Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần III - 3

Ngày đăng: Thứ sáu 20/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Trước hết, bạn đọc làm quen với một sự phân định sau: Các nhà nghiên cứu Dịch học chia Bát quái làm 2 nhóm là:

1) Nhóm Bất Dịch gồm các Quái:

Bốn quái này có tính chất chung là: Nếu lật lên hay lật xuống 1800 thì tính chất của nó không thay đổi.

2) Nhóm Điên Đảo Dịch gồm các quái đi cặp với nhau là:

ĐOÀI – TỐN; CẤN – CHẤN

Mỗi cặp trong nhóm này có đặc tính là: Nếu lật lên hay lật xuống thì chúng đổi tính chất cho nhau.

Mỗi cặp như vậy chúng ta tạm gọi là: cặp “Điên đảo dịch cùng tính chất”.
Xét hình Bát quái Hậu thiên sau khi đổi chỗ hai quẻ Tốn Khôn (Từ nay thuật ngữ: “Bát quái Hậu thiên sau khi đổi chỗ hai quẻ Tốn – Khôn” sẽ gọi tắt là “Bát quái Hậu thiên nguyên thủy”; còn đồ hình Hậu thiên cũ vẫn gọi là Hậu thiên Bát quái), bạn đọc sẽ thấy một sự đối xứng Âm - Dương được diễn tả như sau.

Đồ hình minh họa tính đối xứng
của Hậu thiên bát quái nguyên  thủy

Với sự sắp hình như trên, bạn đọc nhận xét thấy ngay rằng:
Cặp ĐOÀI & TỐN, CẤN & CHẤN khi kết hợp với nhau chúng sẽ có tính chất của một quái Bất dịch; nghĩa là lật 180o không thay đổi tính chất.

ĐOÀI & TỐN là cặp Điên đảo Dịch thuộc Kim.
CẤN & CHẤN là cặp Điên đảo Dịch thuộc Mộc.

Trên cơ sở này chúng ta xét đến thứ tự 64 quẻ thuộc hệ thống Hậu thiên Bát quái để so sánh sự tương quan hợp lý với phương vị của Hậu thiên Bát quái nguyên thủy.
Trước hết chúng ta xếp 64 quẻ thành 32 cặp, mỗi cặp gồm 2 quẻ lẻ chẵn kế tiếp, bắt đầu từ cặp thứ nhất gồm 2 quẻ là: 1 – Thuần Càn và 2 – thuần Khôn;… cho đến hết 64 quẻ. Chúng ta sẽ được bảng sau.



Trên cơ sở đồ hình 32 cặp quẻ đã trình bày ở trên, bạn đọc sẽ nhận thấy ngay rằng: mỗi một cặp là một đồ hình đối xứng nhau. Trong đó có 4 cặp đối xứng Âm - Dương và 28 cặp đối xứng nghịch đảo, được cấu tạo bằng 56 quẻ có vị trí chẵn lẻ liên tiếp. Để có được tính đối xứng đó, cấu tạo của 28 cặp đối xứng nghịch đảo có 3 phương thức tạo cặp đối xứng sau đây:
Phương thức thứ 1) – Mỗi cặp đều do 2 Quái bất dịch đổi chỗ cho nhau. Thí dụ:

Cặp KHẢM & LY

Phương thức thứ 2) – Mỗi cặp đều do 2 Quái điên đảo dịch thuộc hai cặp đối xứng Đoài Tốn & Cấn Chấn đổi chỗ cho nhau. Thí dụ:

Cặp ĐOÀI TỐN & CẤN CHẤN

Phương thức thứ 3) – Điều đáng lưu ý vì sự liên quan đến vấn đề đặt ra là: trong những cặp đối xứng thuộc phương thức này, thì mỗi cặp đều do một “Quái bất dịch” kết hợp với một cặp điên đảo dịch cùng tính chất. Thí dụ:

Cặp ĐOÀI TỐN & CÀN

Như vậy, để tạo ra cặp đối xứng thì:
Một cặp điên đảo dịch cùng tính chất sẽ tương ứng một “Quái bất dịch”.
Điều này được mô tả như sau:

CẤN & CHẤN = ĐOÀI & TỐN = CÀN = KHẢM = LY = KHÔN

Như vậy, khi một cặp điên đảo dịch cùng tính chất kết hợp với nhau, chúng sẽ có tính chất của một “Quái bất dịch” trong việc tạo cặp đối xứng. Hay nói một cách khác: khi kết hợp một cặp Điên đảo dịch sẽ chính là một quái bất dịch trong việc tạo ra đối xứng. Điều này được chứng tỏ trong những cặp đối xứng được tạo trong phương thức 2 và 3, chúng ta có:

# 4 cặp đối xứng được tạo ra bởi 2 cặp Điên đảo dịch Cấn Chấn & Đoài Tốn (Phương thức 2).
# 4 cặp đối xứng được tạo ra bởi cặp Điên đảo dịch Cấn – Chấn kết hợp với 4 Quái bất dịch (Phương thức 3).
# 4 cặp đối xứng được tạo ra bởi cặp Điên đảo dịch Đoài – Tốn kết hợp với 4 Quái bất dịch (Phương thưc 3).

Trong cấu trúc phương vị Bát quái Hậu thiên, cặp Cấn Chấn có vị trí cạnh nhau, cùng đặc tính Mộc (Âm - Dương Mộc) khi kết hợp tính chất tương đương một Quái bất dịch. Vì vậy, cặp Đoài – Tốn không thể ở vị trí cách nhau như đồ hình Hậu thiên Bát quái mà cổ thư chữ Hán truyền lại – nhưng lại có thể tạo ra cấu trúc đã trình bày – thể hiện ở 32 cặp đối xứng.

Do đó, sự tương quan hợp lý trong việc tạo ra 32 cặp đối xứng theo đúng thuận tự 64 quẻ Hậu thiên bát quái được bảo chứng bằng Tự quái truyện. Điều này chỉ có thể thực hiện được với cấu trúc tiền đề căn bản của nó là phương vị BÁT QUÁI HẬU THIÊN NGUYÊN THỦY; tức là Quái Tốn phải nằm ở vị trí Âm Kim trên Hà đồ (*) (đổi chỗ cho quái Khôn), để tạo thành một cặp tương ứng một quái bất dịch cùng tính chất Kim (Âm - Dương Kim).

* Chú thích: trong phần chứng minh này có sự liên hệ Hậu thiên bát quái nguyên thủy với Hà đồ. Điều này sẽ được minh chứng ở phần sau. Xin bạn đọc hãy tạm công nhận như vậy vì không làm ảnh hưởng đến phương pháp chứng minh.

Bí ẩn của tiết 5 – Thuyết quái truyện

Thuyết quái truyện vốn được không ít các học giả cho rằng mang tính dị đoan. Điều này được thể hiện ở nhiều cuốn kinh Dịch Việt ngữ đã bỏ không dịch Thuyết quái. Tuy nhiên, Tiết 5 của Thuyết quái lại được coi là sự bảo chứng cho cấu hình Hậu thiên Bát quái, vì tính trùng khớp với thứ tự thuận chiều của nó. Để bạn đọc tiện theo dõi, xin được trình bày lại như sau:
Tiết 5 – Thuyết Quái viết:
Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Chí dịch hồ Khôn. Duyệt ngôn hồ Đoài. Chiến hồ Kiền. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn.
Sự trùng khớp theo thứ tự thuận chiều với đồ hình Hậu thiên Bát quái theo cổ thư chữ Hán bắt đầu từ quái Chấn như sau:

Nhưng với sự diễn đạt ở trên thì nội dung Thuyết quái không trực tiếp thể hiện cấu trúc phương vị Hậu thiên Bát quái. Nghĩa đen của tiết 5 – Thuyết quái chỉ có thể hiểu là:
Đế xuất hồ Chấn = Vua ra cửa Chấn

Tề (*) hồ Tốn = Làm bằng cửa Tốn

* Chú thích: Tề – Động từ; tiếng cổ có nghĩa là: làm bằng, cào bằng, làm cho cùn, tà . Hiện ở đồng bằng Nam Bộ, người ta vẫn còn dùng với nghĩa trên.

