Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 2

Ngày đăng: Thứ hai 23/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

@ Thân – Tý – Thìn là tam hợp Thủy cục. Trong đó: Thân (Kim) sinh Tý (Thủy) và tuyệt ở Thìn (Thổ).
@ Dần – Ngọ – Tuất là tam hợp Hỏa cục. Trong đó: Dần (Mộc) sinh Ngọ (Hỏa) và tuyệt ở Tuất (Thổ).
@ Hợi – Mẹo – Mùi là tam hợp Mộc cục. Trong đó: Hợi (Thủy) sinh Mẹo (Mộc) và tuyệt ở Mùi (Thổ).
@ Tỵ – Dậu – Sửu là tam hợp Kim cục.

Khi tìm hiểu về các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm dương Ngũ hành liên quan đến Tam hợp cục, nguời ta chỉ có thể lý giải quy tắc tam hợp như trên. Riêng tam hợp Kim cục Tỵ – Dậu – Sửu là sự bí ẩn không lý giải được cũng với thời gian tính bằng thiên niên kỷ; bởi vì Tỵ (Âm Hỏa) tại sao lại có thể sinh Dậu (Âm Kim)? Bởi vậy người ta cũng phải học thuộc lòng các tam hợp cục như một tiên đề khi ứng dụng.
Đây cũng là một bằng chứng nữa chứng tỏ sự thất truyền và sai lệch của một hệ thống lý thuyết căn bản. Điều bí ẩn trên đây chỉ có thể lý giải được với Hậu thiên Bát quái nguyên thủy và sự liên hệ của nó với Hà đồ. Để chứng tỏ điều này, trước hết xin bạn đọc xem lại đồ hình miêu tả sự liên hệ giữa Hà đồ và Hậu Thiên Bát quái nguyên thủy:

Đồ hình minh họa
Hà đồ và Hậu Thiên bát quái nguyên thủy
Trong đó Khôn Thổ chính vị tại Âm Hỏa

So sánh với hình thiên bàn miêu tả 12 địa chi ta có:

Đồ hình minh họa tam hợp Cục Tỵ - Dậu Sửu

Qua đồ hình trên bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Quái Khôn (Thổ) nằm ở cung Âm Hỏa của Hà đồ. Trên đồ hình 12 cung Địa chi của khoa Tử vi thì cung Tỵ chính là cung Âm Hỏa, tức là chính vị của Khôn (Thổ). Do đó, trong tam hợp Kim cục Tỵ – Dậu – Sửu sẽ được diễn tả như sau:
Thổ – do Khôn (Thổ) chính vị tại Tỵ (Âm Hỏa) sinh Dậu (Kim) và tuyệt ở Sửu theo đúng qui luật Sinh Vượng Mộ (Tuyệt) và Ngũ hành tương sinh như những tam hợp cục khác.

Bí ẩn của Cự Môn hãm địa tại Tỵ, vượng ở Ngọ trong Tử vi & Hậu Thiên Bát quái nguyên thủy.

