệ. Phủ nầy được lập vào   đời nhà Tống, vào thời Kim, Nguyên đổi thành bộ, đến đời Minh đổi lại   là phủ. Nhà Thanh vẫn giữ nguyên theo nhà Minh. Đến thời Dân Quốc, tên   Thuận Đức bị bãi bỏ.   <br />  Như vậy, bộ "Bách Việt Tiên Hiền Chí" được viết bởi một người gốc Bách   Việt, từng làm quan nhiều năm ở đất Bách Việt cũ, viết về tiên hiền Bách   Việt. Tóm tắt, đây là bộ sách của người Bách Việt viết về tiền nhân   Bách Việt.   <br />  Nhận   thấy tầm quan trọng của bộ "Bách Việt Tiên Hiền Chí", đối với dân tộc   Việt Nam (là một trong Bách Việt), nhất là trong giai đoạn nầy, giai   đoạn mà Việt tộc đang phải chống chọi với những cuộc xâm lăng văn hóa từ   nhiều phía, Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam đã đề nghị giáo sư   Trần Lam Giang phiên dịch bộ sách nầy ra Việt ngữ và giáo sư đã mau mắn   nhận lời, coi đây là một công tác mà anh em giao phó, để giúp cho các   thế hệ trẻ có thêm tài liệu xác tín khi tìm hiểu về quá khứ của dân tộc.<br />  Người xưa có câu "chu tầm chu, mã tầm mã", nghĩa là "những người sống   trên thuyền thì tìm đến và sống với những người sống trên thuyền; giống   dân sống trên lưng ngựa thì tìm đến và sống với giống dân sống trên lưng   ngựa." Câu nầy phân biệt rõ rang sự khác nhau giữa hai chủng tộc, Việt ở   phương Nam và Tàu ở phương Bắc; giữa giống dân sống định cư, làm ruộng   trên vùng sông nước và giống dân sống du mục trên lưng ngựa, khác nhau   từ nếp sống, phong tục tập quán đến văn hóa.   <br />  Trong   Kinh Thi, với thiên Chu Nam và Thiệu Nam, Khổng Tử đã ca tụng nền văn   minh rực rỡ của phương Nam và vị vạn thế sư biểu của Bắc tộc đã học hỏi   rất nhiều ở nền văn minh nầy, đem áp dụng và đặt ra những quy luật xã   hội cho các giống dân phương Bắc...   <br />  Trong   kinh Xuân Thu, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con,   cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh em dâm loạn với nhau, bề   tôi giết chúa, trong giới vua chúa quý tộc Trung Hoa. Điều nầy, chứng tỏ   rằng, trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào đời sống nề nếp của   văn minh nông nghiệp, thì Bắc tộc Trung Hoa vẫn còn dã man với nếp sống   du mục.   <br />  Khổng   Tử đã đem những gì nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách   Việt phương Nam, đạt để thành những quy luật, trật tự xã hội cho phương   Bắc. Bởi vậy, ông mới xác định công việc của ông là "thuật nhi bất tác"   <br />  Trải   qua các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, Bắc tộc Trung Hoa đã xâm lăng,   thôn tính được đất đai Bách Việt, nhưng ngược lại đã bị nền văn minh   Bách Việt đồng hóa.   <br />  Hởi   ơi, Bách Việt ngày nay còn lại những dòng tộc nào? Có còn chăng là Việt   Văn Lang trên mảnh đất hình chữ S ven bờ Đông Hải. Lịch sử của Việt Văn   Lang là chống chọi triền miên với các cuộc xâm lược của Bắc tộc, để gìn   giữ nền độc lập, tự chủ cho mảnh đất cuối cùng của Bách Việt ở cõi trời   Nam.   <br />  Ngày   nay, người Đài Loan xác định nguồn gốc Bách Việt của họ, gồm Điền Việt   từ Vân Nam, Việt Đông từ Quảng Đông, Quảng Tây và Mân Việt từ Phúc Kiến,   Chiết Giang, với mục đích muốn tuyên bố độc lập cho đảo quốc nầy.    <br />  Cũng   ngày nay, do các công trình khảo cổ, nghiên cứu chủng tộc, người ta xác   định dân tộc Nhật Bổn vốn phát xuất từ Việt Đông.   <br />Việt   Văn Lang không cần xác định gì hết về nguồn gốc, vì từ ngàn xưa, vẫn   vững chân trên lãnh thổ của mình. Chẳng những vậy, Việt Văn Lang còn   "cầm búa đi khai phá phương Nam" (đúng theo ý chí của tiền nhân khi dung   bộ "tẩu" viết nên chữ Việt), để mở rộng cơ đồ xuống tận mũi Cà Mau...   <br />  Đọc   "Bách Việt Tiên Hiền Chí" để hiểu rõ sự khác biệt giữa văn hóa Bách Việt   và văn hóa Bắc tộc Trung Hoa; để phân biệt đâu là văn minh Bách Việt   trong nền văn minh mà thế giới ngày nay gọi là văn minh Trung Hoa.   <br /> <!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#483d8b--><span style="color:#483d8b"><!--/coloro--><b><i>Trên tường bên trong lăng Triệu Mạt ở  Quảng Châu là   nhiều tranh vẽ hoặc khắc trên đá thể hiện văn  minh của thời   Bách Việt vốn vẫn còn ảnh hưởng qua ngôn ngữ và văn  hoá người Quảng   Đông. Người Quảng Châu vẫn dùng từ 'Việt' rất nhiều,  nhưng chữ Việt   đây theo bộ Mễ, không phải Tẩu, dù có thể  trước đây được dùng   qua lại </i></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br />   <b> Ghi chú: </b> "<b>Bách Việt tiên hiền chí</b> "   tác giả  Âu Đại  Nhiệm viết vào năm 1554 <br />    <!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><br /><b>Trung   Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam  trân trọng giới thiệu tác   phẩm nầy.</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->     <br /><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><br />     Theo   nguồn "Việt Nam Gia phả"   <br />-----------------------------------<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#800080--><span style="color:#800080"><!--/coloro--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro-->Nhời bàn của Thiên Sứ:<!--colorc--></span><!--/colorc--><br />Tôi thường tự cho mình cô đơn trong học thuật khi minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến. Bởi vì, một trong những quan niệm của tôi là Lạc Việt là khái niệm chung chỉ dân tộc Việt, tức Bách Việt. Nhưng có thể nói. Nhiều học giả cho rằng: Lạc Việt chỉ một bộ phận trong Bách Việt. Tôi giới thiệu bài này vì nó nhắc đến cuốn sách mang tính tư liệu có giá trị, chứ không có ủng hộ quan niệm của bài viết nhận xét về cuốn này. Rất tiếc, tôi chưa thấy trang web ở Việt Nam nào giới thiệu cuốn sách này, nên phải sử dụng bài này. <!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br />      <br /><br />  	  		  		 <!--coloro:#483d8b--><span style="color:#483d8b"><!--/coloro--><b><i><br /></i></b><!--colorc--></span><!--/colorc-->]]></description>
		<pubDate>Tue, 17 Aug 2010 03:37:05 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15689</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Obama Bảo Vệ Quyền Xây Thánh đường Hồi Giáo Gần Wtc</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15656</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->Obama bảo vệ quyền xây thánh đường Hồi giáo gần WTC<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Cập nhật lúc 10:46, Thứ Bảy, 14/08/2010 (GMT+7)<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><br /><br /><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#696969--><span style="color:#696969"><!--/coloro--><i><b>Tổng thống Mỹ Barack Obama cương quyết bảo vệ kế hoạch gây tranh cãi xây dựng một thánh đường Hồi giáo gần nơi xảy ra thảm họa khủng bố 11/9 ở New York.</b></i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--coloro:#4b0082--><span style="color:#4b0082"><!--/coloro--><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Dự án khiến nhiều người tức giận.<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->K<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->hông ít người đã phản đối dự án xây dựng trung tâm văn hóa và thánh đường Hồi giáo chỉ cách Tòa tháp đôi có 2 khối nhà nói trên.<br />Để bảo vệ quan điểm của mình, ông Obama thừa nhận tính nhạy cảm xung quanh địa điểm xảy ra vụ khủng bố 11/9 nhưng khẳng định, người Hồi giáo có quyền hành đạo của mình giống như bất kỳ ai khác.<br />Obama tuyên bố: "Cam kết bảo vệ tự do tôn giáo của chúng ta không gì có thể lay chuyển”.<br />Kể từ khi công bố dự án xây dựng tòa nhà cộng đồng Hồi giáo cao 13 tầng và một thánh đường cách Trung Tâm Thương mại Thế giới vài trăm thước, nhiều chính sách nổi tiếng đảng Cộng hòa và không ít các nhân vật bảo thủ đã phản đối gay gắt.<br />Nhiều thân nhân những nạn nhân bị sát hại trong vụ khủng bố kinh hoàng ngày 11/9/2001 cũng lên án kế hoạch trên.<br /><br />    *<!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#483d8b--><span style="color:#483d8b"><!--/coloro--><b><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--> TK<!--sizec--></span><!--/sizec--></b> (Theo BBC)<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><!--coloro:#483d8b--><span style="color:#483d8b"><!--/coloro-->--------------------------------<!--colorc--></span><!--/colorc--><br /><br />    <!--coloro:#4b0082--><span style="color:#4b0082"><!--/coloro-->Vậy thì Obama sao không quyết định cho họ xây dựng trung tâm thánh đường Hồi giáo tại đúng nền móng của Trung Tâm Thương mại Thế Giới có phải là có nhiều ý nghĩa hơn không? <br /><br />   Phải chăng lời tiên tri sau sắp ứng nghiệm:<br /><br />   "Vào khoảng thế kỷ 15-16, nhà thiên văn nổi tiếng người Slave Vasili Nemchin từng tiên đoán rằng tại đất nước rộng lớn nằm trên bờ Tây Đại Tây Dương (nước Mỹ ngày nay), mỗi nhà cầm quyền sẽ trị vì 4 năm. Trong đó, người thứ 44 sẽ là người có số phận bất hạnh khi trị vì được ½ thời gian. Người cầm quyền thứ 44 sẽ là người da đen, ban đầu rất được yêu thích nhưng sau đó vô cùng bị căm ghét." <!--colorc--></span><!--/colorc-->]]></description>
