Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần III - 4

Ngày đăng: Thứ sáu 20/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Nhưng, như phần II đã chứng minh tính mâu thuẫn không thể khắc phục của tiền đề này. Từ sự mâu thuẫn của những tiền đề căn bản nói trên, đã dẫn tới hàng loạt những mâu thuẫn không thể lý giải trong các vấn đề liên quan. Thậm chí ngay cả những nhà nghiên cứu Dịch học nổi tiếng như Thiệu Vĩ Hoa cũng cho rằng: Hà đồ Lạc thư không liên quan gì đến Bát quái. Đây cũng là nhận định ban đầu của người viết khi mới tìm hiểu kinh Dịch và thể hiện trong cuốn sách đã xuất bản Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại (Nxb VHTT 2002). Tuy nhiên, vấn đề trở nên khác hẳn và hoàn toàn sáng tỏ khi được hướng dẫn bởi những mật ngữ còn được lưu truyền trong văn hóa dân gian Việt Nam.

Những người tương đối lớn tuổi, vào hàng “quá niên trạc ngoại tứ tuần” đã sống thời thơ ấu ở miền Bắc Việt Nam, chắc hẳn chưa quên bài đồng dao thường dùng để thay thế cho “Oẳn – tù tì” là:

Chi chi chành chành,
Cái đanh thổi lửa,
Con ngựa chết trương, (*)
Ba Vương, ngũ Đế.
Bắt dế đi tìm,
Ù à ù ập.

* Chú thích:Trong chương trình Văn nghệ Thiếu nhi ngày 6- 12 1999 của đài VTV 3 đã thể hiện bài đồng dao trên; trong đó câu “con ngựa chết trương” được đọc là “ con ngựa bất cương“. Người viết coi đây là một trường hợp dị bản do hiểu sai. Sự hiểu sai này rất khiên cưỡng đến mức vô lý. Nhưng vì tính phổ cập của một phương tiện thông tin đại chúng, xin trình bày để bạn đọc tham khảo.

Một đứa trẻ trong nhóm làm cái, xòe một bàn tay ra và đọc bài đồng dao này. Chung quanh thằng làm cái, một bọn trẻ con xúm xít, mỗi đứa để ngón tay trỏ vào lòng bàn tay của nó xòe ra. Khi đọc đến câu cuối cùng, thằng bé làm cái cất tiếng ù ù … kéo dài. Rồi bất thình lình nó nắm bàn tay lại, với một tiếng “Ập!” cất lên. Lúc đó đứa trẻ nào không nhanh tay rút ra, sẽ phải làm một việc gì đó trong một trò chơi mà chúng đã thỏa thuận trước: phải bịt mắt trong trò “Trốn tìm”; hoặc làm thầy thuốc trong trò “Rồng rắn lên mây”…
Bài đồng dao tưởng như vô nghĩa của trẻ em Lạc Việt này, tại sao lại mang một dấu ấn lịch sử : “Ba Vương, ngũ Đế” – tức là ám chỉ thời Tam Hoàng – Ngũ Đế theo cổ thư chữ Hán? Người viết mạn phép giải mã như sau:
Bài đồng dao có 6 câu tương ứng với 6 hào của quẻ Dịch. Một quẻ Dịch lại gồm 2 quái, mỗi quái 3 hào.
Vì vậy, nếu giải mã từ dưới lên theo thứ tự các hào khi đoán quẻ và chia làm 2 phần, ta sẽ được một ý nghĩa như sau:
A- 1) Ù à ù ập = giống như câu: Ú a ú ớ thể hiện sự bế tắc khi không trả lời được một vấn đề gì đó.
2) Bắt Dế (hay Dê) đi tìm = Không thể tìm thấy một cái gì đó.
3) Ba Vương, ngũ Đế = 3 x 5= 15 là tổng độ số của Lạc thư khi cộng theo chiều ngang, dọc, chéo.
B- 4) Con ngựa chết trương = Con ngựa: NGỌ, tương ứng với LY – Hỏa; chết trương: sự khẳng định chết trong nước; nước: Khảm – Thủy.
5) Cái đanh thổi lửa = Cái : giống cái thuộc Âm; Đanh trong tiến Việt còn có nghĩa là Đinh: Đinh đóng làm bằng kim loại, đồng âm với Đinh trong thập Thiên can; Cái Đinh: Âm Kim – vị trí của thiên can Đinh, độ số 4 trên Hà đồ (*). Thổi: Gió – Quái Tốn; Hỏa: Lửa – Ly.

* Chú thích: Xin xem phần Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của Thập  thiên can chứng minh.

