Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần III - 6

Ngày đăng: Thứ sáu 20/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Thái cực – sự khởi nguyên của vũ trụ – cho đến nay vẫn là một khái niệm khó hiểu; mọi sự lý giải của các nhà Lý học sau Hán cho đến trước Tống đều không thỏa đáng. Chỉ đến cuối Tống mới có sự lý giải của ông Chu Hy được coi là tạm ổn và lưu truyền đến nay. Nhưng ngay cả sự lý giải của ông Chu Hy cũng chứa đựng những mâu thuẫn và sai lầm, như đã trình bày ở trên. Nhưng một sự lý giải hợp lý nhất cho xuất xứ nguyên thủy của vũ trụ theo thuyết Âm dương Ngũ hành, lại thuộc về văn minh Lạc Việt.
Trong dân gian Việt Nam, hiện còn lưu truyền một câu tục ngữ rất bí ẩn: “Mẹ tròn, con vuông”. Mỗi khi các bà mẹ Việt Nam vào thời kỳ sinh nở lại được chúc lành bằng câu tục ngữ trên. Cứ như thế câu tục ngữ đã đi qua bao thế hệ của giống nòi Lạc Việt, cho đến tận bây giờ. Đã có nhiều nhà nghiên cứu xác định hình tượng vuông tròn là biểu tượng của Âm - Dương. Nhưng vấn đề lại chỉ dừng ở đấy, nên chưa giải mã được nội dung của nó một cách rốt ráo. Thực ra đây là một mật ngữ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giải mã sự khởi nguyên của Vũ trụ – theo quan điểm Vũ trụ quan của thuyết Âm dương Ngũ hành. So sánh ý nghĩa mà nội dung của câu tục ngữ Việt Nam chuyển tải – với mọi sự lý giải của các nhà nghiên cứu lý học cổ kim trong suốt hai thiên niên kỷ về ý nghĩa của Thái cực và Âm - Dương, thì đây chính là nội dung sự vận động khởi nguyên của Vũ trụ theo quan niệm Vũ trụ quan của thuyết Âm dương Ngũ hành. Nguyên nhân sự bế tắc của các nhà nghiên cứu lý học trong việc lý giải sự vận động khởi nguyên vũ tru, chính là sự phân biệt Thái cực và Âm - Dương. Ngược lại, trong nội dung câu tục ngữ Việt Nam thì từ ý niệm Thái cực đến Âm dương có một sự liên hệ chuyển tiếp như sau:
Thái cực là ý niệm diễn đạt sự khởi nguyên của vũ trụ; không phải là sự tổng hợp của những cái cực nhỏ, cũng không phải là sự tồn tại của một cái cực lớn. Ý nghĩa trực tiếp của danh từ này là: Cực = sự giới hạn; Thái = vượt ra ngoài sự giới hạn. Thái cực là dạng tồn tại khởi nguyên của vũ trụ, do không phải gồm những cái cực nhỏ và cũng không phải là một cái cực lớn, nên trong đó không có cái CÓ để phân biệt với cái KHÔNG. Vì không có sự phân biệt và giới hạn nên Thái cực chí tịnh, thuần khiết, tràn đầy viên mãn. Tượng của Thái cực là hình tròn, biểu tượng của sự viên mãn; tương ứng với hình tượng “Mẹ tròn” trong tục ngữ của người Lạc Việt. Vì chí tịnh nên Động; Tịnh và Động trong sự khởi nguyên của Vũ trụ đã tạo ra tính phân biệt, tức Âm - Dương. Thái cực chí tịnh trở thành Dương khi phân biệt với sự Động – Âm xuất hiện. Âm do phân biệt với Dương nên có tính tụ đục giới hạn. Tượng của Âm hình vuông. Vì Âm được sinh ra từ sự chí tịnh của Thái cực, tạo nên sự phân biệt Âm - Dương. Bởi vậy, câu tục ngữ Việt Nam dùng hình tượng “Mẹ tròn” – (sinh) – “Con vuông” nhằm giải
thích sự vận động từ khởi nguyên của vũ trụ. Khác hẳn với tất cả sự giải thích của các nhà lý học Hán Nho trải qua hơn hai thiên niên kỷ. Đồng thời chính ý nghĩa của sự giải thích trên đã cho thấy quan niệm của các nhà lý học Hán Nho cho rằng: “Dương động – Âm tịnh” là một sai lầm ngay từ căn nguyên, còn tồn tại cho đến tận bây giờ. Sai lầm này là hệ quả trực tiếp của sự phân biệt Thái cực và Âm dương. Đó chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu, góp phần đáng kể trong việc tạo nên những mâu thuẫn không thể lý giải ngay từ những nguyên lý căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành. Nếu Âm tịnh thì không thể có một cái nhìn tổng quát trong thực tế vận động của mọi hiện tượng liên quan đến mọi vấn đề thuộc phạm trù của thuyết Âm dương Ngũ hành.
Tính hợp lý của câu tục ngữ Việt Nam – trong việc lý giải sự khởi nguyên vũ trụ được đề cập đến trong Kinh văn của kinh Dịch là: “Thái cực sinh Lưỡng Nghi” – đã cho thấy nguồn gốc Lạc Việt của thuyết Âm dương Ngũ hành ngay từ sự khởi nguyên của nó. Trong trường hợp này, không thể coi câu tục ngữ Việt Nam trong sự liên hệ với việc giải mã sự khởi nguyên vũ trụ trong thuyết Âm dương Ngũ hành là một sự liên hệ ngẫu nhiên, thông qua chủ quan của tác giả. Bởi vì, chính cấu trúc trong hình thức và nội dung của câu tục ngữ này đã chứng tỏ tính mật ngữ của nó.
Mọi vấn đề liên quan giữa kinh Dịch – qua phần Kinh văn với Hệ từ là “Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái” – và thuyết Âm dương Ngũ hành như một chỉnh thể thống nhất và hoàn chỉnh, đã phủ nhận toàn bộ những quan niệm cho rằng khởi nguyên thuyết Âm dương – Ngũ hành là hai học thuyết phân biệt, sẽ được tiếp tục liên hệ chứng minh ở phần sau đây.