		<pubDate>Sun, 15 Aug 2010 02:01:13 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15656</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Lá Số Tử Vi Của Hồ Quý Ly</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15635</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->TƯ LIỆU THAM KHẢO<br /><i>-------------------------------</i><br /><!--sizec--></span><!--/sizec--><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly  						<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--> 					 						 	 					<!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro--> 						<br />Lá số tử vi của Hồ Quý Ly  <!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->		 	 					 					 	  				 						 						  					 					<b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><br />12/08/2010 23:55 <br /><br /><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#696969--><span style="color:#696969"><!--/coloro--><i><b>Việc lên đường tìm kiếm mộ Hồ Quý  Ly (cùng những người trong gia tộc họ Hồ bị quân Minh bắt về Trung Quốc)  không chỉ là công việc của riêng các nhà hoạt động văn hóa, khảo cổ, mà  còn là ước nguyện của bà con các tông phái họ Hồ sinh sống khắp Việt  Nam...</b></i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /> 				  	 					 				 						 						 							 								<img src="http://www.thanhnien.com.vn/News/Picture201002/NgocThanh/147/p14-15a.jpg" border="0" class="linked-image" /> <br /> 							 						 						 							 								<!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><i>Một trong những ngôi chùa ở Trung Quốc có thờ các  thiền sư người Việt - Ảnh do đoàn tìm mộ Hồ Quý Ly chụp<br /><br /></i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--> 							 						 						<!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->C<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->ái chết của Hồ Quý Ly sau khi bị giam tại Nam Kinh ra sao đến  nay chưa ai dám khẳng định rõ ràng. Sử nhà Minh và một số tài liệu tìm  được tại các thư viện ở Bắc Kinh, Nam Kinh, Quảng Tây thì vẫn ghi chép  chung chung, chứ không thông tin minh bạch về ngày giờ, năm tháng cũng  như những chi tiết về phút lâm chung, nhất là mộ táng Hồ Quý Ly nằm ở  nơi nào. Chúng tôi đem điều đó ra hỏi một số nhà nghiên cứu chuyên ngành  sử học, văn học, và tình cờ trong một buổi chiều đầu thu năm nay - Canh  Dần 2010 - chúng tôi được tiếp chuyện với một nhà chiêm tinh học, đồng  thời là nhà nghiên cứu gia phả học (xin viết tắt tên vị ấy là H.T), để  nghe ông nói về lá số tử vi của Hồ Quý Ly với đôi điều là lạ ghi dưới  đây:                            <br />                               <!--quoteo--><div class='quotetop'>Nội dung trích dẫn</div><div class='quotemain'><!--quotec--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Sau khi lên ngôi năm 1400, Hồ Quý Ly đóng đô ở thành Tây  Đô: “Cũng từ đây, Hồ Quý Ly điều hành đất nước, đưa ra những chương  trình cải cách của mình. Khi cuộc kháng Minh của nhà Hồ thất bại, quân  Minh vào chiếm... đổi tên thành phủ Thanh Hóa. Đến sau khi Lê Lợi chiến  thắng quân Minh, lên ngôi vua, đóng đô tại Đông Kinh (Thăng Long), thành  Thanh Hóa được trở lại tên cũ là Tây Đô (...) Đến đời vua Minh Mạng,  thành được đổi tên là Tây Giai. Còn tên “thành nhà Hồ” mới xuất hiện sau  này, từ khi triều đại nhà Hồ được xem là triều đại chính thống trong  lịch sử nước ta”. <br />             (<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--> <!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#4b0082--><span style="color:#4b0082"><!--/coloro--><b>Hỏi đáp lịch sử Việt Nam - Nhóm Nhân Văn trẻ xuất  bản, tập 2, NXB Trẻ 2006; Trần Nam Tiến chủ biên</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc-->)<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><!--QuoteEnd--></div><!--QuoteEEnd-->                               <br /><br />                 - Này nhà báo, theo sử liệu để lại, thì Hồ Quý Ly sinh năm Bính Tý,  tức năm 1336. Có tài liệu chép sinh trước đó một năm, vào 1335. Ở đây  tôi chọn năm Bính Tý 1336 để đi ngược thời gian thử chấm lá số tử vi cho  vua Hồ Quý Ly xem sao. Làm việc này thoạt đầu xem ra có vẻ hơi kỳ, vì  mọi chuyện trong đời của ông vua đầu triều Hồ này ai cũng biết rồi, còn  “chấm” làm chi nữa. Song thật ra, đứng về mặt nghiên cứu chiêm tinh học  và trường sinh học - vốn đang được các nhà khoa học hiện đại quan tâm -  thì tất cả những người đã chết, đang sống, đều có thể tìm hiểu lá số của  họ để biết điều đúng, điều sai từ các kết luận so với thực tế xảy ra.  Vì thế, chúng tôi đã tìm hiểu Hồ Quý Ly ở khía cạnh văn hóa tâm linh để  “chấm” số và so sánh với những diễn biến trong đời ông. <br /> Chúng tôi xin phép được ghi lại đôi dòng “bên lề lịch sử” qua cuộc  tiếp xúc ấy. Bấy giờ nhà chiêm tinh vui vẻ đồng ý, song không giải thích  rõ, mà đọc mấy câu cho chúng tôi chép liên quan đến lá số của vua Hồ  Quý Ly: Sống nhung lụa, chết tha hương. Mộ phần hai đóa Âm - Dương hai  màu. Bên tả hình mèo tháng Mão. Bên hữu, hình ngựa chiêm bao Ngọ về...  Rồi không nói chi thêm, nhà chiêm tinh hớp cạn ly trà, đứng dậy cáo từ  đi mất. <br /> Về nhà, chúng tôi ngẫm nghĩ mấy chữ mở đầu của các câu trên là: “Sống  nhung lụa”, thì ai cũng biết Hồ Quý Ly xuất thân từ cửa quý tộc, ông có  hai người cô ruột được vua Trần Minh Tông tuyển vào cung, một người  sinh ra vua Trần Nghệ Tông, người kia sinh vua Trần Duệ Tông. Riêng Hồ  Quý Ly được vua Trần Nghệ Tông gả em gái là công chúa Huy Ninh cho. Với  những mối quan hệ đậm đà ấy, ông được vua Nghệ Tông tin dùng từ năm  1371, lúc 35 tuổi, phong cho làm Khu mật đại sứ, lại gia tước Trung  tuyên hầu. Đến năm 1372, khi Nghệ Tông truyền ngôi lại cho em là vua Duệ  Tông, Duệ Tông đã lập em họ của Hồ Quý Ly là Lê thị làm hoàng hậu. <br /> Theo đà ấy, Hồ Quý Ly bước vào chính trường với tư thế là một trong  những người có trọng trách của cơ quan tối cao nhà Trần, trở thành một  trong các quý tộc ngoại thích có ảnh hưởng mạnh nhất đối với vua Trần,  đã dần dần tập trung quyền hành để lên ngôi vào năm Canh Thìn 1400.  Trước đó, nhà Minh đã lộ rõ nhiều dấu hiệu muốn gấp gáp thôn tính nước  ta nên Hồ Quý Ly đã lệnh cho xây thành Tây Đô ở Thanh Hóa, mà sau này,  khi nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật đi tìm mộ Hồ Quý Ly và đặt chân đến  Lão Hổ Sơn đã sực nhớ đến thành Tây Đô ấy. Chúng tôi hỏi: “Vì sao trên  đường sang Trung Quốc tìm mộ Hồ Quý Ly ông lại nhớ đến thành nhà Hồ, tức  thành Tây Đô (còn gọi Tây Giai) ở Thanh Hóa, Việt Nam?”. <br /> Ông đáp: “Sao lại không nhớ được. Tôi đã liên tưởng ngay thành nhà Hồ  khi vừa đến các bãi tha ma đầy mộ vô chủ trên ngọn Lão Hổ Sơn. Là vì  cái chết tha phương trên đất Trung Quốc của Hồ Quý Ly có liên hệ nhân  quả rất chặt chẽ với những chuỗi hoạt động của đời ông, mà một trong  những việc làm quan trọng của ông là quyết định xây thành Tây Đô để ứng  phó kịp thời với việc nhà Minh xua quân xâm lăng. Hẳn nhiên nhà Minh  không thể để một bộ óc chiến lược như Hồ Quý Ly được sống sót dài ngày  để tiếp tục suy tính chống lại họ. Rõ ràng cái chết chưa biết rõ ngày  tháng lẫn nơi chôn của Hồ Quý Ly có duyên do rất sâu từ những hoạt động  quân sự như xây thành đắp lũy để chống giặc của ông. <br /> Nói tới đó, ông Đỗ Đình Truật giở bản thảo cuốn hồi ức về hành trình  tìm mộ Hồ Quý Ly để chỉ chúng tôi xem đoạn ông viết về việc thám sát  thành nhà Hồ do Hồ Quý Ly ra lệnh xây như sau: “Ngay trong những năm  kháng chiến chống Mỹ ác liệt vào giai đoạn 1965 - 1967, đoàn điều tra  khảo cổ học của chúng tôi vẫn đến Thanh Hóa, gần cầu Hàm Rồng, để bước  đầu nghiên cứu thành nhà Hồ, bởi lẽ theo nhận định của nhà nước lúc bấy  giờ, thành nhà Hồ là một di tích quân sự, di tích lịch sử, nói lên ý chí  bảo vệ đất nước và chống ngoại xâm. <br /> Đầu tiên khi đến đó, chúng tôi đặt vấn đề tại sao Hồ Quý Ly lại chọn  vùng núi non của động An Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa để xây căn  cứ chống quân Minh, và rồi chúng tôi có ngay câu trả lời khi tận mắt  nhìn thấy địa thế hiểm yếu của vùng này, với bốn bề núi non bao bọc, mở  ra mặt nam và đông nam rộng thoáng mà thôi, lại có dòng sông Mã, sông  Chu hợp lưu nữa, thuận cho việc hoạt động của thủy binh. <br /> Cung đất mà Hồ Quý Ly chọn xây thành Tây Giai là cung Chấn - nghĩa là  cung mạnh và phát địa nhất, cách thủ đô Thăng Long 150 km đường chim  bay, và cách quốc lộ xuyên Đông Dương ngày nay khoảng 30 km, cách biển  độ 40 km. Cuối đời, khi thế trận thất lợi, Hồ Quý Ly đã chạy về hướng  đó, lên núi Thiên Cầm thuộc Kỳ La ở Hà Tĩnh cách thành Tây Đô không xa,  rồi cũng tại đó, Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt, dẫn khỏi miền Trung để vĩnh  viễn đày xa đất Việt...”. (<i>Còn tiếp</i>) <br /><br /> <div align='right'><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><b>Giao Hưởng</b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></div>]]></description>
