Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV

Ngày đăng: Thứ bảy 21/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Chương I
Văn minh Văn Lang và nguồn gốc Dương lịch (*)

* Chú thích : Nội dung của phần này đã được trình bày và chứng minh trong cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp” (Nxb Thanh Niên – 1999). Tác giả chân thành cáo lỗi với quý độc giả đã đọc cuốn sách trên vì sự lập lại một số nội dung trong phần này, mặc dù có bổ sung một số vấn đề liên quan.

Những vấn đề nguồn gốc Âm Dương lịch

Nói đến nguồn gốc Âm dương lịch, có lẽ hầu hết mọi người – qua hàng ngàn năm nay – đều nghĩ rằng xuất phát từ nền văn minh Hoa Hạ. Nhưng khi bắt đầu tìm về cội nguồn của nền văn minh Đông phương thì vấn đề lại không đơn giản như vậy. Chúng ta đều biết rằng việc làm lịch phải bắt đầu từ quan sát thiên văn, hay nói cho chính xác hơn là phải quan sát sự vận động của các thiên thể: Dương lịch thì theo Mặt trời, Âm lịch thì theo mặt Trăng và đấy là sự hiểu biết tối thiểu đơn giản nhất. Trong việc sử dụng Âm dương lịch là việc kết hợp giữa sự vận động của Mặt trời và mặt Trăng tương quan với trái Đất. Đặc biệt sự ứng dụng của Ngũ hành trong Âm dương lịch lại là một vấn đề rất phức tạp (nếu không có sự phát hiện nào mới của ngành khảo cổ thì Âm dương lịch phương Đông là loại lịch duy nhất, không chỉ phản ánh sự vận động cơ học thuần túy của các thiên thể, mà còn có sự ứng dụng phương pháp luận của một học thuyết vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành trong nội dung của nó). Do đó, việc những cổ thư chữ Hán ghi nhận những hiện tượng rất mâu thuẫn trong lịch sử hình thành thuyết Âm dương Ngũ hành trong văn minh Hoa Hạ, khiến cho chúng ta hoàn toàn có cơ sở để đặt vấn đề tìm hiểu về nguồn gốc đích thực của Âm dương lịch. Những đoạn trích dẫn sau đây, sẽ đặt ra cho chúng ta một chứng cứ khá thuyết phục để hoài nghi về nguồn gốc của loại lịch này từ văn minh Hoa Hạ.
Đoạn trích dẫn sau đây trong sách “Sử học bị khảo” (Tác giả Đặng Xuân Bảng – Tiến sĩ khoa Bính Thìn 1856; người dịch Đỗ Mộng Khương, hiệu đính Đỗ Ngọc Toại. Viện Sử học – Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội 1997; trang 13) chứng tỏ điều này:

Tôi xét: Đế Nghiêu sai người xét việc khảo sát thiên văn, Đế Thuấn xét bộ đồ toàn cơ ngọc hành thực là thủy tổ của đời sau trong việc xem thiên văn, dạy dân cấy gặt đúng thời vụ. Đời Thành Chu, xuân quan là Phùng tướng thị coi việc xét 12 năm 12 tháng 12 thời (địa chi) 10 ngày 28 sao. Xét rõ công trình trong một năm, cho hiểu thiên văn, cũng là theo phép của Nghiêu Thuấn mà suy tính rộng ra. Đời Xuân – Thu không biết cách đặt tháng nhuận (sách Xuân Thu tháng nhuận đều đặt vào tháng cuối năm). Nhật thực có khi không vào ngày sóc (sách Xuân Thu nhật thực có khi vào ngày 30, có khi vào ngày mồng 2). Hai lần chép Mặt trời đi thiên về nam (Tả truyện: Hy công năm thứ 5 Tân Hợi; Chiêu Công năm 20, Kỷ Sửu) đều sau trước đi một hai ngày.
Từ đời Hán về sau, phép làm lịch cũng thay đổi dần. Lịch Thái Sơ của Tư Mã Thiên, lịch Tam thống của Lưu Hâm, cũng nhiều sơ lược. Đời Đông Hán, Lưu Hồng làm sách Kiền tượng thuật mới biết được độ mặt trăng đi có chậm, có nhanh. (Phép cũ nói mặt trăng đi đều 12 độ 19 phân 7. Đến bây giờ mới biết mặt trăng đi có chậm nhanh sai đi, rất chậm là ngày đi hơn 12 độ, rất nhanh là ngày đi hơn 14 độ: chậm nhanh sai nhau hơn 5 độ).