6) Chi chi chành chành = Chi: cái gì? Chi chi : nhiều việc khó hiểu cần hỏi; Chành: rành, chành chành: rành rành, sự rõ ràng.
Như vậy, với ba câu đầu (phần A, do tính từ dưới lên) – tương ứng với một quái trong quẻ – phải hiểu là:
@ Không thể giải quyết sự bế tắc vì những mâu thuẫn không thể lý giải trong những vấn đề liên quan đến kinh Dịch từ đồ hình mà cổ thư chữ Hán quen gọi là Lạc thư (Lạc thư là sách của nền văn minh Lạc Việt. Sự hiểu sai đã khiến cho nó thành một đồ hình trên lưng rùa ở sông Lạc ?!)
Với ba câu sau (phần B), phải hiểu là :
@ Tìm một đồ hình mà ở đó phương vị Dương – Hỏa (Ngọ – Ngựa) trùng khớp với Dương Thủy. Đồ hình này có vị trí thiên can Đinh nằm ở Âm Kim, độ số 4 và là vị trí của quái Tốn (Gió – theo Thuyết quái). Mọi vấn đề khó hiểu (Chi chi) sẽ được giải quyết rõ ràng (chành chành = rành rành).
Đồ hình thỏa mãn điều kiện trên chính là đồ hình mà cổ thư chữ Hán quen gọi là Hà đồ. Nếu ta xoay lại đồ hình Hà đồ 1800 theo phương vị bản đồ hiện đại và đặt lên đồ hình cũ thì Thủy – Hỏa sẽ chồng lên nhau: Dương Hỏa bị Thủy khắc (Con ngựa chết trương). Đặt Bát quái Hậu thiên nguyên thủy lên đồ hình Hà đồ (thay vì đặt lên Lạc thư, không lý giải được: Bắt dế đi tìm), ta sẽ thấy sự trùng khớp của Ngũ hành trên Hà đồ và Bát quái Hậu thiên nguyên thủy. Xin xem đồ hình minh họa sau đây.

Đồ hình minh họa
Hà đồ và Hậu Thiên bát quái nguyên thủy
phối hợp Thập Thiên Can

Qua đồ hình trên, bạn đọc sẽ nhận thấy ngay sự trùng khớp hoàn toàn về mọi vấn đề khi đồ hình phương vị Bát quái Hậu thiên nguyên thủy kết hợp với Hà đồ. Sự kết hợp này cũng hoàn toàn thỏa mãn những yếu tố hướng dẫn trong bài đồng dao của trẻ em Lạc Việt:
Vị trí quái Tốn (Gió), nằm ở hướng Tây Nam, độ số 4 – độ số của Thiên can Đinh – thuộc Âm Kim của Hà đồ; Lửa – Ly – Hỏa, nằm ở hướng Nam, bên cạnh vị trí của Âm Kim và Quái Tốn (Gió) trên Hà đồ; tức là: “Cái Đinh thổi lửa”.
Đặc biệt là quái Khôn – thuộc Thổ nằm ở vị trí Âm Hỏa trên Hà đồ, hiện tượng này lý giải hình ảnh bà Nữ Oa đốt cỏ thành tro để ngăn nước, được giải mã như sau: đốt cỏ thành tro ngăn nước = Âm Hỏa sinh Thổ – Khôn khắc Thủy.
Như vậy, với sự chứng minh ở trên, qua việc giải mã bài đồng dao và lý giải trường hợp bí ẩn trong những cổ thư chữ Hán liên quan đến thuyết Âm dương – Ngũ hành cùng dẫn dến một sự thống nhất như sau:
1) Sự giải mã từ bài đồng dao thuộc về nền văn minh Lạc Việt chứng tỏ việc quái Tốn phải nằm ở vị trí thiên can ĐINH thuộc Âm Kim, thống nhất với việc giải mã Thuyết quái và truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” cho thấy quái Khôn ở Âm Hỏa – Đông Nam..
2) Sự giải mã hiện tượng bí ẩn trong bài phú do các nhà lý học phong kiến Hoa Hạ công bố – nhưng không giải thích được (?!) – cũng cho thấy thiên can Đinh nằm ở cung Âm Kim (Độ số 4) của Hà đồ (*).

* Chú thích: Xin xem phần Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của Thập Thiên Can đã chứng minh.