		<pubDate>Fri, 13 Aug 2010 09:45:03 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15635</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Từ Tượng Vua Lý ở Hà Nội đến Tượng Bồ Tát Quảng Đức ở Tp Hồ Chí Minh</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15634</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:4--><span style="font-size:14pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#8b0000--><span style="color:#8b0000"><!--/coloro-->Từ tượng vua Lý ở Hà Nội đến tượng Bồ tát Quảng Đức ở Tp Hồ Chí Minh.<br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br />Tượng cao trong một không gian thoáng rộng, dáng hùng vĩ và nét mặt quắc thước nhưng vẫn đậm nét đôn hậu vương giã. Tuy không có dữ kiện lịch sử để xác định khuôn mặt của nhà vua ra sao nhưng, theo tường tượng chủ quan của tôi, điêu khắc gia đã lột tả được hình ảnh hùng tráng mà nhân hậu của vị vua sáng lập ra triều Lý. Nhất là vị vua đó đã có viễn kiến nhân văn để thiên đô từ Hoa Lư về Thăng Long cách đây sắp được 1000 năm.<br /><br /><img src="http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2008/05/31/lythaito.gif" border="0" class="linked-image" /><br /><br /><b>Tượng LÝ THÁI TỔ-HÀ NỘI<br /></b><br /><div align='left'>Chỉ đáng tiếc, và buồn, một điều: Ngoài phần khắc tên “Lý Thái Tổ” và năm sanh và năm mất “974 – 1028” dưới chân tượng, trong toàn bộ quần thể kiến trúc to lớn và trang trọng đó của tượng đài, không có một bảng chỉ dẫn nào ghi chú xem “ông” Lý Thái Tổ nầy là ai ? Có công gì với tổ quốc mà được tạc tượng ghi ơn tại địa điểm thanh lịch nhất của thủ đô Hà Nội nầy. Lẽ dĩ nhiên ai cũng còn đọng lại trong trí nhớ của lớp Sử thời trung học vài nét chấm phá mơ hồ về vị vua xuất thân từ cửa nhà chùa nầy. Nhưng thi xong là … hết, trừ ra sau đó chọn ngành Sử làm niềm đam mê hay lẽ kiếm sống thì lại là chuyện khác. Đối với khách du lịch nước ngoài thì lại cả một vấn đề. Cuốn cẩm nang du lịch Lonely Planet nổi tiếng thì chỉ ghi vài dòng ngắn ngủi mà nội dung không biện giải được lý do tại sao một ông vua “cũng thường thôi” mà lại được dân ta ngưỡng mộ tôn thờ đến thế. </div><br /><div align='left'>Ở nước ngoài, thiên hạ cũng … lung tung ! Tại thủ đô Paris bên Pháp, trước cổng chính vào đại học Sorbonne, dưới chân tượng bán thân của nhà tư tưởng Auguste Comte, ta cũng chỉ thấy khắc tên ông rất đơn giản mà thôi, thậm chí không có cả hai mốc thời gian “1798 – 1857” thường phải có nữa. Ngồi trong quán cà phê La Sorbone đối diện, nhấm nháp ly expresso, nhìn khuôn mặt trầm tư của ông, tôi không ngờ ông là một trong những cha đẻ của một bộ môn mà ngày nay có hàng triệu người theo đuổi: Khoa xã hội học.</div><br /><div align='left'>Trong khi đó thì tại thủ đô Washington DC bên Mỹ, trong quần thể đài tưởng niệm Lincoln Memorial, điêu khắc gia Daniel Chester French đã tạc một bức tượng của vị tổng thống giải phóng dân nô lệ Abraham Lincoln bằng cẩm thạch trắng cao hơn 6 mét, và trên mặt tường làm phông cho bức tượng có khắc một câu ghi nhớ ơn ông: “Trong ngôi đền nầy cũng như trong tâm tưởng của nhân dân mà vì họ ông đã cứu lấy tổ quốc, niềm tưởng nhớ đến Abraham Lincoln thì được tôn thờ muôn đời” (In this temple as in the heart of people for whom he saved the Union, the memory of Abraham Lincoln is enshrined forever). Ngoài ra, chính phủ còn cho khắc trên tường bài diễn văn Gettysburg ngắn và bài diễn văn nhậm chức nổi tiếng của ông (vốn là hai áng văn chính luận rất nhân bản và cao cả nói lên lý tưởng nhân đạo và triết lý trị nước của ông). </div><br /><div align='left'>Ta không theo Tây mà cũng không theo Mỹ, cứ thấy đúng thì ta làm. Cho nên “hà tiện” chi mà không làm một văn bia (với thiết kế truyền thống hay hiện đại gì cũng được) với nội dung cô đọng nhưng đầy đủ, ghi lại những thông tin cốt lõi và đặc sắc nhất của cuộc đời vua Lý, vừa để giúp đồng bào ôn lại Sử nước nhà vừa để khơi dậy niềm tự hào dân tộc. <br />* *<br />*<br />Cách đây đúng 45 năm, vào ngày 11/6/1963 (tức ngày 20/4 nhuận năm Quý Mão), Bồ Tát Quảng Đức đã tự thiêu trong tư thế kiết già ở giữa ngã tư hai đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là ngã tư hai đường Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng Tám thuộc Quận 3, Thành phố HCM), trước hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử, đồng bào Sài Gòn và các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước. <br />Bồ Tát Quảng Đức đã an nhiên tự tại nằm xuống để Ngài trở nên đại hùng đại bi đứng dậy. Nhân dân yêu chuộng công lý và tự do khắp nơi trên thế giới rúng động. Sáu tháng sau, một chế độ độc tài giáo trị đã bị nhân dân miền Nam đứng lên dõng dạc khước từ bằng một tiếng “Không” âm vang bát nhã. </div><br /><div align='left'><img src="http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2008/05/31/botatquangduc.gif" border="0" class="linked-image" /></div><br /><div align='left'><i><b>Mẫu tượng Bồ tát Quảng Đức được chọn</b> </i></div><br /><div align='left'>Trước sự hy sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức cảm động và đã có câu đối kính viếng Hòa thượng như sau:<br />Vị pháp thiêu thân vạn cổ hùng huy thiên nhật nguyệt.<br />Lưu danh bất tử bách niên chính khí địa sơn hà.<br /><i>(Theo Phạm Hoài Nam. Bồ tát Thích Quảng Đức, ngọn đuốc xả thân vì Đạo pháp và Tổ quốc. Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 30-5-2005</i>).</div><br /><div align='left'>Trong khi đó thì tại Sài Gòn, giữa vòng vây dày đặc của các cơ quan mật vụ của chế độ Diệm, một nhà thơ hiền lành nhưng “uy vũ bất năng khuất”, vốn được xưng tụng là thi bá của nền văn học miền Nam thời bấy giờ là thi sĩ Vũ Hoàng Chương, đã xúc động đến tận tâm can mà xuất thần sáng tác ra bài thơ còn lưu truyền muôn thuở: </div><br /><div align='left'><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Lửa từ bi<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></div><br /><div align='left'><i>Lửa! Lửa cháy ngất tòa sen! <br />Tám chín phương nhục thể trần tâm hiện thành thơ, quỳ cả xuống.<br />Hai vầng sáng rưng rưng,<br />Đông Tây nhòa lệ ngọc,<br />Chắp tay đón một mặt trời mới mọc.<br />Ánh Đạo Vàng phơi phới đang bừng lên, dâng lên ...</i></div><br /><div align='left'><i>Ôi đích thực hôm nay trời có mặt,<br />Giờ là giờ hoàng đạo nguy nga,<br />Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt,<br />Nhìn nhau: tình huynh đệ bao la l<br />Nam mô Đức Phật Di Đà,<br />Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay?</i></div><br /><div align='left'><i>Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,<br />Người rẽ phăng đêm tối đất dầy,<br />Bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây,<br />Gọi hết Lửa vào xương da bỏ ngỏ <br />Phật pháp chẳng rời tay.<br />Sáu ngả luân hồi đâu đó,<br />Mang mang cùng nín thở,<br />Tiếng nấc lên từng nhịp bánh xe quay,<br />Không khí vặn mình theo, khóc oà lên nổi gió,<br />Người siêu thăng ... giông bão lắng từ đây ...</i></div><br /><div align='left'><i>Bóng Người vượt chín tầng mây,<br />Nhân gian mát rợi bóng cây bồ đề.<br />Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc,<br />Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi.<br />Chỗ Người ngồi, một thiên thu tuyệt tác,<br />Trong vô hình sáng chói nét từ bi.</i></div><br /><div align='left'><i>Rồi đây.. Rồi mai sau... Còn chi?<br />Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dần mục nát,<br />Với thời gian, lê vết máu qua đi ...<br />Còn mãi chứ, còn Trái Tim Bồ Tát,<br />Gội hào quang xuống tận chốn A Tỳ.<br />Ôi ! Ngọn lửa huyền vi ...<br />Thế giới ba nghìn, phút giây ngơ ngác,<br />Từ cõi vô minh Hướng về cực lạc,<br />Vần điệu thi nhân chỉ còn là rơm rác,<br />Và cũng chỉ nguyện được là rơm rác.<br />Thơ cháy lên theo với lời kinh,<br />Tụng cho nhân loại hòa bình,<br />Trước sau bền vững Tình Huynh Đệ này.<br />Thổn thức nghe lòng trái đất,<br />Mong thành quả phúc về cây.<br />Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật!<br />Đồng loại chúng con nắm tay nhau tràn nước mắt,<br />Tình thương hiện tháp chín tầng xây.</i></div><br /><div align='left'>Vũ Hoàng Chương<br />(<i>Sài Gòn, 15-7-1963)</i></div><br /><div align='left'>Từ hai đầu đất nước xa xôi, cách nhau gần 10 thế kỷ lồng lộng, hai Phật tử Việt Nam là Lý Công Uẫn và Bồ Tát Quảng Đức, một tăng một tục, đã nắm chặt tay nhau để nói chỉ một lời, làm chỉ một chuyện: Xả thân cho chúng sinh, hy sinh vì dân tộc.</div><br /><div align='left'>Được biết Sở Thông tin Văn hoá Tp HCM và GH PGVN đang trong tiến trình hoàn tất khu tượng đài kỹ niệm Bồ Tát Quảng Đức, tôi mạo muội đề nghị thêm vào quần thể kiến trúc nầy hai “văn bia”: Một là hai câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và một là bài thơ Lữa Từ bi của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Có lẽ chử đen khắc trên hai tảng cẩm thạch trắng, nằm riêng rẽ tự nhiên nhưng hòa điệu với thiết kế chung là đẹp và ý nghĩa nhất.</div><br /><div align='left'>Việc làm nầy có nhiều ý nghĩa, mà có lẽ ý nghĩa rõ nét nhất là dân ta có nét văn hóa riêng: Uống nước nhớ nguồn.</div><br /><div align='right'><i>Tháng 6/2008</i><br />Nguyễn Kha </div><br /><div align='right'>nguồn giacngo.vn</div>]]></description>
