Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần III - 5

Ngày đăng: Thứ sáu 20/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Câu ca dao này đã được lưu truyền với một cách hiểu đầy tính nhân bản là tình đoàn kết tạo nên sức mạnh của con người. Chắc chắn nội dung nhân bản ấy sẽ còn tiếp tục là một giá trị đạo lý tồn tại vĩnh hằng trong nền văn minh Lạc Việt. Nhưng nội dung của câu ca dao này không chỉ dừng lại ở đấy, mà nó còn là một mật ngữ hướng dẫn cho việc đi tìm đặc tính căn bản của Bát quái – vốn là một bí ẩn của văn hóa Đông phương. Cùng tồn tại với nội dung phổ biến là biểu dương tính đoàn kết của câu ca dao trên, trong văn hóa dân gian Việt Nam còn lưu truyền một câu tục ngữ đầy ấn tượng là: “Đũa bó khó bẻ”. So với câu ca dao thì câu tục ngữ thể hiện sát nghĩa và cụ thể hơn về tính đoàn kết trong quan hệ xã hội. Hình tượng “Cây” và “Núi“ trong câu ca dao không có sự liên hệ thuộc tính bản chất – trên thực tế nhận thức tự nhiên hiện tại. Nhưng tính độc đáo của hình tượng trong câu ca dao dân dã của người Lạc Việt, lại là sự liên hệ đến một vấn đề căn bản của kinh Dịch: Trong Thuyết quái, đó là những hiện tượng thuộc phạm trù của quái Cấn: “Cấn vi sơn… Kỳ ư mộc dã vi kiên đa tiết”. Trong sự kết hợp giữa Hà đồ và Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, bạn đọc sẽ nhận thấy ngay điều này: Vị trí quái Cấn nằm ở Âm Mộc, bên cạnh quái Chấn – Dương Mộc, độ số 3 – tức “3 cây”; “nên” – tức lên phía trên – là quái Cấn tức “núi” (sơn).
Như vậy, câu ca dao này xác định quái Cấn có đặc tính Ngũ hành là Âm Mộc; “Núi” chỉ là một hiện tượng thuộc phạm trù của quái Cấn. Từ đặc tính Ngũ hành của quái Cấn được giải mã trùng khớp với sự kết hợp giữa Hà đồ và Hậu thiên Bát quái nguyên thủy – trong việc chứng tỏ đặc tính Ngũ hành – sẽ đặt ra một loạt những vấn đề liên quan phải lý giải. Đó là những hiện tượng thuộc tính của Bát quái được mô tả trong Thuyết quái.

Đồ hình thuyết minh
đặc tính căn bản của quái cấn

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Thuyết quái là một bộ phận quan trọng trong Kinh văn của kinh Dịch thuộc phần Thập dực, vốn được coi là của Khổng tử hoặc các môn đệ, hoặc người đời sau ông sáng tác v.v… Trong Thuyết quái có đoạn nói về những hiện tượng thuộc tính của Bát quái, (nhưng chưa hề trực tiếp lý giải, hoặc trình bày Ngũ hành như là một đặc tính căn bản của Bát quái – đã trích dẫn và trình bày ở phần trên); trong đó có một số hiện tượng thuộc sự ứng dụng mang tính phổ biến và được coi như là một tiên đề không có sự lý giải. Đó là: trong môn địa lý cổ Đông phương, quái Cấn có một vị trí quan trọng; vì nó đặc trưng cho nữ mạng ở trung cung (Trung cung thuộc Thổ – nam mạng dùng quái Khôn – thuộc Thổ) để tính phương vị trong việc làm nhà cửa, để mồ mả v.v… Để bạn đọc tiện so sánh, đối chiếu những vấn đề liên quan trong sự phân tích dưới đây, xin được trích lại hai đoạn trong Thuyết quái – Tiết 11 như sau:

Hiện tượng thuộc tính của quái Cấn:

Cấn vi sơn, vi kinh lộ, vi tiểu thạch, vi môn quan,vi quả qua, vi hôn tự, vi chỉ, vi cẩu, vi thử, vi kiềm uế chi thuộc, Kỳ ư mộc dã vi kiên đa tiết.
Cấn là núi, là đường tắt, là hòn đá nhỏ, là cửa khuyết, là trái cây và hạt, là hoạn quan, là người gác cửa, là ngón tay. Là con chó, con chuột và loài chim mỏ đen. Là loại cây cứng có u bướu.
Hiện tượng thuộc tính của quái Tốn:
Tốn vi mộc, vi phong, vi trưởng nữ, vi thằng trực, vi công,vi bạch, vi trường, vi cao, vi tiến thoái, vi bất quả, vi xú. Kỳ ư nhân dã ư quả phát, vi quảng tang, vi đa bạch nhãn, vi cận lợi thị tam bội, kỳ cúu vi tao quái.
Tốn là cây, là gió, là con gái trưởng, là chỉ đạo, là công việc, là màu trắng, là dài, là cao, là tới lui, là không giải quyết, là mùi hôi, là người có ít tóc, trán rộng, mắt có nhiều tròng trắng, là người thu lợi gấp ba lần ở thị trường; sau cùng là dấu hiệu của hăng hái.