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng cho đến thời Xuân thu, Âm lịch của người Hoa Hạ hoàn toàn không phải là Âm dương lịch sau này. Bạn đọc cũng đã biết rằng: hầu hết sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành đều phải căn cứ theo dữ kiện quan yếu là Âm dương lịch. Theo đoạn trích dẫn ở trên thì đến tận đời Đông Hán, người ta mới tính toán được sự sai lệch của mặt trăng. Nhưng vào thời Hán Vũ Đế, người ta đã coi ngày tốt xấu để lấy vợ cho nhà vua. Đoạn trích dẫn sau đây trong Sử ký Tư Mã Thiên – phần Nhật giả liệt truyện chứng tỏ điều này.

Hán Vũ Đế (156 tr.CN) triệu các nhà chiêm tinh lại hỏi ngày x tháng x cưới vợ được hay không? Người theo thuyết “Ngũ hành” bảo được, người theo thuyết “Kiến trừ” bảo xấu, người theo thuyết “Tùng thời” bảo rất xấu, người theo thuyết “Lịch gia” bảo hơi xấu, người theo thuyết “Thiên nhân” bảo tốt vừa, người theo thuyết “Thái nhất” bảo đại cát. Tranh cãi nhau hồi lâu, đỏ mặt tía tai, không ai chịu ai. Cuối cùng Hán Vũ Đế phán: “Mọi điều nên hay kiêng, phải lấy thuyết “Ngũ hành” là chính, kết thúc buổi tranh luận. Kể từ đó thuyết Ngũ hành được phát triển.

Như vậy, vấn đề được đặt ra là: căn cứ vào đâu để định ngày tốt xấu theo thuyết Ngũ hành? Trong khi từ Hán Vũ Đế cho đến đời Đông Hán cách nhau gần 200 năm, người ta mới biết đến sự sai lệch của mặt Trăng. Đây là một mâu thuẫn để từ đó chúng ta hoàn toàn có cơ sở hoài nghi về nguồn gốc Âm dương lịch xuất xứ từ nền văn minh Hoa Hạ. Kết hợp với những vấn đề liên quan đã trình bày trong cuốn sách này thì nguồn gốc Âm dương lịch phải thuộc về văn minh Văn Lang. Hiện tượng vua Nghiêu, Thuấn – được coi là các vị hoàng đế trong cổ sử Trung Hoa – phải xem xét lại, khi một số việc làm của các Ngài liên quan đến những hình ảnh được ghi nhận trên trống đồng Lạc Việt (đã dẫn chứng trong Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại).

Lạc thư Hoa giáp & Ngũ hành trong Âm Dương lịch

Chúng ta đều biết rằng tất cả mọi sự ứng dụng trên thực tế của thuyết Âm dương Ngũ hành đều gắn liền với Âm dương lịch. Tính độc đáo của loại lịch này so với tất cả các loại lịch khác đã được biết đến trong lịch sử văn minh nhân loại là: có sự ứng dụng của một học thuyết vũ trụ quan cổ đại trong nội dung của nó: Đó chính là sự nạp âm Ngũ hành trong Lục thập Hoa giáp. Từ trước đến nay – cũng đã trải hàng ngàn năm – mặc nhiên, người ta vẫn coi sự sáng tạo ra loại lịch này thuộc về văn minh Hoa Hạ. Sẽ là một sự phi lý, nếu thuyết Âm dương Ngũ hành thuộc về văn minh Văn Lang; nhưng Âm dương lịch với dấu ấn của thuyết Âm dương Ngũ hành lại không thuộc về văn minh Văn Lang. Nhưng thật chu đáo thay! Ông cha ta đã để lại một câu ca dao nổi tiếng – lưu truyền trong dân gian Việt Nam – như nhắc nhở cho con cháu tìm lại những dấu ấn của tổ tiên trong Âm dương lịch:

Ai về nhắn họ Hy Hòa
Nhuận năm sao chẳng nhuận và (vài ) trống canh?