Tương kiến hồ Ly = Gặp gỡ cửa Ly
Trí dịch hồ Khôn = Suy nghĩ chuyển cửa Khôn
Thuyết ngôn hồ Đoài = Vui vẻ cửa Đoài
Chiến hồ Càn = Tranh chấp cửa Càn
Lao hồ Khảm = Mệt nhọc ở cửa Khảm
Thành ngôn hồ Cấn = Nói xong ở cửa Cấn.

Như vậy, rõ ràng ý nghĩa trực tiếp của câu 2 và 4 trong tiết 5 là: san bằng cửa Tốn, suy nghĩ để chuyển cửa Khôn. Người viết đã theo đúng sự chỉ dẫn trực tiếp của Thuyết quái để làm việc này và chứng minh ở trên.
Qua sự chứng minh ở trên, chứng tỏ rằng: Chu Văn Vương không hề tạo ra đồ hình Hậu thiên Bát quái mà cổ thư chữ Hán nói tới. Bởi vì, ông ta không thể tạo ra một hệ thống 64 quẻ Hậu thiên mà thứ tự cấu trúc phủ nhận phương vị tiền đề căn bản của nó là đồ hình Hậu thiên Bát quái. Từ đó dẫn đến sự phủ nhận hàng loạt những vấn đề liên quan mà cổ thư chữ Hán nói tới, đồng thời cũng chứng tỏ những vấn đề sau:
@ Chu Văn Vương và Chu Công không phải là tác giả Soán từ và Hào từ . Điều này chứng tỏ tính Bất Chu của cây cột chống trời trong truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời”. Sự phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ của kinh Dịch trong một truyền thuyết vốn được coi là của chính nền văn minh Hoa Hạ cũng chứng tỏ rằng: xuất xứ của truyền thuyết này thuộc về văn minh Văn Lang đã bị Hán hóa; đồng thời cũng chứng tỏ dấu ấn của văn minh Văn Lang ở miền Nam sông Dương Tử.
@ Khổng tử hoặc những học giả khác trước Hán không hề viết Thập dực.

Chu dịch trong Tiên Thiên bát quái

Như vậy, qua sự chứng minh trên thì Chu Dịch phải hiểu là chu kỳ, sự vận động lặp lại. Điều này được trình bày như sau:
Trong quá trình sưu tầm tư liệu để thực hiện cuốn sách này, học giả Lê Gia cho biết về một cấu hình phát triển của Quái hoạch dẫn đến sự hình thành Bát quái Tiên thiên như sau:

Qua hình trên, nếu chúng ta uốn thành một vòng tròn (Chu) khép kín thì sẽ được chính đồ hình Tiên thiên Bát quái. Xin xem hình vẽ dưới đây.

Đồ hình minh họa tính chất Chu dịch
trong Tiên Thiên bát quái

Đến đây, sự việc trên đã cho thấy cơ sở của một luận điểm cho rằng:

Toàn bộ hệ thống ký hiệu của kinh Dịch gồm cả Tiên thiên và Hậu thiên – mà cổ thư chữ Hán cho là những hệ thống Dịch khác nhau và được gọi là : Hy Dịch (Dịch Phục Hy), Liên sơn Dịch (Dịch nhà Hạ), Quy tàng Dịch (Dịch nhà Thương), Chu Dịch (Dịch nhà Chu) là những sự kiện không có thật. Hệ thống ký hiệu của kinh Dịch phải được hình thành một cách hoàn chỉnh và nhất quán, không có vấn đề Hy Dịch và Chu Dịch; khi chính Tiên thiên Bát quái với cấu trúc của nó đã chứng minh Chu Dịch – với ý nghĩa là sự tuần hoàn – là tên gọi chính xác cho kinh Dịch. Luận điểm này là một sự tất yếu, thể hiện tính thống nhất và hoàn chỉnh của giả thuyết cho rằng: Thuyết Âm dương – Ngũ hành là một học thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh, nhất quán và xuất hiện đồng thời; kinh Dịch chính là những ký hiệu thể hiện nội dung của nó.

Luận điểm này được chứng tỏ trên thực tế bởi một sự kiện sau đây. Ban đọc tham khảo đoạn trích dẫn trong Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương trang 106.