Như vậy, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Cấn là núi, là kinh lộ; là loại cây có u bướu… chỉ là những hiện tượng thuộc phạm trù của Cấn; cũng như Tốn là cây, là gió… cũng chỉ là những hiện tượng thuộc phạm trù của Tốn; tương tự như vậy với Càn là trời, là kim loại... Không thể coi những hiện tượng như là đặc tính căn bản; cũng như:
Đất làm tượng, làm gạch, làm chén, làm bát, làm đồ sành sứ… Tượng, gạch, chén, bát, đồ sành sứ… không phải là đặc tính căn bản của đất, mà chỉ là những hiện tượng thuộc phạm trù của đất.
Nếu chúng ta tạm gọi chỉ một nửa cái tên của học thuyết vũ trụ quan Đông phương – như nó thể hiện trong kinh Dịch – là thuyết Âm dương; thì – ngay cả trường hợp nó chỉ còn một nửa – chúng ta vẫn phải so sánh một thực tế ứng dụng bao trùm của Bát quái với tính đơn giản của chuỗi phát triển tư tưởng vũ trụ quan Âm dương trong cổ thư chữ Hán là:
Thái cực sinh Lưỡng nghi – Lưỡng nghi sinh Tứ tượng – Tứ tượng sinh Bát quái – Thuộc tính của Bát quái: Cấn là núi, là đường tắt, là cây lớn có mấu…
Nếu chúng ta chấp nhận tính đơn giản này thì không thể nào lý giải được những sự ứng dụng bao trùm của Bát quái trong các lĩnh vực khác, như: đông y, địa lý v.v… ; thậm chí đến từng hành vi của một con người trong xã hội trong dự đoán học. Trong khi đó, trên thực tế: từ sự khởi nguyên của vũ trụ (theo bất cứ một quan niệm vũ trụ quan nào đã hình thành trong lịch sử văn minh nhân loại) cho đến khi hình thành núi, cây có mấu… trên địa cầu là một khoảng cách vượt ngoài trí thức hiện đại. (Bởi vậy, Thuyết quái bị nhiều người cho là “mê tín dị đoan”).
Như vậy, giữa thực tế ứng dụng và thực tế vận động của vũ trụ với một quan niệm quá đơn giản về một học thuyết vũ trụ quan – như cổ thư chữ Hán và những nhà nghiên cứu Lý học sau đó ghi nhận – đã chứng tỏ sự tồn tại của học thuyết Âm dương Ngũ hành và tất cả những vấn đề liên quan đến nó theo cách hiểu từ trước đến nay, chỉ là sự phát hiện rời rạc những thành tựu của một nền văn minh vĩ đại bị tàn phá. Qua sự chứng minh ở trên, bạn đọc cũng thấy rằng: Việc các nhà Lý học căn cứ vào Thuyết quái nói “Cấn là núi” và suy luận quái Cấn thuộc Thổ (vì nằm ở Trung cung – thuộc Thổ; cũng không có sự lý
giải, mà được coi như là một tiên đề) chỉ căn cứ trên thực tế ứng dụng – mà cụ thể trong khoa địa lý cổ Đông phương (*).

* Chú thích: Đồ hình cửu cung trong đó quái Cấn được đặt ở trung cung, đã được giáo sư Lê Văn Sửu ứng dụng trong sự chứng minh việc điều chỉnh quái vị theo luận điểm của ông (đã trích dẫn ở phần I).

Hiện tượng quái Cấn ở trung cung, chỉ có khả năng lý giải trên cơ sở coi thuyết Âm dương Ngũ hành là một học thuyết vũ trụ quan thống nhất và hoàn chỉnh, Bát quái là những ký hiệu thể hiện nội dung của học thuyết đó (vấn đề này sẽ được minh chứng ngay trong phần sau). Việc coi quái Cấn thuộc hành Thổ là một sai lầm ngay từ những vấn đề căn bản của kinh Dịch.
Những thuộc tính của quái vị được đề cập đến trong Thuyết quái, chỉ là hệ quả của sự hình thành sau một quá trình phát triển của những sự vận động, tương tác giữa những yếu tố căn bản cấu thành vũ trụ; không thể coi những thuộc tính của quái vị trong Thuyết quái như những đặc tính bản căn, khi sự tương tác của Ngũ hành được coi là sự vận động căn nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm dương Ngũ hành.
Đặc tính căn bản của quái vị chính là Ngũ hành đã được thể hiện trong sự tương quan hợp lý giữa Hà đồ và Hậu thiên Bát quái nguyên thủy. Từ sự kết hợp này cho chúng ta những đặc tính căn bản của Bát quái như sau:

CÀN – Âm Thủy, hướng Tây Bắc, độ số 6.
KHẢM – Dương Thủy, hướng chính Bắc, độ số 1.
CẤN – Âm Mộc, hướng Đông Bắc, độ số 8.
CHẤN – Dương Mộc, hướng chính Đông, độ số 3.
KHÔN – Âm Hỏa, hướng Đông Nam, độ số 2.
LY – Dương Hỏa, hướng chính Nam, độ số 7.
TỐN – Âm Kim, hướng Tây Nam, độ số 4.
ĐOÀI – Dương Kim, hướng chính Tây, độ số 9.

