Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần III - 1

Ngày đăng: Thứ sáu 20/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Một trong những di ấn đặc sắc nhất nói đến những nguyên lý của Lạc thư Hà đồ chính là truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” của người Lạc Việt – vốn hàm chứa nhiều nội dung rất sâu sắc – chứng tỏ một trình độ thánh nhân về sự tạo dựng hình tượng. Nội dung trực tiếp của truyền thuyết này ai cũng nhận thấy đó là huyền thoại về lịch sử dân tộc Việt. Đây cũng là hình thức chung cho hầu hết các truyền thuyết phổ biến về thời Hùng Vương. Ông Vũ Quỳnh – một trong đồng tác giả của cuốn Lĩnh Nam Chích Quái – đã đặt vấn đề: “Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng?”. Đây chính là một nhận xét sáng suốt của bậc uyên nho Lạc Việt, kể từ Việt Nam hưng quốc vào fhế kỷ thứ 10 sau CN. Một trong những hàm nghĩa của truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” có liên quan chặt chẽ tới Lạc thư Hà đồ, đã trình bày với bạn đọc trong cuốn Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại (Nxb VHTT 2002). Trong cuốn sách này, vấn đề trên được tóm lược và bổ sung một số hiện tượng liên quan đến kinh Dịch như sau:
Hình ảnh của Tổ phụ Lạc Long Quân – tức Vua Rồng Lạc Việt – vị Hoàng đế đầu tiên trong cổ sử nhân loại dùng hình tượng Rồng cho danh vị của mình. Rồng là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ.
Hình ảnh của Tổ mẫu Âu Cơ – dòng dõi của Tiên – biểu tượng sức mạnh trí tuệ của con người. Cuộc hôn nhân của Tổ phụ Lạc Long Quân với Tổ mẫu Âu Cơ là một biểu tượng của sự kết hợp của sức mạnh vũ trụ với trí tuệ siêu việt của con người. Đây còn là sự hòa hợp Âm dương; Âm có nguồn gốc từ Thái cực, khi phân biệt tạo thành Âm dương được biểu tượng bằng hai Ngài có chung một tộc hệ.
Sự kết hợp giữa hai Ngài sinh được 100 quả trứng; là biểu tượng của tổng độ số Lạc thư Hà đồ; 100 trứng nở ra 100 người con trai mà không có con gái; bởi vì đây là giá trị của trí tuệ – thuộc Dương – nên dùng hình tượng con trai. 50 người con theo mẹ (Âm) – là biểu tượng cho 50 vòng tròn đen trong tổng độ số Lạc thư Hà đồ; trong Âm có Dương, nên 50 người con theo mẹ (Âm) lên núi – Dương. 50 người con theo cha (Dương) – là biểu tượng cho 50 vòng tròn trắng trong tổng độ số Lạc thư Hà đồ; trong Dương có Âm, nên 50 người con theo cha (Dương) xuống biển (Âm). Xin xem lại hình minh họa sau đây.