		<pubDate>Thu, 12 Aug 2010 22:25:42 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15634</guid>
	</item>
	<item>
		<title>NgÔi NhÀ 11.500 NĂm TuỔi.</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15632</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro-->NGÔI NHÀ 11.500 NĂM TUỔI.<br /><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro--><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Dân tri.com.vn<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><div align='center'><img src="http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/08/12/tinvan42.jpg" border="0" class="linked-image" /></div>  <div align='center'><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><i>Các   nhà khảo cổ Anh cho biết họ đã phát hiện ngôi nhà 11.500 năm tuổi và   đây được cho là cổ nước tại Anh. Dấu vết của ngôi nhà hình tròn bằng gỗ   được tìm thấy tại một địa điểm gần Scarborough, Bắc Yorkshire và có niên   đại từ năm 8.500 trước Công nguyên. Các nhà khảo cổ tin rằng ngôi nhà   này được xây dựng sớm hơn 500 năm so với ngôi nhà từng được tin là cổ   nhất tại Anh trước đó.</i><!--colorc--></span><!--/colorc--></div>  <div align='center'> </div>  <div align='right'><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#4b0082--><span style="color:#4b0082"><!--/coloro--><b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto-->An Bình<!--fontc--></span><!--/fontc--></b><br /><!--sizeo:2--><span style="font-size:10pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Tổng hợp<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--></div>]]></description>
		<pubDate>Thu, 12 Aug 2010 20:37:46 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15632</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Hùng Vương Thứ 12-hùng Chiêu</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15629</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro-->Hùng Vương thứ 12- Hùng Chiêu Vương<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->C<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->ác nhà khoa học nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa nhận định rằng nền văn minh Lạc Việt của dân tộc Bách Việt cổ đại mà đặc trưng là văn hóa lúa nước,văn hóa trống đồng,văn hóa hình kẻ vạch,văn hóa mẹ rồng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn minh Trung Hoa và văn minh thế giới. Biểu trưng của Lạc Việt quốc cổ đại là trống đồng. Người Lạc Việt cổ đại thờ mặt trời, rồng, chim lạc; sống gần nước, thích bơi chải và có mộ hình thuyền. Lạc Việt cổ quốc thần bí lưu lại vô số vấn đề hóc búa mà đến nay vẫn chưa lý giải được, trong đó có vấn đề đất tổ của người Lạc Việt và kinh đô sớm nhất của Lạc Việt quốc là ở đâu?Những trang sáng lạn của nền văn minh ấy do mưa gió lịch sử và những nguyên nhân con người đã làm cho bị phá vụn,trở nên khó tìm kiếm ký ức xa xưa.Đó là một điều đáng tiếc lớn. Nhưng một dân tộc mất đi ký ức lịch sử thì khó mà cấu thành hiện tại và càng khó nắm định được tương lai. Bởi vậy mà việc tìm hiểu những ký ức lịch sử đã bị mất đi là một tình tiết văn hóa mà một dân tộc không bao giờ tránh né. Do vậy mà từ năm 1974 đến 2007 các nhà khoa học Trung Quốc đã chú trọng khảo sát nghiên cứu lịch sử dân tộc Bách Việt. Ở <br />Quảng Tây đặc biệt chú trọng vùng dân tộc Choang (dân số 17 triệu người,<br />nhóm ngữ  Choang-Đồng, tộc ngữ Tày-Thái ) là hậu duệ của người Lạc Việt mà tiền dân của họ đã khai sáng văn minh vùng lưu vực sông Chu Giang (thời nhà Thanh đổi là sông Tây Giang).Trong những vùng có phát hiện trống đồng và khí cụ đồng thau ở Đông Nam Á thì Quảng Tây và Việt Nam là có nhiều nhất, là những nơi có khả năng có kinh đô sớm nhất của Lạc Việt quốc. Nhưng cũng có sách như “Dật Chu thư. Vương Hội giải” phân tích: Lạc Việt thời Thương Chu là một quốc gia nên đất tổ cư của họ phải là nơi có nhiều đồ đồng thau niên đại Thương Chu. Qúi Huyện ở Quảng Tây và Hà Nội ở Việt Nam chỉ khai quật được đồ đồng thau niên đại từ Tam Quốc đến Hán,ít có đồ niên đại Thương Chu do vậy hai nơi này không thể là kinh đô sớm nhất của Lạc Việt quốc.<br />Ngày 11 tháng 3 năm 2007 các nhà khoa học Trung Quốc phát hiện được lượng lớn cổ vật văn hóa Lạc Việt ở sườn tây nam núi Đại Minh Sơn大鳴山 huyện Vũ Minh武鳴縣 tỉnh Quảng Tây (đây là vùng tây nam Quảng Tây là vùng gọi là đất Bá 岜trong “Sử thuyết họ Hùng” của Nhật Nguyên ,là quốc gia Lạc Việt 駱越thời Hùng Vương 雄王thứ 12, gọi là Hùng Chiêu 雄召. Chữ Ba岜 nguyên nghĩa tiếng Choang là núi đá. Đất Ba là đất xưa vua Trụ nhà Ân Thương ban cho ông Tây Bá-Cơ Xương tổ nhà Chu bao gồm Qúy Châu và bắc Quảng Tây).<br />Về địa hình,huyện Vũ Minh là một thung lũng bắc giáp núi Đại Minh Sơn,nơi đó có mỏ đồng trữ lượng lớn bằng 1/3 tổng trữ lượng các mỏ đồng ở Quảng Tây.Nơi đây còn phát hiện được những tảng đá có khắc chữ hình rắn. Dân cư có tập tục thờ mẹ rồng từ thời Thương Chu. Văn hóa thờ Long Mẫu là văn hóa tông giáo của Lạc Việt quốc cổ đại. Những di tích đền thờ Long Mẫu ở Đại Minh Sơn có rất nhiều. Để xác định nơi đây có từng là kinh đô Lạc Việt quốc cổ đại hay không, các nhà khoa học đã khảo sát các mặt như sau:<br />Tìm trong chuyện truyền thuyết và ký ức ngôn từ để xác định các địa danh Lạc Việt. Vùng này có thôn Bản Lục, tiếng Choang là Bản Ô nghĩa là xóm đen ( “Ô” 烏Việt sử đọc biến âm là “ Âu” 鷗). Ở đây có miếu thờ Long Mẫu龍母 cúng ngày 1đến 13 tháng 3 âm lịch, xưa kia miếu có 200 mẫu ruộng hương hỏa ,cho thanh niên trong bản 4 năm một lần rút thăm để giành được vinh dự cày cấy.Thôn Lục Tà, tiếng Choang đọc là luegver nghĩa là Lạc Việt. Thôn Mã Đầu,không có nghĩa là đầu núi Mã Sơn như chữ Hán viết馬頭mà là mã đầu (bến cảng)碼頭 ,người Choang vẫn gọi nó là thôn Cổ Lỗ 古魯theo tiếng Choang nghĩa là nơi thuyền đậu ( “Cổ Lỗ” âm Việt là “Cọc Neo”)，thôn này cũng có miếu thờ Long Mẫu.Thôn La Bà 罗婆,theo âm nghĩa là “bà lớn” cũng có miếu thờ Long Mẫu. Trên núi Đại Minh Sơn có miếu Đại Minh Sơn thờ Long Mẫu. Tên các con sông vùng này đều gắn ký ức với Lạc, mà các văn nhân xưa ở huyện Vũ Minh đều giải thích rằng “ Lạc” nghĩa là “nước” (Lạc Việt tức là Nác Việt, Nước Việt, mà quan thoại gọi là Lạc Việt quốc). Đời Thanh có văn nhân Hoàng Quân Cụ viết “Vũ Duyên huyện đồ kinh” có nói: “Nước ở huyện Vũ Duyên có ba dòng lớn là Nam Lưu,Đạt Mông,Đại Lãm”. Nam Lưu còn gọi là Hà Lự,viết là Khả Lự,Vị Long,Vũ Ly đều là do âm “Việt Lạc” mà ra (có nghĩa là dòng nác của người Việt). Sông Đông Giang ở Vũ Minh do ba sông Đạt  Á Hà, Cổ Lỗ Hà, Ân Long Hà hợp thành.Bên sông Đông Giang có thôn Lục Lâm陸林 mà người Choang giải thích nghĩa theo âm tiếng Choang là khởi nguồn của nước (vậy thì “Lục Lâm” chính là phiên âm của “nóc nặm” nghĩa là đầu nguồn nước). Người Lạc Việt thân thiết với nước. Thời Hán văn nhân Lưu An viết: “Người dân làm việc dưới nước nên họ xăm mình cho giống như thuồng luồng để tiện đi thuyền hay bơi lội khỏi bị hại”.Người Lạc Việt ở lưu vực Vũ Minh cũng vậy. Thời Thương Chu họ chôn người chết trong mộ hình thuyền,còn tìm thấy ở dốc Ngọc Long nơi có bến Cổ Lỗ.