Sự kết hợp giải mã giữa những hiện tượng trong văn hóa dân gian thuộc hai không gian lịch sử – để đi đến sự phục hồi một siêu lý thuyết và chứng minh cội nguồn của nó thuộc về văn minh Văn Lang – sẽ chỉ là một suy luận chủ quan, nếu nó không phản ảnh một thực tế được thể hiện bởi sự tương quan hợp lý cho tất cả những vấn đề mà nó đặt ra. Điều này được chứng tỏ – và cũng là sự minh chứng tiếp tục – ở phần tiếp theo đây.

Hà đồ và Hậu Thiên bát quái nguyên thủy
Lý giải đặc tính ngũ hành của bát quái

Đặc tính Ngũ hành của Ly – Khảm – Chấn – Đoài

Như phần II đã trình bày, các nhà nghiên cứu lý học không thể tìm thấy một luận thuyết lý giải đặc tính Ngũ hành của Quái vị trong cổ thư chữ Hán; mặc dù đó là yếu tố rất căn bản trong thực tế ứng dụng. Đây là một trong những mâu thuẫn lớn nhất của kinh Dịch và những vấn đề liên quan. Không ai có thể chứng minh được điều này, nếu xuất phát từ nhận thức cho rằng: Hà đồ là tiền đề căn bản của Tiên thiên Bát quái, Lạc thư là tiền đề căn bản của Hậu thiên Bát quái – như lịch sử kinh Dịch trong cổ thư chữ Hán miêu tả. Việc giải mã nội dung những sản phẩm trong văn hóa dân gian đã chứng tỏ tính tương quan hợp lý trong nội dung của một hệ thống vũ trụ quan thuộc văn minh Đông phương mà cội nguồn của nó là nền văn minh Văn Lang. Sự giải mã đã dẫn đến việc kết hợp giữa Hà đồ với Hậu thiên Bát quái nguyên thủy là một thay đổi có tính căn để của kinh Dịch. Điều này hoàn toàn trái ngược với những vấn đề căn nguyên của kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán miêu tả trong hơn 4000 ngàn cuốn sách từ hơn 2000 năm nay. Chính từ sự kết hợp này đã lý giải được thuộc tính Ngũ hành của Quái vị trên thực tế ứng dụng, mà trước đây phải chấp nhận như là một tiền đề căn bản không thể lý giải. Sự phù hợp này được mô tả như sau:
1) Thuộc tính Ngũ hành và phương vị của 4 quái ở 4 phương chính hoàn toàn trùng khớp với phương vị Ngũ hành trên Hà đồ:
KHẢM – THỦY phương Bắc, nằm ở vị trí Dương Thủy – phương Bắc của Hà đồ.
LY – HỎA phương Nam, nằm ở vị trí Dương Hỏa – phương Nam của Hà đồ.
CHẤN – MỘC phương Đông, nằm ở vị trí Dương Mộc – phương Đông của Hà đồ.
ĐOÀI – KIM phương Tây, nằm ở vị trí Dương Kim – phương Tây của Hà đồ.
Hiện tượng này đã lý giải vì sao Bát quái có thuộc tính Ngũ hành là: Khảm – Thủy; Ly – Hỏa; Chấn – Mộc; Đoài – Kim trên thực tế ứng dụng mà cổ thư chữ Hán đã nói tới, nhưng không lý giải được. Điều này đã chứng tỏ rằng: sự “phát minh” ra tính chất Quái vị liên quan đến thời tiết 4 mùa của Kinh Phòng thời Hán, sự công bố thuộc tính Ngũ hành của Thiệu Khang Tiết thời Tống chỉ là sự phát hiện rời rạc, không hoàn chỉnh những di sản còn lại của một nền văn minh đã mất. Điều này cũng chứng tỏ rằng: ÔngThiệu Khang Tiết không thể là tác giả của Mai hoa Dịch số, mà ông ta cũng chỉ công bố sự phát hiện một di sản văn hóa của nền văn minh Văn Lang; cũng như Trần Đoàn Lão Tổ không thể là tác giả của Tử vi Đẩu số (*).

* Chú thích: Tử vi đẩu số dựa trên một tiền đề căn bản là chu kỳ vận động của hành khí trong Lục thập Hoa giáp trong Âm lịch. Tính bất hợp lý của bảng Lục Thập Hoa giáp được coi là thuộc về nền văn minh Hoa Hạ đã được chứng minh trong cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp” (Nxb Thanh Niên 1999, tái bản lần thứ 2 Nxb VHTT 2002). Trong phần sau sẽ trình bày tóm lược để bạn đọc tham khảo vì những vấn đề liên quan.