4- Một trường hợp đặc biệt xảy ra khiến những thuyết trên trở thành khập khiễng, thọt giò. Mao Tiệm phụng sứ đi kinh Tây, khi tới Đường Châu, tìm được trong dân gian ba bộ sách gọi là Tam phần thư gồm có Sơn phần, Khí phần, Hình phần. Thì ra Sơn phần là Liên Sơn dịch của Thiên Hoàng, họ Phục Hy; Khí phần là Qui Tàng Dịch của Nhân Hoàng, họ Thần Nông; Hình phần là Kiền Khôn Dịch của Địa Hoàng, họ Hoàng Đế. Mỗi bộ Dịch đều có 8 quẻ; dưới mỗi quẻ lại đều có 7 quẻ nữa; tổng cộng 8 x 8 = 64 quẻ. Như vậy, Tam phần chính là Dịch đời Tam Hoàng. Chúng có những cái tên Liên Sơn, Qui Tàng, Kiền Khôn, và có 64 quẻ gọi là: “Quân, Thần, Dân, Vật, Âm, Dương, Binh, Tượng, Qui, Tàng, Sinh, Động, Trường, Dục, Chỉ, Sát. Thiên, Địa, Nhật, Nguyệt Sơn, Xuyên, Vân, Khí” (tức là Kiền, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài đội những cái tên khác mà thôi.
Các thuyết trên của Chư nho, hậu thế phải đợi đến khi Mao Tiệm bắt được bộ Tam phần mới quyết định. Thực ra, Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế đều có Dịch và đã có 64 trùng quái rồi. Dịch của các đời Hạ, Thương, Châu về sau chỉ là ôn lại những bộ sách cũ đời Tam Hoàng. Do đó, mới có người nói: “Tiên nho chưa từng thấy Dịch đời Tam Hoàng, đời Hạ, đời Thương, cho nên luận thuyết lung tung, chưa nhất định”. Tiên nho vị tằng kiến Tam Hoàng, Hạ, Thương Dịch, sở dĩ phân phân chi thuyết đặc vị định.
Ta có thể thêm ý kiến của Phùng Ỷ đời Tống để tăng cường cho ý trên: “Thần Nông, Hoàng Đế đều có Dịch quái và lấy Liên Sơn, Qui  Tàng làm họ; bởi thế hai bộ sách này không phải khởi thủy từ đời Hạ và đời Thương”.

Những luận điểm trên sẽ được tiếp tục minh chứng dưới đây.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Lời kết: Một điều kỳ lạ là trong khi kinh Dịch và những vấn đề liên quan qua cổ thư chữ Hán – được các học giả trên thế giới quan tâm đến – có ...

“Kinh Dịch Phục Hy” Sự phủ nhận hệ thống Hậu thiên. Chính từ mâu thuẫn này đã làm nẩy sinh một hiện tượng trong lịch sử nghiên cứu kinh Dịch, đó là ...

Chương IV: Mâu thuẫn trong trình tự thời gian hình thành nội dung kinh Dịch. Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ rằng: kinh ...

Mâu thuẫn trong việc tìm hiểu mục đích ra đời của kinh Dịch. Chính vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản cho nên ngay cả mục đích ra đời của ...

Chương III: Khoảng trống lý thuyết và sự ứng dụng của kinh dịch. Kể từ thời Hán, bắt đầu từ Hán Vũ Đế (156 – 87 tr.CN) làm theo đối sách của Đổng ...

Chương II:Hoàng đế nội kinh tố vấn. Hà đồ và những vấn đề liên quan: Tính bát hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấnNhư ...

Mâu thuẫn giữa những nhận định liên quan với cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái. Như đã trình bày với bạn đọc ở phần trên – theo lịch sử chính ...

Hà đồ và cấu hình tiên thiên bát quái. Như Phần I đã trình bày với bạn đọc, theo lịch sử kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán ghi lại, Hà đồ là đồ hình đầu ...

Chương I: Mâu thuẫn trong sự tương quan những tiền đề trong kinh dịch. Trong Hệ từ thượng, tiết thứ 5 viết “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc ...

Phần II: Những mâu thuẫn trong kinh dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Đèn cù: Khen ai khéo xếp nên cái đèn cù/ Đèn cù, đèn cù là đèn cù/ ...