Ở đây còn có đền thờ Long Mẫu mà tiếng Choang gọi là miếu Hắc Đạt ( “Hắc Đạt” chính là âm “nác cập” của tiếng Việt ). Như vậy vùng này xưa kia phải là vùng sông nước mênh mang, thuyền bè tấp nập. Nhưng nay thì nó là vùng bình địa,<br />chỉ  có từ lâu rồi người dân vẫn đào cát để bán cho các chủ vựa,đào mãi liên miên lộ ra một dòng sông cát dài từ huyện lỵ Vũ Minh đến tận thị trấn La Bà, lòng sông cát rộng đến gấp 4 lần chiều rộng con sông đã đổi dòng đang còn chảy bây giờ, như là một đại công trường khai thác vật liệu xây dựng vậy. Núi Đại Minh Sơn là tên đặt ra về sau, còn người Choang vẫn nhớ và gọi tên cũ là Ba Thị岜是, nghĩa tiếng Choang là núi gốc (cú pháp Nam Á như tiếng Việt,Thái,Khơ Me). Chữ Ba tiếng Choang nghĩa là núi đá (như Pha, Phia, Pra của tiếng Tày-Thái. Ba 岜này chính là đất Bá 岜trong “Sử thuyết họ Hùng” nói tới). Chữ Thị nghĩa tiếng Choang là gốc (âm tiết “thị” trong tiếng Việt là “phải” là “chợ”, lại có quả “thị” trong chuyện Tấm Cám, không biết có phải do nhớ gốc không mà người Việt mở mang đồng bằng sông Mê Kông đặt tên rất nhiều chợ gọi là “chợ cây thị” mặc dù ở đó chẳng trồng được cây thị có quả.Còn chữ “ thị” thì trong tiếng Việt nó cũng nghĩa là gốc nhưng là gốc đằng mẹ, còn từ “ gốc” nghĩa là gốc đằng cha, “gốc”  dẫn đến “trốc” là cái đầu bên trong có “óc” vì nó đã bóc rụng hết các râu ria bên ngoài, từ “trốc” ấy người Thăng Long gọi là “chốc” nghĩa là trên hết - “tôi đặt bát nhang lên chốc bàn thờ” -“chốc” ấy là gốc các từ chủ,chu,chúa ,châu, chiêu, tạo,triệu,triều đều mang nghĩa thủ lĩnh cả .Từ “thị gốc” đã biến thành chữ “thị tộc” 氏族là gốc cả hai đằng mẹ và cha. Người Việt nói “vợ chồng nhà ấy thì ông ta là người đằng Dương tộc-họ Dương,bà ấy người bên Âu thị-họ Âu ”,chẳng ai nói bà ấy người đằng Âu tộc cả, bởi vậy đàn bà Việt có tên lót là chữ “thị”氏, còn nhà thờ họ thì người ta viết là nhà thờ Nguyễn tộc,nhà thờ Lê tộc… chứ không dùng chữ thị vì đã là phụ hệ).Trên núi Ba Thị ở đỉnh Long Đầu có thôn Lộc Khẩu có đền thờ Lạc Việt Vương gọi là Đại Minh Sơn miếu, cũng gọi là Chiêu Vương miếu召王庙 ( Hùng Chiêu trong “Sử thuyết họ Hùng”). Tương truyền trong khu miếu có giếng trời mọc một cây khoai sọ (sọ nghĩa là thủ là cái đầu tiên),đẻ ra 99 cây con.Người Lạc VIệt từ đây tỏa đi bốn phương đều mang theo một cây khoai sọ trồng và ở đó lại dựng một miếu thờ Long Mẫu,ở Quảng Tây (đất Bá) có 99 miếu tất cả (khoai sọ còn gọi là khoai môn, có phải là thành ra 99 tông môn?).Miếu này cúng ngày 3 tháng 3 âm lịch. Miếu đã bị phá từ xưa, lụi tàn dưới cỏ dại, chỉ cong vương vất vài cái cối đá niên đại nhà Đường. Cổ thư chữ Hán có nói Ô điền còn gọi là Lạc điền, có thuyết nói đó là ruộng gần hang núi, có thuyết nói đó là ruộng canh tác theo thủy triều lên xuống. Ở đây người Choang giải thích khác: Ngày xưa gặp lũ lụt lớn, đồng ruộng ở đồng bằng sông Uất Giang của người Choang bị nhấn chìm hết, tổ tiên họ phải chạy lên núi Đại Minh Sơn lúc đó còn đầy rừng rậm âm u, không có ruộng mà làm.Tiếng chim Lộ Ô鹭烏 (một giống chim nước lông đen dẫn họ tìm ra được ven suối nên lại có thể làm ruộng nước, vì vậy người Choang sùng bái loài chim nước (chim nác-chim Lạc) nên khắc chim Lạc lên trống đồng, còn ruộng nước của họ gọi là Ô điền烏田. Ở đây từ thôn Tứ Minh thị trấn Mã Đầu huyện Vũ Minh đi thôn Minh Lượng huyện Thượng Lâm có một con đường cổ xếp bằng bậc đá, còn 400 bậc rộng 4 mét,phía đông con đương có một ngọn núi cao 949 mét, tiếng Choang gọi là Ba Bồ nghĩa là núi tổ mẫu. Đường này bắc thẳng đến Liễu Châu, Quế Lâm, nam thông đến Vũ Minh, Nam Ninh, trước thời Minh Thanh là con đường giao thông huyết mạch. Gần thị trấn Lưỡng Giang huyện Vũ Minh có một hang đá vôi gọi là Tổ Công Động, tiếng Choang là Cảm Đạt Công, hang này cũng gọi là miếu Tổ Công, thực ra là thờ Quyết Vĩ Long掘尾龍, mẹ nuôi của Quyết Vĩ Long là Tổ Mẫu, tiếng Choang gọi là Á Bồ婭浦 ( tức “u phò” là mẹ của bố ). Ở thôn Lý Dân thị trấn Cổ Linh huyện Mã Sơn cũng có miếu thờ Long Mẫu có bia gọi là thần Long Mẫu hay Cao Tổ. Những địa danh khác có miếu thờ Long Mẫu đều có tên gốc gác Lạc Việt như Lâm Bồ tiếng Choang nghĩa là sông mẹ (cũng nghe được ra đó là “nặm Phò”, A Động nghĩa là Tổ Mẫu động ( “động A” là âm “hang U”), nay là huyện lỵ Vũ Minh. La Bà Đàm là đầm Đại Tổ Mẫu (“La Bà” nghĩa là “bà lớn”,”bà lên” tức “bà trên” là mẹ của bà nên gọi là Đại Tổ Mẫu),đầm sâu 46 mét ,bên đầm là thị trấn La Bà.Dòng Lâm Bồ chảy từ bắc núi Ba Thị nhập vào Thanh Thủy Hà ở huyện Tân Dương ,thời Tam Quốc nước Ngô đổi tên là huyện Lĩnh Phương,thời Hán thành huyện Lâm Bồ. Lâm Bồ giang thời cổ là thủy đạo quan trọng nối huyện Tân Dương và Thượng Lâm,sông này nay có hồ chứa nước gọi là hồ Long Mẫu.Trong thôn Lâm Bồ còn giếng núi và miếu Sơn Tỉnh (tức giếng núi) thờ Đế Mẫu帝母 mà người Choang hiểu là thờ “mẹ bản địa” (chữ Đế Mẫu là phiên âm,đúng cú pháp phải là Mẫu Đế là âm của từ “mẹ đẻ”,người Choang giải thích là mẹ bản địa chứ không phải giải thích theo chữ Đế Mẫu là mẹ của vua, “mẹ đẻ” thì chắc là thờ bà Âu Cơ). <br />Trống đồng là biểu trưng văn vật của Lạc Việt quốc. “Hậu Hán thư-.Mã Viện truyện”viết: “Viện hiếu kỵ,thiện biệt danh mã,ư Giao Chỉ đắc Lạc Việt đồng cổ,nãi thọ vi mà thức,hoàn ,thượng chi”.Nhưng trống đồng Lạc Việt mà Mã Viện tịch thu đem đúc ngựa cưỡi chơi lúc ấy là trống đồng Lạc Việt thời nào thì không nói,ta chỉ có thể phán đoán đó không phải là những trống đồng niên đại sớm nhất của Lạc Việt.Những trống đồng khai quật được ở Quảng Tây đều là những trống đồng niên đại Tùy hoặc Nam Triều.Lạc Việt quốc diệt vong vào thời thịnh của Hấn Vũ Đế,theo niên đại đó mà đoán thì trống đồng ở Quảng Tây (tìm được tất cả là 600 cái) chỉ là đúc vào thời kỳ muộn của Lạc Việt quốc (đúng thế, bởi vì thời đất Bá là thời Hùng Vương thứ 12 theo “Sử thuyết họ Hùng”).Vậy Lạc Việt quốc thời sớm nhất là ở đâu?Ba cái đặc trưng nhất để nhận biết là trống đồng Lạc Việt là mặt trời ở tâm,vòng chim Lạc đang bay,vòng người hoạt động và thuyền,ba cái đó là quốc trưng của Lạc Việt quốc cổ đại .Ba đặc trưng này trên trống đồng Quảng Tây đều có.Vùng núi Ba Thị còn có truyền thuyết “Ma Lặc du thiên biên” kể rằng năm đó mặt trời chìm mất, toàn cõi tối tăm không cấy trồng gì được,một mẹ chửa quyết đi về phương đông tìm mặt trời.Đi đường đẻ con ra lại bồng con đi tiếp.Hai mẹ con đem trống đồng gõ gọi trời mọc trở lại…Năm 1974 ở thị trấn Lưỡng Giang dưới chân núi Đại Minh Sơn đào được trống đồng kèm 2 thanh kiếm đồng thau dài 50 cm giống kiếm thời Chiến Quốc.Tháng 3-2004 ở dốc đứng sau xóm Bản Bồ thôn Tam Liên thị trấn Lưỡng Giang khi làm đường lâm nghiệp lại xúc được một trống đồng lớn,không may bị vỡ làm đôi,và một trống đồng nhỏ kèm mootk kiếm đồng thau và một chuông đồng nhỏ chôn trong mộ nằm giữa sông Kiếm và sông Triệu.Vùng này tất cả tìm được 5 trống,cái lớn rộng 80 cm, cao 60 cm, có chim Lạc bay, có 4 tượng cóc quanh mặt trống.<br />Đại Minh Sơn trong cổ thư gọi là Mô Nha Sơn,tương truyền là nơi xưa đúc kiềm hóa rồng nên vùng này còn có nhiều địa danh mang tên kiếm.Ở đây có thôn Mô Nha, thôn Mô Dương (tiếng Choang  “dương” nghĩa là kiếm, thì cũng như là “gươm” trong tiếng Việt, “Mô Dương” là âm của“mài gươm”) . Di chỉ An Đẳng Ưowng năm 1985 đào được 85 ngôi mộ cổ, có 15 kiếm đồng thau. Di chỉ Tam Liên Viên Nghệ Trường năm 1974 tìm được một trống đồng và 2 kiếm.<br />Giải mã chữ “Chiêu” chính là “Lạc Việt Vương”<br />Vùng Đại Minh Sơn có thể là một cố đô của Lạc Việt quốc.Nếu là cố đô tất nhiên nó phải có di chỉ của Lạc Việt Vương.Nhưng hậu duệ của người Lạc Việt ở đây hầu như đã mất hết ký ức về Lạc Việt Vương.Khảo cổ các di chỉ ở vùng này không còn phán đoán được đâu là di tích của Lạc Việt Vương.Ngẫu nhiên được thông tin từ bài viết của học giả Hà Chính Bình khi nghiên cứu gia phả của hậu duệ quân đội của Nùng trí Cao ở Vân Nam,phát hiện ra hậu duệ bộ đội của Nùng Trí Cao có cách xưng hô độc đáo với Nùng Trí Cao,đó là họ gọi Nùng Trí Cao là “Nùng Nam Chiêu”.Đời sau của Nùng Trí Cao có các họ Nông,Việt, Đao.Mà Chiêu, Việt, Đao trong tiếng Choang cổ đều có nghĩa là đầu lĩnh.Điều này gợi ý tìm ra di tích của Lạc Việt Vương ở Đại Minh Sơn.Chuyên gia nổi tiếng về lịch sử dân tộc Bách Việt  là ông Vi Khánh Ổn韋慶穩 trong bài “Thí luận ngữ ngôn của dân tộc Bách Việt” đã khảo chứng bài “Việt nhân ca” chỉ ra rằng các từ Việt ngữ ghi bằng chữ Hán như Châu州, Chiếu昭, Triều朝, đều có ý nghĩa trong Việt ngữ thượng cổ là Vương Tử王子 hoặc Vương Phủ 王府.Từ Vương thì đã mất trong tiếng Choang ngày nay.Còn lại ở vùng Đại Minh Sơn có rất nhiều địa danh “Chiêu”, “Triệu” “Triều”, “Sào”.Vậy thì các di tích ở vùng này như miếu “Chiêu Vương” chính là miếu Lạc Việt Vương, sông “Triệu” chính là sông của Lạc Việt Vương, miếu “Nam Triều” chính là miếu Lạc Việt Vương, suối “Nam Sào” ở thôn Phụng Lâm chính là suối của Lạc Việt Vương.