Trong quá trình vận động của vũ trụ, khởi nguyên từ sự tương tác của Ngũ hành (theo vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành) dẫn đến một hình thức tồn tại của vũ trụ như hiện nay, trong đó ngay địa cầu cũng chỉ là một hiện tượng trong sự vận động của vũ trụ. Nội dung của quái vị mà Thuyết quái nói đến, chỉ là những hiện tượng tồn tại trên địa cầu và quan hệ xã hội của con người; tức là xuất hiện rất lâu sau sự hình thành vũ trụ, (nếu coi thuyết Âm dương Ngũ hành là một học thuyết vũ trụ quan). Do đó, đặc tính căn bản của quái vị chỉ có thể là Ngũ hành – trên cơ sở kết hợp Hà đồ với Hậu thiên Bát quái nguyên thủy – chính là sự lý giải hợp lý giữa các vấn đề liên quan. Trong phần phụ chương: “Dấu ấn Hà đồ trong cổ thư chữ Hán trước Tần” đã chứng tỏ với bạn đọc: Hà đồ chính là sự ứng dụng trên mọi lãnh vực liên quan đến trái đất và cuộc sống của con người như: Thời tiết, lịch số (Lễ ký, Lã thị Xuân thu); y học (Hoàng đế nội kinh). Bởi vậy, sự kết hợp Hà đồ và Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, chính là sự hợp lý không phải chỉ với sự liên hệ tương quan về nội dung, mà còn là sự hợp lý đến tất cả những vấn đề liên quan đến nó. Sự kết hợp này cũng là một bằng chứng sắc sảo cho sự giải mã tranh Ngũ hổ thuộc dòng tranh Hàng Trống – gắn liền với Lạc thư Hà đồ – chính là căn bản của sự vận động của vũ trụ theo thuyết Âm dương Ngũ hành.
Như vậy, từ những mật ngữ tồn tại trong văn hóa dân gian Việt Nam, đã và sẽ hướng dẫn cho chúng ta khám phá những bí ẩn lớn nhất trong văn minh cổ Đông phương. Những mật ngữ này sẽ tạo ra khả năng phục hồi lại những giá trị căn bản của một học thuyết vũ trụ quan cổ, thể hiện ở sự tương quan hợp lý trong cấu trúc nội dung của nó. Trong trường hợp cụ thể này, là sự chứng minh đặc tính Ngũ hành của Bát quái – vốn là một trong những bí ẩn đã tồn tại hơn 2000 năm nay trong lịch sử văn hóa Đông phương. Vấn đề này còn được liên hệ tiếp tục minh chứng ở phần tiếp theo.



Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Lời kết: Một điều kỳ lạ là trong khi kinh Dịch và những vấn đề liên quan qua cổ thư chữ Hán – được các học giả trên thế giới quan tâm đến – có ...

“Kinh Dịch Phục Hy” Sự phủ nhận hệ thống Hậu thiên. Chính từ mâu thuẫn này đã làm nẩy sinh một hiện tượng trong lịch sử nghiên cứu kinh Dịch, đó là ...

Chương IV: Mâu thuẫn trong trình tự thời gian hình thành nội dung kinh Dịch. Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ rằng: kinh ...

Mâu thuẫn trong việc tìm hiểu mục đích ra đời của kinh Dịch. Chính vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản cho nên ngay cả mục đích ra đời của ...

Chương III: Khoảng trống lý thuyết và sự ứng dụng của kinh dịch. Kể từ thời Hán, bắt đầu từ Hán Vũ Đế (156 – 87 tr.CN) làm theo đối sách của Đổng ...

Chương II:Hoàng đế nội kinh tố vấn. Hà đồ và những vấn đề liên quan: Tính bát hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấnNhư ...

Mâu thuẫn giữa những nhận định liên quan với cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái. Như đã trình bày với bạn đọc ở phần trên – theo lịch sử chính ...

Hà đồ và cấu hình tiên thiên bát quái. Như Phần I đã trình bày với bạn đọc, theo lịch sử kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán ghi lại, Hà đồ là đồ hình đầu ...

Chương I: Mâu thuẫn trong sự tương quan những tiền đề trong kinh dịch. Trong Hệ từ thượng, tiết thứ 5 viết “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc ...

Phần II: Những mâu thuẫn trong kinh dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Đèn cù: Khen ai khéo xếp nên cái đèn cù/ Đèn cù, đèn cù là đèn cù/ ...