Họ không thể phát minh ra một cái đúng từ một căn bản sai lầm, khi cho rằng: Hậu thiên Bát quái có xuất xứ từ Lạc thư , Tiên thiên Bát quái có xuất xứ từ Hà đồ. Điều này đã chứng tỏ tính phát hiện và gán ghép những giá trị của một nền văn minh bị tàn phá đã thất truyền. Chính sự phát hiện rời rạc, gán ghép khiên cưỡng khi người ta không hiểu được bản chất của nó đã tạo nên những mâu thuẫn không thể lý giải đã trình bày ở phần trên.
Đến đây, vấn đề tiếp tục được đặt ra là: Có mâu thuẫn gì khi đặc tính Ngũ hành của 4 quái Cấn, Tốn, Càn, Khôn của Hậu thiên nguyên thủy trên Hà đồ, có vẻ gần như hoàn toàn trái ngược với đặc tính Ngũ hành của nó mà cổ thư chữ Hán đã thể hiện có hiệu quả trên thực tế ứng dụng từ 2000 năm nay? Thí dụ như: quái Cấn, trên thực tế ứng dụng trong môn Địa lý cổ là tượng của Nữ Mạng – được coi là thuộc hành Thổ, nằm ở trung cung – thuộc Thổ – trên Cửu cung, khác biệt với đặc tính Ngũ hành của quái Cấn trong Hậu thiên nguyên thủy trên Hà đồ có đặc tính Ngũ hành là Âm Mộc? Hoặc quái Càn trên thực tế ứng dụng và căn cứ trên Thuyết quái cho rằng: thuộc hành Kim?…
Vấn đề này được lý giải như sau: giữa nguyên lý lý thuyết của bất cứ một học thuyết nào đến phương pháp luận ứng dụng trên thực tế, còn một khoảng cách lớn. Trong khi đó, những cổ thư chữ Hán liên quan đến thuyết Âm dương Ngũ hành từ thiên văn, địa lý, đến y học, dự đoán… đều chỉ là sự ứng dụng những phương pháp luận của nó; những ý niệm căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành thì rất mơ hồ, không thể coi như là một học thuyết hoàn chỉnh, chưa nói đến những hệ luận phát triển từ một hệ thống lý thuyết căn bản cho những ứng dụng cụ thể. Sự phục hồi những nguyên lý căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành (vốn đã bị thất truyền), tất yếu sẽ dẫn đến những hệ luận phát triển tiếp nối để: hoặc là sự điều chỉnh một số sai lệch trên thực tế ứng dụng, hoặc là sự lý giải thỏa đáng – trên cơ sở sự tương quan hợp lý những vấn đề liên quan. Nhưng về căn bản vẫn là tính nhất quán và hoàn chỉnh của học thuyết Âm dương Ngũ hành và những vấn đề liên quan đến nó. Bởi vậy, sẽ hoàn toàn không hề có mâu thuẫn trong vấn đề được đặt ra ở trên và điều này sẽ được chứng minh sau đây.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Lời kết: Một điều kỳ lạ là trong khi kinh Dịch và những vấn đề liên quan qua cổ thư chữ Hán – được các học giả trên thế giới quan tâm đến – có ...

“Kinh Dịch Phục Hy” Sự phủ nhận hệ thống Hậu thiên. Chính từ mâu thuẫn này đã làm nẩy sinh một hiện tượng trong lịch sử nghiên cứu kinh Dịch, đó là ...

Chương IV: Mâu thuẫn trong trình tự thời gian hình thành nội dung kinh Dịch. Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ rằng: kinh ...

Mâu thuẫn trong việc tìm hiểu mục đích ra đời của kinh Dịch. Chính vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản cho nên ngay cả mục đích ra đời của ...

Chương III: Khoảng trống lý thuyết và sự ứng dụng của kinh dịch. Kể từ thời Hán, bắt đầu từ Hán Vũ Đế (156 – 87 tr.CN) làm theo đối sách của Đổng ...

Chương II:Hoàng đế nội kinh tố vấn. Hà đồ và những vấn đề liên quan: Tính bát hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấnNhư ...

Mâu thuẫn giữa những nhận định liên quan với cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái. Như đã trình bày với bạn đọc ở phần trên – theo lịch sử chính ...

Hà đồ và cấu hình tiên thiên bát quái. Như Phần I đã trình bày với bạn đọc, theo lịch sử kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán ghi lại, Hà đồ là đồ hình đầu ...

Chương I: Mâu thuẫn trong sự tương quan những tiền đề trong kinh dịch. Trong Hệ từ thượng, tiết thứ 5 viết “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc ...

Phần II: Những mâu thuẫn trong kinh dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Đèn cù: Khen ai khéo xếp nên cái đèn cù/ Đèn cù, đèn cù là đèn cù/ ...