Đại Minh Sơn miếu có người còn viết là Thương Thốn miếu, điều này là không thể,vì cái tên Đại Minh Sơn miếu là cái tên mới đổi thời nhà Thanh do ông tri phủ Lỳ Ngạn Chương đặt,nếu lúc đó là đang thờ Thương Thốn Vương là một hôn quân bạo ngược tàn dân thì ông quan đó không thể đặt tên cho miếu được,tên bị đổi của miếu phải là Chiêu Vương Miếu hoặc là Thủy Tiên Vương Miếu đều nghĩa là Lạc Việt Vương Miếu  uy nghi trên đỉnh Long Đầu của Ba Thị là núi gốc của người Choang.Triệu giang có dòng hợp lưu là Kiếm giang, tiếng Choang là Đạt Ương, “đạt” tiếng Choang nghĩa là nước (cũng như “đắc” của tiếng Ba Na, Mơ Nông hay “nác”của tiếng Việt), “ương” tiếng Choang là Kiếm (cũng như “gươm” của tiếng Việt), vùng này tìm được rất nhiều đồ đồng niên đại Chiến Quốc, ở thượng lưu dòng Kiếm Giang là một mỏ đồng nổi tiếng của Quảng Tây.Dân vùng này vẫn nhặt đá quanawngj đồng dưới lòng sông bán cho các chử vựa quặng.Có thể phán đoán vùng này là nơi xưa Lạc Việt Vương luyện đồng đúc kiếm.Thú vị là ở venTriệu giang và chi lưu của nó là Hán Khê có nhiều hang đá có đá mài, dân đều nói là đó là nơi lính của Lạc Việt Vương mài kiếm.Tất nhiên điều này còn thiếu điển tịch, nhưng nhìn những đá mài ngồn ngang rất giống công cụ thời đồ đá mới cho ta liên tưởng đến hàng vạn quân của Lạc Việt Vương mài kiềm chống trả quân Tần Thủy Hoàng một thời bi tráng.Trong các thôn xóm vùng Triệu giang lưu truyền nhiều chuyện cổ về Lạc Việt Vương.Người ta nói Độc Sơn là do con ngựa của Lạc Việt Vương biến thành.Núi Mã Vĩ ở thôn Tụ Quần là do đuôi ngựa của Lạc Việt Vương biến thành.Năm đó đại quân của Tần Thủy Hoàng truy thì thần Long Mẫu từ trên đỉnh núi quăng xuống hai giải vải đỏ,biến thành hai con đường rộng đón quân của Lạc Việt Vương vào núi .Khi quân Tần đuổi đến nơi thi hai giải vải đỏ đó biến thành hai đỉnh Long Đầu Sơn chặn lại,quân Tần hết đường chỉ còn cách đứng đó mà than.Truyện dân gian lưu truyền chỉ là cái bóng của lịch sử.Nhưng nhiều chuyện lưu truyền chứng tỏ Lạc Việt Vương đã từng sống và chiến đấu ở vùng này và được dân Lạc Việt ở đây che chở.Còn một tình tiết nữa là ở vùng này có Tết “Đạt Vương” tức tết Vua Nước, cũng còn gọi là “Đại Vương Tiết” tổ chức vào ngày 20 tháng 7 âm lịch gọi là ngày giỗ Vua Nước tạ thế.Về cái chết của Đạt Vương tức Vua Nước ,ở vùng Ba Thị có câu ngan ngữ: “17 Đạt Vương bị thương, 18 Đạt Vương chết, 19 làm quan tài, 20 chôn Đạt Vương”,chứng tỏ người Choang nhớ thương Đạt Vương đến mức nào.Đạt Uông tức vua nước còn phải khảo sát xem có phải là Lạc Việt Vương hay không, nhưng mỗi năm ngày13 đến 20 tháng 7 âm lịch người Choang ở Đại Minh Sơn đều làm giỗ vong hồn gọi là “Qủi Tiết” kéo dài đến ngày “Đạt Uông Tiết” là cao trào,lúc đó như là tiết quốc tang cùa người Choang.Các địa danh miếu Đại Vương,bến Đại Vương, núi Đại Vương.có nhiều ở Quang Tây cho thấy Đại Vương tức Đạt Uông tức vua Nước có ảnh hưởng hết sức sâu sắc trong người Choang.<br />Văn vật và cổ kinh thư tiết lộ diện mạo của Lạc Tướng và Lang Binh.<br />Lạc Việt là một nước xưng hùng ở Lĩnh Nam.Trong “Sử ký.Nam Việt úy đà liệt tuyện” Tư Mã Trinh đã viết: “Giao Chỉ có lạc điền theo thủy triều mà làm,người ăn ruộng ấy gọi là lạc nhân,có Lạc Vương, Lạc Hầu, Chư huyện xưng là Lạc Tướng có triện đồng”. Người Lạc Việt có Vương, Hầu, Tướng.Sự thực này sử bất tuyệt thư.Những danh xưng cụ thể này không giống Trung Nguyên.Từ “Vương” người Choang gọi là “Chiêu”, cũng viết thành “Triệu”, “Triều”, “Chu”, “Sào”, “Tạo”, “Đao” nghĩa là “Đầu”.Lạc Việt Vương xưng là Chiêu Hùng,Chiêu Lào ( “hùng” tiếng Choang nghĩa là lớn,  đó là âm “hồng” hay “rộng” của tiếng Việt, tiếng Việt còn có từ “rộng lớn”; “lào” tiếng Choang nghĩa là lớn, nó là từ còn trong nôi của Việt ở cái nôi LÉP…LỚN-LAO…LÃNH, lép trong xóm thì không thể hiểu được lãnh thổ văn hóa là nó rộng mênh mông), Từ “chiêu lào” trong tiếng Choang hiện đại nghĩa là “thời viễn cổ”( “chiêu lào” tức “chu-cha lâu” của tiếng Việt).Lạc Việt Vương của Việt Nam , sử thư dịch là Hùng Vương tức Đại Vương.Ở vùng Đại Minh Sơn có bài ca “Xướng cổ thế gian” trong đoa có câu ca rằng:<br />“Ba Thị cao là cao. Công Lang quản thượng phương. Chúng bối song tiễn nỗ. Thủ Công Lang lãnh địa” tức là “Núi gốc cao cao là. Ông Làng quản từ trên. Dân đeo nỏ hai tên. Giữ đất của Ông Làng”. Công Lang trong “Bố lạc đà kinh thi” cũng gọi là Lang Lào tức Vua Lớn.Trong “Kinh Thư”có nói thời cổ có một lần đại hồng thủy tức đại nước rộng ngập hết tất cả chỉ còn núi Lang Lào, núi Ngao Sơn, núi Châu Mi (Ngao Sơn và Châu Mi ở đâu thì không rõ chứ núi Lang Lào chính là vùng Đại Minh Sơn ngay nay.”Lang” tiếng Choang nghĩa là một quẩn thể có liên lạc với nhau ( đó là từ “làng” của tiếng Việt).Công Lang là thủ lĩnh của Lang (tức Ông Làng, người Việt vẫn nói “mày đi mà hỏi ông làng,ông xã ấy,tao không biết”).Lang Lào là đại thủ lĩnh ( tức Ông Làng Lớn, người Việt vẫn nói “sống lâu lên lão làng”).<br />Qua bài “Xướng cổ thế gian” cũng thấy rõ là vùng Đại Minh Sơn diện tích nhỏ, mới chỉ có Công Lang hoặc Lang Lào.Ở đây người Choang có điệu múa “Lạc Động” có người đóng vai tướng quân và người đóng vai nữ thần.<br />Trong Viêt Nam Cổ Sử “Hồng Bang thị truyện”có viết: “Thời cổ ,Lạc Việt tôn Hùng Trưởng làm chúa,hiệu là Hùng Vương,quốc hiệu là Văn Lang quốc,dưới có tướng là Lạc Tướng,vương tử là quan Lang,nữ là Mị Nương”.<br />Vương tử của Hùng Vương gọi là “Quan Lang” đồng âm với “Công Lang” ở Đại Minh Sơn, “Lạc Tướng” đồng nghĩa với “Lạc Động”.Rõ ràng là Lạc Việt dù có thiên đô đi nơi nào thì các tên Vương, Hầu, Tướng, Tương cơ bản vẫn giống nhau.Diện mạo Lạc Động của Lạc Việt ở Đại Minh Sơn thì cổ thư ghi rất thiếu.Nhưng căn cứ vào di vật đào được lượng lớn ở đây và theo truyền thuyết thì có thể đại thể đoán định: Các đồ tùy chôn theo ít,không có mộ lớn của Lạc Việt Vương nhưng khẳng định là có mộ của Lạc Động tức Lạc Tướng. Đáng chú ý là mộ chôn ở hang núi đá vôi ở Lương Giang huyện Vũ Minh có đồ chôn theo bằng đông thau 12 thứ,cách chôn đơn giản,thể hiện dáng mạo là mộ của một Lạc Tướng.<br />Ngày 26 tháng 7 năm 2006 tại Độc Sơn, tiếng Choang là Ba Độc là một ngọn núi lớn,sông Kiếm tử hướng tây bắc chảy qua như con rồng ôm lấy núi.Độc Sơn giống con chiến mã ngoẹo đầu lại bảo vệ Bản Phan thôn Tam Liên,ở đây đào được 5 trống đồng và các đồ khác.Trên núi có miếu Thánh Đường Tự, có bia đá được sửa năm Quang Tự (1898).Trên đường nhỏ lên núi tình cờ phát hiện một rìu đá thời đá mới,như vậy Độc Sơn có tầng văn hóa rất sâu.Năm 1986 ở núi này có phát hiện mộ cổ được 14 vật trong đó có 4 kiếm đồng dài 30 cm,qua đồng,khiên đồng,tên đồng xếp dưới chân chủ mộ,vú khí đã cũ tàn nhưng còn khá sắc,đây chính là mộ của một Lạc Tướng.Trong lời hát của bài “Xướng cổ thế gian” thì dân chúng Lạc Việt quốc vừa là binh vừa là dân làm ruộng,người nào lưng cũng đeo cung nỏ bắn được một lần hai mũi tên,họ gọi là Lang Binh hay lính của Công Lang.Quân đội là tiêu chí quyền lực của quốc gia. Tướng soái Lạc Việt đều tinh thành sùng võ,vũ khí của Lang Binh tinh xảo chứng tỏ quân đội Lậc Việt đương thời có trình độ chính qui hóa rất cao.Đại Minh Sơn có tinh binh cường tướng chứng tỏ đây là một trung khu của vương quốc.<br /><br />Trích: <a href="http://www.rauz.net.cn/article/faenzcieng/mboengqcanghhag/hagsudnyimoq/200703/327,html" target="_blank">http://www.rauz.net.cn/article/faenzcieng/...200703/327,html</a><br /><br />Đối chiếu “Sử thuyết họ Hùng” Nhật Nguyên.<br /><br />            Tóm tắt:<br />            Hùng Chiêu Vương – Quốc Tiên Lang cũng là ông Tây Bá; Cơ Xương , Chu Văn Vương cũng là Lang Liêu, An Dương Vương, cổ Thục và  bà Âu Cơ trong truyền thuyết  Bọc trăm trứng .<br /> Chiêu vương  và Chu vương  là  cận âm rất dễ nhận ra , truyền thuyết chỉ thêm chữ Hùng vào để xác định dòng giống mà thôi.<br />      Văn Lang và Âu Lạc là 2 tên của 1 quốc gia và chính là ‘Trung Hoa’ của thiên hạ thời nhà Chu.<br /> Bài 24 - Hùng  thứ 12: Hùng Chiêu <br /> <br />      -         1* Nước  Cao-Ly hay Cao- Lê của Sùng Lãm.<br />-                Hoa văn dịch là nước Sùng , Kinh Thư gọi là nước Lê là phần tây bắc ( xưa) của Hồng bang thời nhà Hạ , cũng là đất Giữa thời lập quốc ngày nay là đất Bắc và bắc trung Việt.<br />-         2 * Nước Đào hay nước Thao., là phần phía đông của  Hồng bang thời nhà HẠ còn được gọi là đất Đông Hạ nay là Quảng đông Trung quốc.<br />-         3 * Đất phong của Tây bá Xương thường gọi tắt là đất Bá cổ sử Việt gọi là Âu biến âm của ‘ô’ nghĩa là màu đen , ‘phương Ô’ đồng nghĩa với ‘Huyền phương’ trong cửu thiên tức phương Nam (xưa) nay là tây nam Quảng tây.<br />-         4 *  Nước Mật tu ký âm sai của Mặt tây nay là Vân nam Trung quốc.<br />-         5 *  Nước Thục còn gọi là đất Quý đất gốc tổ của nhà Chu nay là Quý châu Trung quốc. Hoa sử thường ghép nước Thục với đất Bá ông tây bá Xương thành đất Ba- Thục .<br />-         6 * đất trung tâm của nhà Thương hay ‘trung Hoa’ thời Thương , sử Việt gọi là Việt Thường sau là đất Đường-Ngô nay là Hồ nam và Giang tây Trung quốc.<br />-         7 * Nước Việt , đất dành riêng thờ Sơn tinh quốc chúa hay Hạ vũ nay là Phúc kiến- Chiết giang Trung quốc.<br />-         8 * đất trung tâm của nhà Ân- Thương nay là Hà nam Trung quốc , đây là phần đất cực Nam ( xưa)  của Trung –Hoa , nơi có đất Hà nội là mảnh đất duy nhất vượt Hoàng hà về phía bắc (phương hiện nay), nơi đây Trụ vương đã xây biệt đô Triều ca.<br />-         9 *  Nước Qủy phương là nước đã được nói đến trong kinh Dịch , chính xác là nước Cửu phương , phương số 9 là phương tây của Hà thư , cửu còn biến âm thành ‘cẩu’ nghĩa là con chó vì dân nhà Tần chọn chó Sói làm thần thú tượng trưng cho tộc mình ,  Quỷ phương  còn được gọi là Xuyên Thục nghĩa là đất tây-nam (xưa) , Hoa sử thường gọi tắt là đất Thục gây ra sự lẫn lộn với Ba thục ;việc này ảnh hưởng rất lớn khi tìm hiểu về lịch sử Trung hoa , đất Qủy phươngnay là Tứ xuyên Trung quốc.<br />                                      <br />                                                  *********<br />       Vua khai sáng : – Quốc Tiên Lang <br />                   dị bản : Lang Liêu lang<br />       Danh hiệu khác trong sử Việt :   An dương vương , Thục vương tử.<br />       Danh hiệu khác trong sử Hoa :  Cơ xương , Chu Văn Vương <br />       Quốc hiệu : Văn Lang – Âu Lạc <br />       Niên đại : cách đây 3.100 năm<br />         Lưu tồn vật chất là những hiện vật khảo cổ thuộc nền văn hóa Đông sơn sớm ,Việt nam .<br />       Theo truyền thuyết dân gian Quốc tiên lang còn được gọi  là : Lang Liêu , Cổ Thục.<br />       Văn lang đồng nghĩa với Văn vương ; trong thiên khảo luận này đã  nhiều lần ban đến , khi ta nói nước Văn lang tức là nói nước của vua Văn , là danh xưng cổ xưa của nước Việt ngày nay.<br />     Quốc tiên lang nghĩa là vua khai quốc.]]></description>