Đã có sự giải thích về nội dung câu ca dao này như sau:

Tất nhiên câu ca dao trên đây, đành rằng, nhắc đến các chuyên gia làm lịch đời Nghiêu, Thuấn, nhưng hẳn là mới xuất hiện về sau, có sớm lắm cũng khoảng Lý, Trần, với ý nghĩa chế diễu một cặp tân hôn vào dịp Hạ chí, dịp mà đêm rất ngắn, vì “đêm tháng năm, chưa nằm đã sáng!” (*).

* Chú thích Kinh Dịch Phục Hy, sách đã dẫn – trang 45.

Qua đoạn trích dẫn trên chúng ta sẽ nhận thấy tính khiên cưỡng trong việc lý giải nội dung của câu ca dao. Nếu chủ đề của câu ca dao này, chỉ là sự ham muốn kéo dài thời gian đêm của một cặp tân hôn thì không lẽ sự ham muốn đó chỉ nảy sinh vào mùa hạ của năm nhuận? Nội dung và chủ đề của câu ca dao này rất rõ ràng và trực tiếp, hoàn toàn không mang tính mật ngữ. Nhưng có lẽ vì không thể ngờ rằng kiến thức về thiên văn của người Việt cổ lại sâu sắc, chính xác đến thế, nên không thể đặt vấn đề phân tích trực tiếp nội dung của nó (tương tự trường hợp mục đích ra đời của kinh Dịch được diễn đạt ngay trong Thập dực; nhưng vẫn không lý giải được một cách thỏa đáng. Xin xem phần sau: Văn minh Văn Lang & mục đích ra đời của kinh Dịch).
Ngày nay, tất cả chúng ta đều biết rằng: chu kỳ quay quanh trục của trái đất, không trùng khớp với chu kỳ quay quanh Mặt trời mà dư ra 1/4 ngày. Đây là điều mà sau khi Gali lê ra tòa vài thế kỷ, khoa học hiện đại mới chứng minh được. Nhưng thực tế này, người Việt cổ đã phát hiện được từ lâu và kết hợp ứng dụng trong Âm dương lịch. Cổ sử Trung Hoa cho rằng: Âm dương lịch là phát minh của hai vị quan đại thần thời vua Nghiêu. Sự xuất hiện của câu ca dao trên hoàn toàn mang tính thách đố về những tri kiến mà các nhà thiên văn phong kiến Hoa Hạ không nắm bắt được. Câu “vài trống canh” tương đương 1/4 ngày trong một năm.
Chính từ câu ca dao trên đã gợi ý về một nguồn gốc của Âm dương lịch thuộc về một nền văn minh vĩ đại đã phát minh ra nó: đó là nền văn minh Văn Lang. Trong cuốn Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp đã chứng minh rằng: cách nạp âm Ngũ hành trong Lục thập hoa giáp mà cổ thư chữ Hán truyền lại là một sai lầm và ngay cả những nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại cho đến nay cũng chưa biết được dựa trên nguyên tắc nào để có được phương pháp nạp âm đó. Trong cuốn Dự đoán theo Tứ Tru (NXB Văn hóa Thông tin 1996 – trang 68) ông Thiệu Vĩ Hoa đã thừa nhận:

Nạp âm Ngũ hành trong bảng sáu mươi Giáp Tí căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định, người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch, do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng sáu mươi Giáp Tí biến hóa vô cùng, đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn”