Bánh Chưng – Bánh Dầy và thuyết Âm dương Ngũ hành

Theo các nhà nghiên cứu thì thuyết Âm dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt, được hoàn chỉnh vào khoảng thời Hán. Như vậy, về nội dung thì thuyết Âm dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh (ít nhất là sau Hán).Vấn đề là lịch sử khởi nguyên của nó. Tất cả mọi sự tranh luận, mâu thuẫn kéo dài trên 2000 năm, suy cho cùng bắt đầu từ sự khởi nguyên này. Nhưng mọi truyện sẽ sáng tỏ, trùng khớp hợp lý trong sự tương quan của những vấn đề liên quan đến thuyết Âm dương Ngũ hành, khi học thuyết này trở về với cội nguồn của nó là nền văn minh Văn Lang. Để chứng minh điều này, chúng ta bắt đầu từ một truyền thuyết nổi tiếng của nền văn minh Lạc Việt, đó là truyền thuyết “Bánh chưng, bánh dầy”.
Truyền thuyết “Bánh chưng bánh dầy” được thuật lại dưới đây được chép lại trong sách Lĩnh Nam chích quái (Nxb Văn Học Hà Nội – 1990 – tác giả Vũ Quỳnh & Kiều Phú. Do Nguyễn Ngọc San biên khảo giới thiệu. Giáo sư Đinh Gia Khánh chủ biên):

Truyện Bánh chưng:

Sau khi vua Hùng Vương phá được giặc Ân, nhân quốc gia vô sự, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi vị quan Lang và công tử mà phán rằng: “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì sẽ được ta truyền ngôi”.
Thế là các con đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp trên cạn dưới bể, nhiều không sao kể xiết. Duy chỉ có vị công tử (1) thứ 18 là Tiết Liêu (2), bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, mắc bệnh mà chết, tả hữu ít người giúp đỡ, khó xoay xở, nên đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm kia, mộng thấy có thần nhân tới nói rằng: “Các vật trên trời đất và mọi của quí của người, không gì bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khoẻ mạnh mà ăn không bao giờ chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình đất và trời, rồi dùng lá bọc ngoài ở trong cho mỹ vị để ngụ ý cống đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”. Tiết Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ mà nói rằng: “Thần nhân giúp ta vậy!”
Nói rồi bèn theo lời trong mộng mà làm, chọn thứ gạo nếp trắng tinh, lặt lấy những hạt tròn mẩy không bị vỡ, vo cho thật sạch, lấy lá xanh bọc xung quanh thành hình vuông, cho trân cam mỹ vị vào bên trong để tượng trưng cho việc đại địa chứa chất vạn vật rồi nấu chín gọi là bánh chưng. Lại lấy gạo nếp nấu chín, giã cho nát, nặn thành hình tròn, tượng trưng cho trời gọi là bánh dầy.
Đến kỳ, vua vui vẻ truyền các con bày vật dâng tiến. Xem qua khắp lượt, thấy không thiếu thức gì. Duy có Tiết Liêu chỉ tiến bánh chưng và bánh dầy. Vua kinh ngạc mà hỏi, Tiết Liêu đem giấc mộng thuật lại. Vua đem nếm, thấy ngon miệng không chán, hơn hẳn các thức ăn của các con khác, tấm tắc khen hồi lâu rồi cho Tiết Liêu được nhất.
Đến ngày Tết, vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước, nhân tên Tiết Liêu mà gọi là Tiết Liệu (3). Vua bèn truyền ngôi cho Tiết Liêu, anh em 21 người đều được chia giữ các nơi phiên trấn, tụ tập bộ đảng thành thiên quốc. Về sau, các tướng tranh giành nhau, thường dựng mộc sách (hàng rào bằng gỗ để phòng ngự; cho nên, từ đó mới có sách, thôn, trang, phường (4).