		<pubDate>Thu, 12 Aug 2010 18:18:32 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15629</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Dùng Lvdt Dự Báo Thời Tiết Trong Dịp Tổ Chức đại Lễ 1000 Năm Thăng Long ?</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15608</link>
		<description><![CDATA[<b><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#ff0000--><span style="color:#ff0000"><!--/coloro-->Không “bắn mây” ngăn mưa dịp Đại lễ<br /><br /><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><!--fonto:Arial--><span style="font-family:Arial"><!--/fonto--><!--coloro:#696969--><span style="color:#696969"><!--/coloro--><i>(Dân trí) - Trước sự tốn kém, phức tạp của phương án bắn mây ngăn mưa trong dịp Đại lễ, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã nhất trí với việc không áp dụng phương án này như đề xuất của Chủ tịch UBND TP Hà Nội và Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao & Du lịch.Tại buổi làm việc của Ban chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch Lê Tiến Thọ cho biết, Bộ Tài nguyên – Môi trường đã báo cáo xin lùi thời gian trình Ban tổ chức phương án can thiệp khi gặp thời tiết bất lợi đến ngày 18/8 vì đến nay chưa xác định rõ được công nghệ và kinh phí thực hiện.</i><!--colorc--></span><!--/colorc--><!--fontc--></span><!--/fontc--></b><br /><br /><!--fonto:Times New Roman--><span style="font-family:Times New Roman"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--coloro:#000080--><span style="color:#000080"><!--/coloro-->“S<!--colorc--></span><!--/colorc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc-->au ngày 18/8 nếu Bộ TN & MT không đưa ra được phương án thực hiện đề nghị Ban chỉ đạo kỷ niệm 1.000 năm cho ý kiến đề Ban tổ chức triển khai phương án dự phòng khi gặp thời tiết bất lợi, không thể tổ chức tại quảng trường Ba Đình”, ông Thọ nói. <br />Phát biểu sau đó, Bộ trưởng Văn hoá, Thể thao & Du lịch Hoàng Tuấn Anh cho rằng, việc bắn mây nước ta chưa làm bao giờ và cũng rất tốn kém. Ông Tuấn Anh đề nghị, nếu dịp Đại lễ mưa nhỏ, mưa vừa, phải chấp nhận mặc áo mưa, còn nếu mưa lớn phải tổ chức tại sân vận động Mỹ Đình thay vì tổ chức tại quảng trường Ba Đình.<br /><br /><div align='center'><img src="http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/08/11/2c2mua_1008.jpg" border="0" class="linked-image" /></div><div align='center'><!--coloro:#0000ff--><span style="color:#0000ff"><!--/coloro--><i>Cần một "kịch bản" chu đáo cho trường hợp mưa lớn trong dịp Đại lễ (Ảnh: Việt Hưng)<br /><br /></i><!--colorc--></span><!--/colorc--></div>Có cùng quan điểm lo ngại tốn kém như ông Tuấn Anh, nhưng Chủ tịch UBND Thành phố, Nguyễn Thế Thảo còn cho rằng, việc bắn mưa cũng có giới hạn và trong trường hợp mưa bão không thể bắn được.<br />Từ những phân tích của mình, ông Thảo hạ quyết tâm “mưa cũng làm” chỉ trừ trường hợp mưa bão. Tuy nhiên, theo ông Thảo phải có phương án dự phòng trong trường hợp có mưa.<br />Kết luận buổi làm việc, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, nếu bắn mây phải tốn vài chục triệu đô, chưa kể việc nước ngoài phải đưa máy bay vào bắn, rất phức tạp. “Nếu ta làm được thì nên làm, đằng này ta chưa làm được thì thôi”, Phó Thủ tướng đồng ý với các đề xuất.<br />Theo Phó Thủ tướng, cần có sự chủ động ứng phó với các hiện tượng bất thường của thời tiết và dù Đại lễ là dịp hết sức quan trọng, nhưng cũng cần phải tiết kiệm.<br />Bên cạnh lo ngại về vấn đề mưa, để bảo đảm an toàn cho máy bay trực thăng bay qua Quảng trường Ba Đình trong ngày 10/10, theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, Ban tổ chức cũng đã đề xuất Ban chỉ đạo xem xét cho chuyển nội dung các cháu thiếu nhi thả bóng bay và chim bồ câu về mốc sau chương trình nghệ thuật, tức vào đúng 10giờ, 10 phút.<br />Theo Thứ trưởng Lê Tiến Thọ, việc thả chim bồ câu vào 10 giờ, 10 phút đúng thời điểm kết buổi lễ sẽ tạo được dấu ấn.]]></description>
		<pubDate>Wed, 11 Aug 2010 09:35:39 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15608</guid>
	</item>
	<item>
		<title>Võng Đào Mẹ Ru .</title>
		<link>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15596</link>
		<description><![CDATA[<!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:5--><span style="font-size:18pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Võng Đào mẹ ru .<br /><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt nam có bài ca dao vẻn vẹn 4 câu 22 chữ có nghĩa :<br /><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Gió Động Đình mẹ ru con ngủ<br />trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh<br />bống bồng bông, bống bồng bông<br />võng Đào mẹ bế con rồng cháu tiên.<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Đây là tuyệt phẩm thơ ca gợi tả cảnh người mẹ nằm võng bế và ru con ngủ trong đêm trăng thanh gió mát , tình mẹ thương con như trời như bể tràn lấp trong khung cảnh thiên nhiên êm ả đầy hương thơm ngọt ngào ;cả 2 đã kết quyện với nhau tạo thành cái nôi hạnh phúc tuyệt vời cho buổi đầu đời của trẻ thơ Việt .<br />Trong 4 câu thơ thì câu : bống bồng bông bống bồng bông là tiếng ru ...là sự ghép nhạc vào lời ru của mẹ quay quanh chữ bồng đồng nghĩa với bế ...đấy cũng là cung điệu trầm bổng của quê hương , còn lại 3 câu là cô đọng đến hết mực thông tin về lịch sử và quê hương dòng giống Việt .<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Ý bài ca dao tuyệt tác trên chỉ có thể thấu hiểu dưới ánh sáng dịch học . <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Dưới đây là đồ hình Hà thư ( dịch học Tàu gọi là Hà đồ ) được vẽ với số đếm thay cho những nút thắt nguyên thủy và đặt nằm ngang theo chiều xích đạo và cực Bắc hiện nay ( cực Nam xưa theo dịch học) .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><br /><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->[/size]<!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><img src="http://i32.servimg.com/u/f32/11/92/90/83/image016.jpg" border="0" class="linked-image" /><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Ta thấy cặp số 2/7 nằm về hướng Xích đạo và cặp 1/6 ở hướng đối nghịch .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo-->Vì hướng bắc - nam xưa đã bị đảo ngược nên trong bài sẽ dùng ‘Giang’ và ‘hồ’ là 1 cặp đối theo dịch lý để thay thế , Hồ hình tròn giang hay sông nét thẳng , hồ nước tụ giang nước chảy , Giang – hồ tạo thành 1 trục tương đương trục bắc –nam của địa lý ngày nay, trục này được xác định trên Hà thư bằng số 1 và số 2 .<!--sizec--></span><!--/sizec--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Trong 12 tháng của Việt nam thì tháng giêng là tháng đầu kế đến là tháng hai , tháng giêng cũng là tháng 1 ta có giêng là từ đồng nghĩa với 1.<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->- Số 1 cũng là Giêng , giêng →giang (sông) →giăng (trăng) <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->- Số 2 hai → hà - hồ – hạ – hè <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Trục (1 – 2 )→ (giang – hồ , sông – bể ).<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Hồ ở hướng xích đạo và giang ở hướng bắc cực ( nay ).<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Đọc câu :<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Gió Động đình mẹ ru con ngủ .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Có thể nói ngay không chút ngần ngại : mẹ ở đây là Long mẫu , Long mẫu khi chưa kết duyên cùng Kinh dương vương gọi là Long nữ con gái Động đình quân tức vua vùng Động đình hồ , Long mẫu chính là tổ mẫu dòng Hùng Việt hay Bách Việt ; vì chỉ Long mẫu mới có thể nằm ru con Hồng cháu Lạc ở Động đình hồ đúng như truyền thuyết lịch sử .