Đoạn trích dẫn trên chứng tỏ một mâu thuẫn không thể lý giải. Cho đến thời Xuân thu việc làm lịch vẫn chưa hoàn chỉnh, đến tận đời Đông Hán người ta mới phát hiện ra sự sai lệch của mặt trăng. Vậy việc nạp âm Ngũ hành theo như Âm lịch hiện nay chỉ có thể bắt đầu từ thời Hán về sau, nếu quan niệm nguồn gốc Âm dương lịch xuất xứ từ Hoa Hạ. Do đó, việc không biết căn cứ vào đâu để xác định việc nạp âm Ngũ hành là một hiện tượng phi lý. Điều này không thể giải tích một cách khiên cưỡng là do sự thất truyền, bởi những biến cố lịch sử Trung Hoa từ thời Hán đến nay.
Người viết đã kết hợp trên cơ sở sự tương quan hợp lý những hiện tượng trong các cổ thư liên quan và trình bày bảng nạp âm mới đặt tên là LẠC THƯ HOA GIÁP và phân biệt với bảng cũ Lục thập Hoa giáp ở trang bên.
Qua hai đồ hình dưới đây thì Lạc thư Hoa giáp khác Lục thập Hoa giáp ở sự đổi chỗ vị trí của hai hành Thủy và Hỏa. Nhưng chính sự đổi chỗ này đã tạo nên những khác nhau rất căn bản:


Kết cấu của đồ hình LẠC THƯ HOA GIÁP hợp lý và tuân theo những nguyên tắc nhất định (*).

* Chú thích: những nguyên tắc dẫn đến sự sắp xếp lại bảng Hoa Giáp đã trình bày trong “Thời Hùng Vươn g và bí ẩn lục thập hoa giáp” (Nxb VHTT 2002)

Còn Lục thập Hoa giáp không phản ánh một qui luật nào. Xin bạn đọc so sánh những điểm căn bản sau đây:

A)– Mỗi giai đoạn 6 năm trong Lạc thư Hoa giáp tức là một nửa chu kỳ 12 năm của sao Thái tuế – Sao Mộc quay quanh Mặt trời – (Chu kỳ sao Thái tuế 12 năm - đây cũng là chu kỳ 12 con giáp, từ Tí đến Hợi - được phân Âm dương, mỗi phần là 6 năm. Điều này cũng giải thích tại sao năm còn gọi là Tuế) – theo nguyên tắc sau:
1)– Từ Giáp đến Kỷ (6 năm) – Vận khí khắc Thiên can, ứng với câu: Bính hợp Tân hóa Thủy và câu Nhất lục cộng tông (Giáp – 1; Kỷ – 6), một sáu cùng họ (với 2, 3, 4, 5).
2)– Từ Canh đến Ất (6 năm) – Vận khí sinh Thiên can, ứng với câu: Mậu hợp Quí hóa Hỏa và câu Nhị Thất đồng đạo (Canh – 7; Ất – 2) , hai bảy cùng (đi một) đường (với 3, 4, 5. 6).
3)– Từ Bính đến Tân (6 năm) – Vận khí hòa Thiên can ứng với câu Ất hợp Canh hóa Kim và câu Tam bát vi bằng (Bính – 3; Tân – 8), ba tám (xếp) vào bằng (với 4, 5, 6, 7).
4)– Từ Nhâm đến Đinh (6 năm) Thiên can dưỡng vận khí ứng với câu Đinh hợp Nhâm hóa Mộc và câu Tứ Cửu vi hữu (Nhâm – 9; Đinh – 4) bốn sáu vào (chơi với) bạn (là 5, 6, 7, 8).
5)– Từ Mậu đến Quí (6 năm) Thiên can khắc vận khí. Ứng với câu Giáp hợp Kỷ hóa Thổ và câu Ngũ thập đồng đồ (Mậu – 5; Quí – 10) năm mười cùng loại (với 6, 7, 8, 9).
Thí dụ: trong giai đoạn 1, tất cả Thiên can từ Giáp đến Kỷ vận khí đều khắc Thiên can. Như: Kim khắc Giáp – Ất (Mộc); Thủy khắc Bính Đinh (Hỏa); Mộc khắc Mậu Kỷ (Thổ). Tức là phù hợp với câu “Nhất lục cộng tông” – nghĩa là: 1 – 6 cùng họ (cùng tính chất với 2, 3, 4, 5). Chứng minh tương tự ở các trường hợp khác đã chú thích trên hình.
Ngược lại trong Lục thập Hoa giáp không thể hiện được điều này.
B)– Trong Lạc thư Hoa giáp nguyên tắc Cách bát sinh tử phù hợp với một chu kỳ liên tục. Với bất cứ sự bắt đầu từ một hành nào trên Lạc thư Hoa giáp, bạn đọc có thể tìm thấy sự tiếp nối sau 8 năm của hành đó. Ngược lại ở Lục thập Hoa giáp, nguyên tắc này chỉ bắt đầu từ hành Thổ – qua 3 giai đoạn cách nhau 8 năm, tức là 24 năm – sinh hành tiếp theo là Kim; qua 3 giai đoạn vận hành của Kim – đáng lẽ sinh Thủy (con do Kim sinh) thì ở Lục thập Hoa giáp lại là Hỏa.
C)– Trong Lạc thư Hoa giáp tất cả các vận khí trong một giai đoạn 6 năm (gồm 3 Hành) đều theo lý tương sinh (lý tương sinh của Hà đồ). Thí dụ: ở giai đoạn 1 – Kim (năm Giáp Ất) sinh Thủy (năm Bính Đinh) Thủy sinh Mộc (năm Mậu Kỷ).
Trong Lục thập Hoa giáp lý tương sinh này không thể hiện được vì mỗi giai đoạn đều có ít nhất một hành Thủy hoặc Hỏa.
D) – Trong Lạc thư Hoa giáp ở cuối từng giai đoạn 6 năm thì hành của năm cuối giai đoạn trước bao giờ cũng khắc hành của năm đầu giai đoạn sau (lý tương khắc của Lạc thư ).
Ngược lại trong Lục thập Hoa giáp qui luật này chỉ có ở giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 và giai đoạn 3 sang giai đoạn 4.
E) – Trong hai đồ hình Lạc thư Hoa giáp và Lục thập Hoa giáp đều thống nhất sự bắt đầu bằng hành Kim. Ở Lục thập Hoa giáp không hề có sự lý giải. Ở Lạc thư Hoa giáp đó là thể hiện sự bắt đầu từ hành Kim của Hà đồ tức là chu kỳ tương khắc thể hiện ở Lạc thư, khi kết thúc ở hành Thổ thì tạo nên chu kỳ vận khí tương sinh thể hiện ở Hà đồ bắt đầu từ hành Kim. Đó cũng là lý tương sinh cho vận khí mỗi giai đoạn trong Lạc thư Hoa giáp.
Việc sửa đổi lại vị trí hai hành Thủy và Hỏa theo đồ hình của Lạc thư Hoa giáp dẫn đến một vấn đề cần giải quyết: đó là tên gọi của hành Thủy và Hỏa trong chu kỳ “Cách bát sinh tử” ở Lục thập Hoa giáp tương quan với Lạc thư Hoa giáp. Tên gọi của hai hành này trong ba giai đoạn của hai kỷ (60 năm) Lục thập Hoa giáp diễn đạt như sau:

Hành Hỏa

Kỷ thứ I – Dương

Kỷ thứ II - Âm

Bính Tý
Đinh Sửu

Giản Hạ Thủy
Nước sương mù

Bính Ngọ
Đinh Mùi

Thiên Hà Thuỷ
Nước trên trời

Giáp Thân
Ất Dậu

Tuyền Trung Thủy
Nước trong suối

Giáp Dần
Ất Mão

Đại Khê Thủy
Nước khe lớn

Nhâm Thìn
Quí Tỵ

Trường lưu thủy
Nước sông dài

Nhâm Tuất
Quí Hợi

Đại Hải Thủy
Nước biển

Hành Thủy

Kỷ thứ I – Dương

Kỷ thứ II - Âm

Bính Dần
Đinh Mão

Lư Trung Hỏa
Lửa trong lư

Bính Thân
Đinh Dậu

Sơn Hạ Hỏa
Lửa dưới núi

Giáp Tuất
Ất Hợi

Sơn Đầu Hỏa
Lửa đầu núi

Giáp Thìn
Ất Tỵ

Phúc Đăng Hỏa
Lửa trong đèn

Mậu Tí
Kỷ sửu

Tích Lịch Hỏa
Lửa sấm sét

Mậu Ngọ
Kỷ Mùi

Thiên Thượng Hỏa
Lửa trời

Trên nguyên tắc nào người xưa đã đặt chu kỳ diễn biến của các hành trong 60 năm như vậy?
Theo cụ Lê Gia – học giả, tác giả của nhiều bộ sách nghiên cứu về ngôn ngữ dân gian Việt Nam – cho biết: đây là nguyên tắc Sinh – Vượng – Mộ tức là chu kỳ phát sinh, phát triển và hủy diệt của sự vật sự việc. Bởi vậy, chúng ta chỉ việc đổi chỗ tên gọi của hành Thủy và Hỏa tương đương theo hai bảng nói trên, nhằm định rõ hiện trạng của hành khí xuất hiện từng năm.
Như vậy, tên gọi từng giai đoạn của hành chia làm hai chu kỳ nằm trong hai kỷ, mỗi chu kỳ ba giai đoạn là phản ánh nguyên tắc trên. Xin được minh họa rõ hơn 3 giai đoạn Sinh – Vượng – Mộ, như của hành Thủy trong Kỷ thứ I:

Giai đoạn 1:
Nước sương mù – Giáng hạ Thủy – Thủy mới sinh.
Giai đoạn 2:
Nước trong suối – Tuyền trung Thủy – Thủy đang vượng.
Giai đoạn 3:
Nước sông dài – Trường lưu Thủy – Thủy bắt đầu suy.

Mỗi giai đoạn cách nhau 8 năm trong Lạc thư Hoa giáp (Cách bát sinh tử) theo lý vận hành tương sinh của Hà đồ, như đã trình bày ở trên. Khi diễn biến qua đủ 3 giai đoạn Sinh – Vượng – Mộ của một hành khí thì hành tiếp theo là do hành trước sinh ra theo lý tương sinh (con của hành trước). Như vậy Lạc thư Hoa giáp đã thể hiện theo đúng qui luật nói trên và là một sự diễn biến liên tục theo sự tuần hoàn của tạo hóa; còn ở Lục thập Hoa giáp không thể hiện điều này.
Từ đó, ta có một bảng nạp âm Ngũ hành – tức vận khí diễn biến từng năm – trong Lạc thư Hoa giáp như sau:

Như vậy, bạn đọc cũng nhận thấy tính hoàn chỉnh về vận khí của Ngũ hành vận động trong Lạc thư Hoa giáp và một sự tương quan hợp lý theo thuyết Âm dương – Ngũ hành. Qua biểu đồ hình vuông của Lạc thư Hoa giáp thể hiện đầy đủ lý sinh khắc của Hành khí từng năm như sau:
– Nếu tính chéo từ trái sang phải và từ dưới lên là sự tương khắc của Hành khí.
– Nếu tính chéo từ trái sang phải và từ trên xuống là chu kỳ Sinh, Vượng, Mộ của từng Hành khí.
– Nếu tính thẳng từ dưới lên và từ trái qua phải, ta sẽ có lý tương sinh của Ngũ hành.
Như vậy, chỉ cần nhìn vào bảng trên bạn đọc sẽ nắm được lý sinh khắc của Hành thể hiện ở vận khí từng năm. Cụ thể như: Dương liễu Mộc khắc Thành đầu Thổ; Trường lưu Thủy khắc Sơn đầu Hỏa; hoặc Trường lưu Thủy dưỡng Tùng Bách Mộc và Dương liễu Mộc v.v…
Tính chính xác của Lạc thư Hoa giáp còn phải được chứng nghiệm trên thực tế ứng dụng còn tồn tại của thuyết Âm dương – Ngũ hành như y lý, lịch số…