-------------------------------------------------------

Chú thích: (1) Bản A. 1752 chép: Truyện bánh Chưng bánh Dày.
(2) Các bản khác chỉ chép “22 vị quan Lang, không có công tử”
(3) Tiết liệu có nghĩa là các thức ăn vật liệu trong ngày Tết nhất.
(4) Về đoạn cuối, bản A. 1752 chép: “Vua truyền ngôi cho Liêu mà không truyền ngôi cho con trưởng. 21 người con khác đều đi tứ phương, dựa vào hùng phiên mà thành lập bộ đảng, chọn nơi thạch tuyền làm nơi hiểm cố, đời đời ở đó. Đồng bộc, nô tỳ cày bằng lửa trồng bằng dao… Cho tới hậu thế, tranh giành lẫn nhau, phải lập mộc sách để trấn giữ, cho nên có sách, trang, phường, từ đó, dần dần thành tục lệ”.
Sách là danh từ chỉ đơn vị hành chính ở miền núi, tượng tự như xã ở miền xuôi.

Qua truyền thuyết được chép lại trong Lĩnh Nam Chích Quái, so với thực tế cấu tạo của bánh chưng bánh dầy được lưu truyền trong dân gian và những dị bản khác liên quan đến truyền thuyết này (đã in thành sách hoặc còn truyền miệng trong dân gian), thì: sách Lĩnh Nam Chích Quái chép về truyền thuyết này còn thiếu một số chi tiết sau đây:

Lang Liêu cùng người nhà đã đi săn một con lợn rừng, lấy thịt và đậu xanh làm nhân bánh, gạo nếp bao xung quanh, dùng lá dong gói thành hình vuông.

Truyền thuyết còn kể rằng: khi trình bày với nhà vua về ý nghĩa của bánh chưng và bánh Dày, Lang Liêu nói (có sách chép là chính vua Hùng nói):

– Bánh hình tròn là tượng trời, đặt tên là bánh Dày. Bánh hình vuông là tượng đất, các thứ thịt mỡ, đậu xanh và lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ muôn loài đặt tên là bánh chưng. Lá gói ngoài, mỹ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau.