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Khi áp thực địa Việt nam và Hoa nam vào đồ hình Hà thư thì nhận ra ngay Động đình hồ là Biển đông chính là hướng ‘hồ’ vì theo trục : “1 - 2 , giang – hồ” ta đã có Giang ở phía đối nghịch , Giang là tên gọi khác của Trường giang , Động đình hồ và Trường giang cấu thành trục giang – hồ của địa lý Trung hoa và cũng chính trục ‘giang – hồ’ này đã phủ nhận việc ấn định Động đình hồ là đầm Vân mộng xưa vì nếu ‘hồ’ ở đấy thì ‘giang’ ở nơi nào ?, không thể nào là Hoàng hà được vì Hoàng hà còn có tên riêng là HÀ , không lẽ đất Trung hoa có Trục phương hướng ... “hồ – hà” vừa vô nghĩa vừa vô lý .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Rất có thể đầm Vân mộng xưa nay gọi là hồ nam , nghĩa là cái hồ nằm ở phía nam (xưa theo dịch lý) của Giao châu tức là vùng Trung tâm và vùng đất có cái hồ ấy được đặt tên là tỉnh Hồ nam (cấu trúc Việt ngữ ) , tương tự ở hạ lưu Trường giang có 1 hồ rất lớn tên là Pò Dương nghĩa là cái hồ lớn ở phía đông ( Giao châu ? )<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Tới đây đã xác định được hướng ‘hồ’ của lãnh thổ Bách Việt là Biển đông ,<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->câu tiếp theo là : ‘Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh’ cũng giúp xác định phần lãnh thổ hướng ‘giang’ là sông Tiền Đường , con sông chảy qua ranh giới 2 tỉnh An huy và Giang tây rồi vào tỉnh Triết giang Trung quốc ngày nay , Chiết giang cũng là tên gọi khác của sông Tiền Đường .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Trăng hay giăng và giang tất cả chỉ là biến âm của từ ‘giêng-1’ chỉ phía Nam xưa của Hà thư (nay đảo là bắc) . <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Khi so chiếu những thông tin địa lý trong bài ca dao trên với trục ‘giang – hồ’ thì xác định được lãnh thổ Bách Việt : bắc (xưa) là Động đình hồ hay biển đông , nam (xưa ) là sông Tiền đường hay Chiết giang . <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Thực tuyệt vời khi chỉ với thông tin mang trong bài ca dao ngắn ngủi này đã đủ để xác định lãnh thổ của người Hùng Việt hay bách Việt là gồm toàn bộ phía nam ( nay )Trường giang cho tới đất Việt nam ngày nay .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Vùng Chiết giang là lãnh thổ nước Việt xưa , nơi thờ vua Hạ vũ tức Hùng Việt vương –Tuấn lang trong sử thuyết họ HÙNG cũng là nơi các học giả Trung hoa cho là phát tích văn hoá Việt và Trên vùng lãnh thổ bao la ấy câu : ‘võng Đào mẹ bế con Rồng cháu Tiên’ chỉ ra tên gọi tổ quốc thiêng liêng của người Việt là ‘HỒNG BANG ’; hồng là màu đỏ đồng nghĩa với đào , bang đồng nghĩa với ‘quốc’ với ‘nước’ nếu viết sai thành ‘Hồng bàng’ là mất hết ý nghĩa . <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Bài ca dao 22 chữ là 1 tuyệt phẩm thơ ca vì chỉ với 3 câu thơ ngắn gọn đã gói trọn những thông tin ngàn năm của nước Việt :<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Cái Võng mẹ nằm ru con là cùng hình tượng với chiếc nôi mà ngày nay hay dùng để chỉ quê hương , võng Đào đồng nghĩa với Hồng bang quốc hiệu đầu tiên của vương quốc Việt . <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Truyền thuyết lịch sử Việt và cổ sử Trung hoa nhìn dưới ánh sáng dịch lý có sự đồng nhất hoàn toàn :<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Hồng bang - Đất Đào – nhà Hạ –Hùng Hoa (Hoả) vương – Hải lang tất cả đều chỉ những tố chất của ‘mặt trời’ ; hướng xích đạo –quẻ ly tức lửa – màu đỏ , vùng Hồ - hải hay biển cả , những dịch tượng này về phương diện địa lý là chỉ vùng nhiệt đới –xích đạo còn trong quan niệm triết học dùng chỉ sự văn minh sáng sủa ngược với chốn man dã tối tăm .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Sổ 1 = Giêng →Trăng - giăng –giang cộng với 5 canh –tiền Đường (Thường ) tất cả là dịch tượng chỉ phương Nam của dịch học (ngược với phương hiện nay) , Sông Đường hay Thường cộng với tên nước Việt gợi cho ta danh hiệu nước Việt Thường trong truyền thuyết lịch sử .<br /><!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><img src="http://i32.servimg.com/u/f32/11/92/90/83/giangh10.jpg" border="0" class="linked-image" /><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Hồng bang ở hướng ‘hồ’ hợp với Việt Thường hướng ‘giang’ thật là trọn vẹn 1 đất nước không thể nào cô đọng giản lược câu chữ hơn được nữa , tuyệt vời hơn khi chỉ với 3 chữ ‘gió Đông đình’ đã chỉ rõ cả 1 thời gian dài lịch sử kết tạo cô đúc nên dòng giống Việt : <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->- Gió chỉ đức Tản viên hay Tốn lang-Tốn vương ; quẻ Tốn là tượng của phong – gió ; trong phả hệ 18 đời Hùng vương là Hùng Việt vương – Tuấn lang tổ các vương triều Việt , Chữ Phong còn liên quan tới Phong châu quốc đô thời Hùng vương dựng nước . <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->- Động Đình hồ là quê của của Long nữ là tổ mẫu của dòng giống Việt .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Sự kết hôn lập thành gia đình trong truyền thuyết lịch sử Việt luôn là sự phản ánh việc hoà nhập 2 dòng tộc, từ 2 thành phần khác biệt đã hoà huyết và đúc kết văn hoá tạo thành 1 cộng đồng dân tộc thống nhất trong thực tế lịch sử , cộng đồng Bách Việt đã ra đời từ hôn nhân lịch sử giữa vị Kinh dương vương tức vương cai trị phương nam cuối cùng thời lập quốc là Hùng Việt vương Tuấn lang với con gái của Động đình quân vua vùng biển đông .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Lạc long quân nghĩa là vua chung của cả 2 thành phần Lạc và Long , danh xưng của vương quốc là Hồng bang , lãnh thổ trung tâm gọi là đất Đào nay là đất Việt và Quảng đông – Quảng tây ., những thông tin lịch sử này được ghi chép trong cổ <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->sử Trung hoa với nhân danh địa danh khác :...Hạ vũ lấy vợ là Đồ sơn thị sinh ra ông Khải , Khải lập nên vương triều đầu tiên của Trung hoa là triều Đại Hạ , ông Hạ Vũ được tôn là tổ nhà Hạ và đất Cối Kê được dành riêng để thờ cúng , thực ra vũ chỉ là ký âm Hán ngữ của từ Vua trong tiếng Việt , Hạ vũ nghĩa là vua Hạ chính là Hùng Việt vương trong lịch sử Việt nam vì thế nhà nước lập ở Cối kê mang tên là nước ‘Việt’ .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Võng Đào trong bài ca dao này khi liên kết với truyền thuyết Hồng bàng thị giúp khẳng định Lãnh thổ nước Việt gồm :Giao châu tức đất Việt ngày nay là đất gốc của dòng giống Hùng và Quảng đông Quảng tây là phần đất mở rộng về sau ( từ quảng nghĩa là mở rộng ra) , đất Đào là đất trung tâm của vương quốc họ HÙNG thời Hùng Hoa vương - Hải lang , Hoa sử gọi là nhà Hạ , Hải nam hay Nam hải chỉ là biến âm của Hải lang hay lang Hải tức Hải vương mà thôi . <!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Đất Đào cũng là lãnh thổ nước Nam Việt , triệu Đà chỉ là chữ viết sai của triệu Đào nghĩa là vua đất Đào chứ không có ai họ Triệu tên Đà cả .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Hiện nay trong giới sử học Việt nam , còn không ít người cho nước Việt xa xưa chỉ tồn tại trên phần đất bắc và bắc trung phần ngày nay , 3 câu thơ trong bài ca dao bất hủ này đã loại bỏ hoàn toàn ý nghĩ sai lầm đó , vì làm sao giải thích được các điạ danh ....tiền Đường , Động đình cũng như những chữ ... võng Đào .v.v lại có mặt trong bài ca dao mang nặng tình tự dân tộc này :<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->‘Gió Động Đình mẹ ru con ngủ<br />trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh<br />bống bồng bông, bống bồng bông<br />võng Đào mẹ bế con rồng cháu tiên.<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto--><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--sizec--></span><!--/sizec--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Bài :<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--fontc--></span><!--/fontc--><br /><br />[size="3"]<!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->-Nôm na là cha mách qué .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->-Hướng nhìn mới về cuộc nam tiến .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->-Thời Hùng vương dựng nước .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec--><br /><br /><!--sizeo:3--><span style="font-size:12pt;line-height:100%"><!--/sizeo--><!--fonto:Verdana--><span style="font-family:Verdana"><!--/fonto-->Xin đọc ở Diễn đàn lý học Đông phương phần thử bút .<!--fontc--></span><!--/fontc--><!--sizec--></span><!--/sizec-->]]></description>
		<pubDate>Tue, 10 Aug 2010 10:58:57 +0700</pubDate>
		<guid>http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=15596</guid>
	</item>
</channel>
</rss>