Đồ hình Lạc thư
vòng tròn trắng 25 - vòng tròn đen 20

Đồ hình Hà đồ
vòng tròn trắng 25 - vòng tròn đen 30

Tồng độ số Lạc thư Hà đồ:
vòng tròn trắng 50 - vòng tròn đen 50

Âm dương là một thuật ngữ triết học cổ Đông phương, lý giải tất cả trạng thái phân biệt từ khởi nguyên vũ trụ cho đến mọi sự vận động của nó. Ở đâu có phân biệt thì ở đó có Âm dương, trong Âm có Dương và ngược lại. Ở nguyên lý khởi nguyên, phạm trù của Âm bao trùm toàn bộ những thuộc tính hữu hình, so với Dương – bao trùm toàn bộ những thuộc tính trừu tượng. Do đó 50 người con theo mẹ (Âm) lãnh đạo đất nước Văn Lang – quốc gia đầu tiên của người Lạc Việt. Đây cũng chính là số Đại diễn trong kinh Dịch – điều này đã được lưu ý với bạn đọc ở phần trên. Trong phương pháp bói cỏ thi, người ta sử dụng 100 cọng cỏ, lấy 50 – tức là số Đại diễn – ứng với con số 100 và 50 của truyền thuyết, sử dụng một nửa (tức 50 cọng cỏ – ứng với 50 người con theo mẹ; sau đó bỏ đi 1 còn lại 49 cọng dùng để bói). Đây chính là hình tượng của 49 người anh em còn lại đi cai trị khắp nơi, biểu tượng cho tính muôn mặt của sự vận động của cuộc sống xã hội và con người.
Trong sự phân tích nội dung truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” ở trên đã lý giải một hàm nghĩa liên quan đến Lạc thư – Hà đồ. Việc lý giải này không phủ nhận nội dung trực tiếp của truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên về lịch sử thời Hùng Vương. Phả hệ của các vua Hùng trong truyền thuyết này còn liên quan đến một hiện tượng vũ trụ độc đáo khác sẽ được trình bày phần sau. Vì giới hạn trong nội dung chứa đựng rất nhiều hàm nghĩa của truyền thuyết này; cho nên không trực tiếp nói đến Ngũ hành và điều này được bổ sung bằng một di sản đặc sắc, nổi tiếng trong văn hóa dân gian Việt Nam. Đó chính là tranh thờ Ngũ hổ được người Lạc Việt trân trọng lưu truyền với danh xưng tôn kính là “Ông ba mươi”.

Bí ẩn của tranh thờ Ngũ Hổ

Huyền thoại Đông Hồ

Ở góc phố Hàng Lược vào những ngày cuối năm, một người đàn bà nhà quê đang ngồi ủ rũ trên thềm một căn nhà đã đóng cửa nghỉ Tết. Trước mặt bà là một tấm ni lon trải rộng, mỗi góc được chặn bằng nửa cục gạch. Trên tấm ni lon đó, bày kín những bức tranh Tết. Bà bán tranh dân gian làng Đông Hồ. Sau lưng bà, trên những cánh cửa gỗ đóng kín là mấy sợi dây giăng ngang để treo mấy bức tranh. Thỉnh thoảng, gió lại thổi nhẹ làm cho những bức tranh ấy ve vẩy như muốn mời mọc khách hàng thay cho bà chủ dường như đã mệt mỏi. Tranh dân gian bây giờ chẳng còn mấy ai chú ý đến; ngoại trừ mấy bài báo nói về tính văn hóa truyền thống của tranh dân gian Việt Nam. Đã vậy, hàng của bà lại bị khuất lấp và nhòa đi trong sự nhộn nhịp, đông đúc của phiên chợ Tết. Đôi mắt bà buồn rầu nhìn những bức tranh dân gian đang ế ẩm vì sự thờ ơ của những người đi chợ. Mỗi bức tranh bà bán có 3000 đồng, đấy là giá vốn rẻ mạt mà chồng con bà cặm cụi làm cả tháng nay, mong kiếm được chút đỉnh góp vào nồi bánh chưng ăn Tết. Hàng của bà có khuyến mãi hẳn hoi cho phù hợp với cạnh tranh thị trường: ai mua một bức tranh, sẽ được tặng một con chuột bằng bìa cứng, nhuộm phẩm đen, nhưng chạy được nhờ một bánh xe đất có dây thun ở bụng. Lâu lâu, bà lại uể oải kéo sợi dây trên lưng con chuột khuyến mãi, làm cho nó chạy để gây sự chú ý của người qua đường. Hàng của bà vẫn ế. Bọn trẻ con bây giờ cũng khôn lắm, chúng thừa biết chỉ bỏ ra thêm chục ngàn đồng bạc là có thể có một món đồ chơi hiện đại chạy bằng pin, bán đầy ở phố đồ chơi Lương Văn Can gần đó. Còn người lớn, có quá nhiều bận rộn trong sinh kế. Khi thưởng thức nghệ thuật thì họ đã có những phòng tranh lịch sự treo biển quảng cáo ghi cả bằng tiếng Tây; trong đó người ta bàn những đề tài hấp dẫn về các trường phái hiện đại và cổ điển trên thế giới, hoặc những tài năng mới xuất hiện ở Ý đại lợi. Chẳng còn ai để ý những bức tranh quê mùa dân dã của bà...
– Bà có bán tranh thờ Ngũ hổ không?
– Không! Tranh đó phải đặt trước mới có bán. Bà hàng tranh trả lời và ngước nhìn ông khách.
– Bà cho tôi mua mấy cái tranh này! Vừa nói, ông lão vừa chỉ lên mấy bức tranh dân gian đang kẹp vào sợi dây chăng ngang bức tường. Chưa kịp để bà hàng tranh trả lời, ông lão đã tháo bức tranh “Đàn lợn” trên dây xuống và ngắm nghía.
– Tôi không bán cho ông! Vừa nói, bà vừa đưa tay lấy lại bức tranh.
Với vẻ mặt ngạc nhiên, ông lão hỏi lại:
– Tại sao thế? Tôi trả giá cao mà?
Bà hàng tranh không trả lời mà lặng lẽ thu xếp những cái tranh của bà, cất vào một cái thúng và gánh đi. Trong cái thúng tranh đó, chất đầy những bí ẩn của sự minh triết Đông phương.
Ông lão nhìn theo thở dài:
– “Thiên nhất sinh Thủy, địa lục thành chi”! Nếu ta có bức tranh này sớm hơn, thì có lẽ không phải đợi đến 1000 năm nữa…
Nói xong, ông lão biến mất.