Khoa Tử vi vốn được coi là của Trần Đoàn lão tổ sáng tạo vào đời Tống. Trong khoa này tên các vì sao cùng với những thuộc tính của nó được phân phối trên 12 cung Địa chi (như đồ hình đã trình bày ở trên); tùy theo thuộc tính và vị trí của các sao trên 12 cung bị lạc hãm hay sinh vượng, người ta dự báo tương lai cho con người. Cùng chung số phận với tất cả các phương pháp ứng dụng trên thực tế của thuyết Âm dương Ngũ hành, khoa Tử vi cũng gồm những tiên đề không có sự lý giải và phải học thuộc lòng khi ứng dụng (trong đó có cả việc nạp âm Ngũ hành trong Lục thập hoa giáp). Trong hệ thống sao của khoa Tử vi có sao Cự Môn được coi là thuộc hành Thủy. Sao Cự Môn khi nằm ở cung Ngọ (Dương Hỏa) được coi là vượng địa; khi nằm ở cung Tỵ bị coi hãm địa. Đến đây, một vấn đề được đặt ra là: Cự Môn thuộc Thủy nằm ở Ngọ (Dương Hỏa), nên khắc Dương Hỏa phát huy tính năng của nó, được coi là vượng địa, điều này hợp lý. Nhưng đối với Cự Môn nằm ở Tỵ (Âm Hỏa) lại bị coi là hãm địa thì không thể lý giải vì sự mâu thuẫn với chính những nguyên lý sinh khắc căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành?
Nhưng điều này sẽ được giải thích trong sự tương quan hợp lý giữa những vấn đề liên quan của thuyết Âm dương Ngũ hành với Hậu thiên bát quái nguyên thủy liên hệ với Hà đồ.
Chứng minh tương tự như trường hợp trên, chúng ta lại có Khôn Thổ chính vị tại Tỵ tức Âm Hỏa. Do đó, Cự Môn thuộc Thủy nằm ở Tỵ (tức Âm Hỏa) bị Khôn Thổ khắc (Thổ khắc Thủy) nên hãm địa. Đây là một sự minh chứng tiếp tục cho việc đổi chỗ hai Quái Tốn & Khôn, do khả năng lý giải hợp lý những vấn đề liên quan đến nó. Sự chứng minh này cũng chứng tỏ rằng: Âm dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, bát quái trong kinh Dịch chỉ là một siêu công thức của học thuyết này. Đồng thời cũng chứng tỏ rõ nét thêm rằng: Trần Đoàn lão tổ chỉ là ngườì công bố khoaTử Vi còn tiềm truyền trong dân gian, ông không phải là người sáng lập môn này.

Bí ẩn của tiên đề “ Con trai theo cha, con gái theo mẹ” trong Chu Dịch & câu “con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ” trong văn hóa dân gian Việt Nam.

Trong Chu Dịch khi bàn về giới tính và ứng dụng trên thực tế qua ký hiệu của các Quái, cho rằng:
Khôn là mẹ và các con gái gồm Đoài thiếu nữ, Ly trung nữ, Tốn trưởng nữ. Càn là cha và các con trai gồm Cấn thiếu nam, Khảm trung nam, Chấn trưởng nam. Khi ứng dụng Bát quái tìm hiểu những vấn đề liên quan đến quan hệ gia đình, gặp những Quái trên sẽ cho biết ảnh hưởng của sự việc, sự kiện đến thành viên nào trong gia đình. Trên đồ hình Hậu thiên bát quái trong cổ thư chữ Hán, hiện tượng này được miêu tả như sau:

Qua đồ hình trên, bạn đọc sẽ thấy không thể có một cơ sở lý luận nào theo chính phương pháp luận của thuyết Âm dương – Ngũ hành để lý giải hiện tượng trên. Do đó, cũng chung số phận với các định đề khác, định đề này cũng phải học thuộc lòng và không có sự lý giải, mặc dù người ta vẫn ứng dụng trên thực tế trải cũng đã hàng ngàn năm của kinh Dịch. Ngược lại, trên cơ sở Hậu thiên bát quái nguyên thủy và Hà đồ, hiện tượng trên sẽ được lý giải rõ ràng:

Đồ hình minh họa
Tính chất quái tượng
qua Hậu Thiên bát quái nguyên thủy và Hà đồ