Trên thực tế, chiếc bánh chưng hiện lưu truyền trong dân gian có cấu tạo như sau: Nhân giữa bánh là thịt heo, bọc ngoài là đậu xanh, ngoài đậu xanh là gạo nếp, bên ngoài cùng là lá dong, khi luộc bánh ta có màu xanh trên mặt nếp của bánh. Điều đáng lưu ý ở đây là cách buộc chiếc bánh chưng – Lễ: đúng ra phải dùng 4 chiếc lạt màu điều hoặc màu đỏ, buộc thành hai đường song song cho mỗi chiều tạo thành chín hình vuông trên mặt bánh. Màu đỏ này là hình tượng của Mộc sinh Hỏa.
Về ý nghĩa nội dung chiếc bánh chưng, bánh dầy đã được trình bày với bạn đọc trong cuốn Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại. Trong sách này, xin được tóm lược và liên hệ với câu tục ngữ “Mẹ tròn, con vuông” như sau:
Qua sự phân tích ở trên, chúng ta đã thấy sự liên hệ giữa hai hình tượng VUÔNG – TRÒN trong câu tục ngữ: “Mẹ tròn, con vuông” với sự lặp lại hình tượng này ở bánh chưng, bánh dầy.
Bánh dầy: hình tròn thể hiện sự viên mãn; mầu trắng, không vị biểu tượng cho sự thuần khiết; tính dẻo thể hiện cho sự thông biến. bánh dầy biểu tượng của Dương và là Thái cực.
Bánh chưng: hình vuông, biểu tượng của Âm. Những vật liệu cấu tạo nên chiếc bánh chưng hoàn toàn mang tính biểu tượng cho lý tương sinh của Ngũ hành: Thịt lợn (heo) sắc hồng thuộc Hỏa, sinh Thổ – sắc vàng của đậu xanh, sinh Kim – sắc trắng của gạo nếp, sinh Thủy – màu xanh của diệp lục tố trong lá dong tạo nên trên mặt bánh khi luộc (dùng nước – Thủy). Sinh Mộc – lá dong bọc bên ngoài bánh. Nếu tiếp tục theo lý tương sinh sẽ giải thích lạt buộc màu đỏ, hoặc điều: Mộc – lá dong, sinh Hỏa – sắc đỏ. Cách buộc lạt của bánh chưng cho thấy một biểu tượng của Cửu cung Hà đồ.
Qua biểu tượng Ngũ hành nằm trong bánh chưng thuộc Âm, đã chứng minh cho Âm động, Dương tịnh. Nếu Âm tịnh thì không thể nói đến sự vận động của Ngũ hành ngay từ sự khởi nguyên của vũ trụ.
Bánh chưng, bánh dầy là một di sản văn hóa của người Lạc Việt. Trải qua hơn 2000 năm, chiếc bánh chưng, bánh dầy đã mất ý nghĩa nguyên thủy của nó. Nhưng từ trong tâm linh sâu thẳm của người Lạc Việt, vẫn hướng về nguồn cội và giữ gìn một biểu tượng văn hóa thiêng liêng của dân tộc với bao thăng trầm của lịch sử. Hàng ngàn năm đã trôi qua – kể từ khi Đại Việt hưng quốc – cùng với những di sản văn hóa truyền thống, chiếc bánh chưng, bánh dầy đã đưa cháu con tìm về nguồn cội của đất nước đã có gần 5000 văn hiến. Âm dương hài hòa, Ngũ hành tương sinh là ước mơ của con người cho một cuộc sống thái bình, phú túc được gửi gấm trong biểu tượng bánh chưng, bánh dầy dâng hiến lên anh linh của tổ tiên trong ngày Tết, cầu mong một năm mới tốt lành.
Chính hình ảnh thiêng liêng, huyền vĩ của bánh chưng, bánh dầy – đã cho chúng ta thấy cả một nguyên lý của một học thuyết vũ trụ quan cổ đại – giải thích từ sự vận động khởi nguyên của vũ trụ cho đến mọi hành vi của mỗi con người trong xã hội. Đây cũng là mơ ước của các nhà khoa học hiện đại, đang muốn có một siêu lý thuyết như thuyết Âm dương Ngũ hành mà tổ tiên người Việt đã tạo dựng từ gần 5000 năm về trước.


Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Lời kết: Một điều kỳ lạ là trong khi kinh Dịch và những vấn đề liên quan qua cổ thư chữ Hán – được các học giả trên thế giới quan tâm đến – có ...

“Kinh Dịch Phục Hy” Sự phủ nhận hệ thống Hậu thiên. Chính từ mâu thuẫn này đã làm nẩy sinh một hiện tượng trong lịch sử nghiên cứu kinh Dịch, đó là ...

Chương IV: Mâu thuẫn trong trình tự thời gian hình thành nội dung kinh Dịch. Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ rằng: kinh ...

Mâu thuẫn trong việc tìm hiểu mục đích ra đời của kinh Dịch. Chính vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản cho nên ngay cả mục đích ra đời của ...

Chương III: Khoảng trống lý thuyết và sự ứng dụng của kinh dịch. Kể từ thời Hán, bắt đầu từ Hán Vũ Đế (156 – 87 tr.CN) làm theo đối sách của Đổng ...

Chương II:Hoàng đế nội kinh tố vấn. Hà đồ và những vấn đề liên quan: Tính bát hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấnNhư ...

Mâu thuẫn giữa những nhận định liên quan với cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái. Như đã trình bày với bạn đọc ở phần trên – theo lịch sử chính ...

Hà đồ và cấu hình tiên thiên bát quái. Như Phần I đã trình bày với bạn đọc, theo lịch sử kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán ghi lại, Hà đồ là đồ hình đầu ...

Chương I: Mâu thuẫn trong sự tương quan những tiền đề trong kinh dịch. Trong Hệ từ thượng, tiết thứ 5 viết “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc ...

Phần II: Những mâu thuẫn trong kinh dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Đèn cù: Khen ai khéo xếp nên cái đèn cù/ Đèn cù, đèn cù là đèn cù/ ...