Đàn Lợn
Tranh dân gian Đông Hồ

Thiên nhất sinh Thủy, địa lục thành chi

Hà đồ Lạc thư & tranh thờ Ngũ Hổ

Trong dân gian Việt Nam lưu truyền đến hai bức tranh Ngũ hổ, một của làng tranh nổi tiếng Đông Hồ; một của dòng tranh dân gian Hàng Trống. Tính đặc sắc ở đây là hai dòng tranh này tưởng chừng như không liên quan tới nhau, đã được các nhà nghiên cứu mỹ thuật dân gian cho rằng có những phong cách khác nhau, trong cả nội dung và phương pháp thể hiện. Nhưng, cả hai bức tranh này đều hàm chứa trong nội dung của nó, một hiện tượng bí ẩn nhất của văn hóa Đông phương đó là Lạc thư và Hà đồ – bổ sung cho một trong những hàm nghĩa của truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên, đã trình bày ở trên. Trước khi diễn giải nội dung hai bức tranh này, xin bạn đọc xem hình minh họa dưới đây:

Tranh Ngũ Hổ làng Đông Hồ

Tranh Ngũ Hổ Hàng Trống

Qua hai tranh trên, bạn đọc sẽ nhận xét thấy rằng ngoại trừ tư thế khác nhau của Hổ vàng giữa hai tranh, còn về hình tượng các “Ông ba mươi” đều giống nhau. Trong tranh Ngũ hổ Hàng Trống là một tranh phổ biến nhất lưu truyền trong dân gian. Hổ vàng nhìn thẳng, một chân trước đầy oai vũ đặt lên miếng phù ghi dòng chữ: “Pháp đại uy nỗ”, nghĩa là “Uy lực của pháp lớn”(diễn tả theo ngôn ngữ hiện đại có thể hiểu là “qui luật chủ yếu, bao trùm”). Bốn hổ con vây quanh có màu sắc theo sự vận động tương sinh của Ngũ hành. Hình tượng này hoàn toàn trùng khớp với chiều Ngũ hành tương sinh của Hà đồ, xin xem hình minh họa dưới đây.

Đồ hình minh họa ngũ hành tương sinh trong Hà đồ
và tranh Ngũ Hổ Hàng Trống

Trong tranh Ngũ hổ của làng Đông Hồ thì Hổ vàng có tư thế quay đầu nhìn sang một bên và màu sắc của 4 hổ con theo chiều Ngũ hành tương khắc. Điều này hoàn toàn trùng khớp với lý tương khắc của Ngũ hành trong đồ hình Lạc thư. Một điều độc đáo nữa là Hổ vàng trong tranh Đông Hồ cũng đặt bàn chân đầy uy vũ lên một hòm ấn, trên có ghi một hình chữ nhật và 6 gạch bí ẩn. Nếu chúng ta quay 900 hình chữ nhật và bỏ hai vạch dọc, thì đây chính là quẻ Bát thuần Càn. Hiện tượng này hoàn toàn phù hợp với nội dung mang thuộc tính Dương của Lạc thư (độ số Dương của Lạc thư là 25, trội hơn độ số Âm là 20). Bạn đọc xem hình minh hoạ dưới đây:

Hình bùa trên hòm ấn tranh Ngũ Hổ Đông Hồ
và quẻ Bát Thuần Càn trong Kinh dịch

Sự liên kết chặt chẽ về hàm nghĩa nội dung – giữa hai tranh dân gian thuộc hai dòng tranh khác nhau – chứng tỏ một nội dung đầy bí ẩn của Lạc thư Hà đồ, sẽ đặt lại toàn bộ những vấn đề liên quan trong cuộc sống xã hội và sinh hoạt văn hóa của người Lạc Việt từ cổ sử đến nay, như: nghề khắc gỗ, làm giấy… Đến đây, bạn đọc có thể đặt vấn đề là: làng tranh Đông Hồ – theo các nhà nghiên cứu – hình thành vài trăm năm nay; tức là sau Thiệu Khang Tiết, Chu Hy công bố tính chất Ngũ hành của Lạc thư Hà đồ vào đời Tống. Vì vậy, rất có khả năng tranh Ngũ hổ của Việt Nam thể hiện lại nội dung của văn hóa Trung Hoa. Điều này sẽ rất hợp lý, nếu những vấn đề liên quan đến thuyết Âm dương Ngũ hành vẫn không sáng tỏ. Nhưng sự việc lại không đơn giản như vậy và đó cũng không phải là yếu tố căn bản. Vấn đề quan yếu đặt ra ở đây là: Sự công bố nội dung của thuyết Âm dương Ngũ hành liên quan đến Lạc thư Hà đồ của ông Chu Hy chỉ dừng lại ở nội dung Ngũ hành sinh khắc cho từng đồ hình, không giải thích được nguyên nhân – cho đến tận ngày hôm nay, khi bạn đang đọc cuốn sách này. Ngược lại, tranh Ngũ hổ lưu truyền trong dân gian Việt Nam chứa đựng những hàm nghĩa vượt xa những nội dung liên quan đến Lạc thư Hà đồ mà cổ thư chữ Hán nói tới. Đây chính là điều căn bản để chứng tỏ: tranh Ngũ hổ trong dân gian Việt Nam và tục thờ “Ông ba mươi” đã có từ rất lâu trong văn hóa Lạc Việt; có thể đã có trước đời Hán. Một yếu tố minh chứng điều này là chòm sao phía trên tranh Ngũ hổ. Đây là một mật ngữ hướng dẫn căn nguyên của Lạc thư Hà đồ. Trong điều kiện một nền văn minh bị thất truyền kéo dài trên 2000 năm, chòm sao phía trên tranh Ngũ hổ – Hàng Trống sẽ là một điều vô nghĩa; nếu như không có sự trung thành với nguyên tác từ tổ tiên, thì rất có thể chòm sao này không được thể hiện trên tranh, vì người ta sẽ cảm thấy thừa cho chi tiết này. Nhưng, may mắn thay! Cho đến tận ngày hôm nay, chòm sao trên tranh Ngũ hổ – Hàng Trống vẫn được giữ gìn ở vị trí của nó và đã chứng tỏ được căn nguyên của nội dung Lạc thư Hà đồ. Những đoạn trích dẫn dưới đây từ trong sách Chu Dịch vũ trụ quan (sách đã dẫn) chứng tỏ điều này.
Trước khi diễn tả nội dung của Hà đồ xin được trình bày phương pháp tính giờ của Âm dương lịch.
Âm lịch chia một ngày thành 12 giờ. Mỗi giờ âm lịch bằng hai giờ dương lịch:

Giờ thứ nhất – giờ Tí – từ 23 giờ ngày hôm trước đến 1 giờ ngày hôm sau.
Giờ thứ hai – giờ Sửu – từ 1 đến 3 giờ.
Giờ thứ ba – giờ Dần – từ 3 đến 5 giờ.
Giờ thứ tư – giờ Mão – từ 5 đến 7 giờ.
Giờ thứ năm – giờ Thìn – từ 7 đến 9 giờ.
Giờ thứ sáu – giờ Tỵ – từ 9 đến 11 giờ.
Giờ thứ bảy – giờ Ngọ – từ 11 đến 13 giờ.
Giờ thứ tám – giờ Mùi – từ 13 đến 15 giờ.
Giờ thứ chín – giờ Thân – từ 15 đến 17 giờ.
Giờ thứ mười – giờ Dậu – từ 17 đến 19 giờ.
Giờ thứ mười một – giờ Tuất – từ 19 đến 21 giờ.
Giờ thứ mười hai – giờ Hợi – từ 21 đến 23 giờ.