* Trong hình trên đây, bạn đọc sẽ nhận thấy: trục địa cầu biểu kiến chia tám quái thành hai phần Âm dương gồm: Càn cha và các Quái tượng cho con gái là: Đoài, Tốn, Ly thuộc Dương (các hào Dương nhiều hơn hào Âm); Khôn mẹ và các Quái tượng cho con trai thuộc Âm (các hào Âm trội hơn hào Dương). Điều này cũng lý giải câu tục ngữ bí ẩn trong dân gian Lạc Việt: “Con trai nhờ đức mẹ, con gái nhờ đức cha”. Bởi vì, những quái tượng con gái đồng chất với quái Càn tượng cha, thuộc Dương; những quái tượng con trai đồng chất với quái Khôn tượng mẹ, thuộc Âm.
* Từ sự ứng dụng độ số Âm cho hai hành Thủy và Mộc, độ số Dương cho hai hành Kim và Hỏa (đã dẫn chứng ở phụ chương: “Dấu ấn Hà đồ trong cổ thư chữ Hán trước Tần”). Như vậy, hành Thủy & Mộc thuộc Âm và Kim & Hỏa thuộc Dương trên Hà đồ.
Từ hai cơ sở này, tính hợp lý khi ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành giải thích hiện tượng trên như sau:
Các quái Đoài & Tốn, Ly nằm trên phần Dương của Hà đồ (Kim – Hỏa) nên tượng cho con gái (Âm) theo nguyên lý trong Dương có Âm. Riêng Càn nằm ở vị trí Âm của Hà đồ lại là đầu quái Dương nên tượng cha (Dương) theo nguyên lý trong Âm có Dương.
Các quái Khảm, Cấn & Chấn nằm ở phần Âm của Hà đồ (Thủy – Mộc) nên tượng con trai theo nguyên lý trong Âm có Dương. Riêng Khôn nằm ở vị trí Dương của Hà đồ lại là đầu quái Âm, nên tượng mẹ theo nguyên lý trong Dương có Âm.
Qua phần chứng minh trên, đã khẳng định rằng:

Chỉ có đồ hình Hậu thiên bát quái nguyên thủy liên hệ với Hà đồ được bắt đầu và phục hồi từ nền văn minh Lạc Việt mới có khả năng lý giải một cách hợp lý cho tất cả những vấn đề liên quan trong phạm trù của thuyết Âm dương – Ngũ hành. Đồng thời, sự chứng minh trên cũng chứng tỏ rõ nét hơn về tính thống nhất và hoàn chỉnh của thuyết Âm dương Ngũ hành, Bát quái chỉ là siêu công thức của học thuyết này và đồng thời có sự liên hệ chặt chẽ hữu cơ với nó.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  31. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV
  32. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 1
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Phần IV: Văn minh Văn Lang và thuyết Âm dương Ngũ hành lý giải những vấn đề liên quan. Trăm năm bia đá thì mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ (Ca dao Việt ...

Phụ chương: Quân tượng trên bàn Cờ. Con vỏi con voi/ Cái vòi đi trước/ Hai chân trước đi trước/ Hai chân sau đi sau/ Còn cái đuôi đi sau rốt/ Tôi xin kể ...

Tứ tượng trong văn minh Văn Lang. Trải nhiều thiên niên kỷ, các nhà lý học đã nói đến khái niệm Tứ tượng với cách hiểu như cổ thư chữ Hán miêu tả ...

Chương IV: Căn nguyên của Bát quái. Hệ từ viết: “Thị cố Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng”.Dịch hữu thái cực – Thị ...

Thuyết quái và thuộc tính Ngũ hành của quái vị Hậu thiên bát quái nguyên thủy. Trong văn hóa dân gian Việt nam còn lưu truyền một câu ca dao nổi tiếng mà hầu ...

Chương III: Sự lý giải thuộc tính ngũ hành của quái vị từ văn minh Văn Lang. Hà đồ và cấu hình Hậu thiên bát quái. Trong cổ thư chữ Hán đã ghi nhận vua ...

Sự tương quan cấu hình Hậu thiên bát quái và thứ tự 64 quẻ thuộc hệ thống hệu thiên. Lời mở đầu của phần III đã chứng tỏ với bạn đọc tính suy ...

Chương II: Truyền thuyết bà Nử Oa và trời và phương vị Hậu thiên bát quái. Nội dung truyền thuyết và những vấn đề liên quan đến phương vị hậu thiên bát ...

Chương I: Văn minh Văn Lang với Lạc thư Hà đồ. Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên và Lạc thư Hà đồSự bí ẩn của Lạc thư Hà đồ – qua hàng ngàn năm – đã ...

Phần III: Văn minh Văn Lang và bí ẩn của bát quái. Thằng Bờm: Thằng Bờm có cái quạt mo/ Phú ông xin đổi ba bò chín trâu/ Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu/ Phú ...