Tuy nhiên, sẽ là một sự khiên cưỡng nếu cho rằng sự tương quan hợp lý của nguyên tắc nạp âm Âm dương – Ngũ hành trong Lạc thư Hoa giáp, chỉ là một sự ngẫu nhiên trùng hợp do suy lý chủ quan. Bởi vì, không phải chỉ một, mà là nhiều tiền đề bí ẩn đã tồn tại một cách rời rạc với một thời gian hơn 2000 năm, không thể có một sự suy diễn chủ quan nào lại có thể tạo ra tính hợp lý trên tất cả những cái rời rạc có từ 2000 năm nay; nếu như nó không phải là một thực tế đã tồn tại. Không những vậy Lạc thư Hoa giáp còn chứng tỏ sự trùng khớp và lý giải được những vấn đề liên quan.

Nguyên tắc nạp âm Ngũ hành trong Âm dương lịch là một tiền đề căn bản cho hầu hết những phương pháp ứng dụng của thuyết Âm dương – Ngũ hành. Nhưng nguyên tắc này đã là một bí ẩn trong các cổ thư Trung Hoa, chỉ một hiện tượng đó cũng đủ đặt vấn đề hoài nghi tất cả những tác gia được coi là phát minh ra thuyết Âm dương – Ngũ hành và những phương pháp ứng dụng liên quan. Sự lý giải tính hợp lý trong Lạc thư Hoa giáp chứng minh rằng: Nguyên tắc nạp âm Ngũ hành trong Âm lịch từ trước đến nay đã bị sai lệch. Người ta không thể có sự phát minh hợp lý bắt đầu từ sự vô lý, khi nguyên tắc nạp âm Ngũ hành trong Âm dương lịch là một tiền đề cho những phương pháp ứng dụng của những phát minh đó. Điều này chứng tỏ rằng: tất cả những sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương – Ngũ hành như: y lý, lịch số, thiên văn, dự đoán… thể hiện trong các tác phẩm như: Tử vi đẩu số, Hoàng đế nội kinh, dự đoán… chỉ là sự phát hiện tiếp tục của một nền văn minh đã mất.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Chương IV: Căn nguyên của Bát quái. Hệ từ viết: “Thị cố Dịch hữu Thái cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng”.Dịch hữu thái cực – Thị ...

Thuyết quái và thuộc tính Ngũ hành của quái vị Hậu thiên bát quái nguyên thủy. Trong văn hóa dân gian Việt nam còn lưu truyền một câu ca dao nổi tiếng mà hầu ...

Chương III: Sự lý giải thuộc tính ngũ hành của quái vị từ văn minh Văn Lang. Hà đồ và cấu hình Hậu thiên bát quái. Trong cổ thư chữ Hán đã ghi nhận vua ...

Sự tương quan cấu hình Hậu thiên bát quái và thứ tự 64 quẻ thuộc hệ thống hệu thiên. Lời mở đầu của phần III đã chứng tỏ với bạn đọc tính suy ...

Chương II: Truyền thuyết bà Nử Oa và trời và phương vị Hậu thiên bát quái. Nội dung truyền thuyết và những vấn đề liên quan đến phương vị hậu thiên bát ...

Chương I: Văn minh Văn Lang với Lạc thư Hà đồ. Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên và Lạc thư Hà đồSự bí ẩn của Lạc thư Hà đồ – qua hàng ngàn năm – đã ...

Phần III: Văn minh Văn Lang và bí ẩn của bát quái. Thằng Bờm: Thằng Bờm có cái quạt mo/ Phú ông xin đổi ba bò chín trâu/ Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu/ Phú ...

Lời kết: Một điều kỳ lạ là trong khi kinh Dịch và những vấn đề liên quan qua cổ thư chữ Hán – được các học giả trên thế giới quan tâm đến – có ...

“Kinh Dịch Phục Hy” Sự phủ nhận hệ thống Hậu thiên. Chính từ mâu thuẫn này đã làm nẩy sinh một hiện tượng trong lịch sử nghiên cứu kinh Dịch, đó là ...

Chương IV: Mâu thuẫn trong trình tự thời gian hình thành nội dung kinh Dịch. Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ rằng: kinh ...