Với sự phân chia thời gian theo âm lịch nói trên và sự định hướng phương vị của Lạc thư thì sự vận động của các vì sao quen thuộc trong Thiên văn học hiện đại thuộc Thái dương hệ gồm: sao Kim, sao Thủy, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ lần lượt xuất hiện trên bầu trời sẽ tạo ra độ số của Hà đồ như sau:

1) Vị trí xuất hiện của sao Thủy ở phương Bắc trên bầu trời
Trong ngày: giờ thứ nhất (giờ Tí); giờ thứ sáu (giờ Tỵ)
Trong tháng: ngày mồng 1, 6, 11, 16, 21, 26. Mặt trời, mặt trăng gặp sao Thủy ở phương Bắc.
Trong năm: Tháng 11, 6. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Bắc.
Vị trí của sao Thủy theo độ số của sao Thủy trên Hà đồ (1 – 6),ứng với phương Bắc của Lạc thư .
2) Vị trí xuất hiện của sao Hỏa ở phương Nam trên bầu trời
Trong ngày: giờ thứ hai (giờ Sửu); giờ thứ bảy (giờ Ngọ)
Trong tháng: ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27. Mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Hỏa ở phương Nam.
Trong năm: Tháng 2, 7. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Nam.
Vị trí của sao Hỏa theo độ số của sao Hỏa trên Hà đồ (2 – 7), ứng với phương Nam của Lạc thư .
3) Vị trí xuất hiện của sao Mộc ở phương Đông trên bầu trời
Trong ngày: giờ thứ ba (giờ Dần); giờ thứ tám (giờ Mùi).
Trong tháng: ngày mồng 3, 8, 13, 18, 23, 28. Mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Mộc ở phương Đông.
Trong năm: tháng 3, 8. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Đông.
Vị trí của sao Mộc theo độ số của sao Mộc trên Hà đồ (3 – 8), ứng với phương Đông của Lạc thư .
4) Vị trí xuất hiện của sao Kim ở phương Tây trên bầu trời
Trong ngày: giờ thứ tư (giờ Mão); giờ thứ chín (giờ Thân)
Trong tháng: ngày mồng 4, 9, 14, 19, 24, 29. Mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Kim ở phương Tây.
Trong năm: tháng 4, 9. Lúc hoàng hôn thấy ở phương Tây.
Vị trí của sao Kim theo độ số của sao Kim trên Hà đồ (4 – 9), ứng với phương Tây của Lạc thư .
5) Vị trí xuất hiện của sao Thổ ở giữa bầu trời
Trong ngày: giờ thứ năm (giờ Thìn); giờ thứ mười (giờ Dậu).
Trong tháng: ngày mồng 5, 10, 15, 20, 25, 30. Mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Thổ ở giữa.
Trong năm: tháng 5, 10. Lúc hoàng hôn thấy ở giữa trời.
Vị trí của sao Thổ theo độ số của sao Thổ trên Hà đồ (5 – 10), ứng với Lạc thư ở giữa. (*)

* Chú thích: Gs Lê Văn Quán, Chu Dịch vũ trụ quan, NXB Giáo dục 1995).

Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: những nội dung mới mẻ này hoàn toàn chưa hề được ông Chu Hy nhắc tới. Trong cuốn sách Chu Dịch vũ trụ quan, giáo sư Lê Văn Quán cũng chỉ đưa ra nội dung như trên cho từng đồ hình Lạc thư và Hà đồ một cách riêng rẽ; ông không có sự liên hệ nào giữa hai đồ hình này. Việc liên hệ giữa hai đồ hình Lạc thư – Hà đồ và cho rằng Lạc thư phải có trước – để định phương vị cho Hà đồ; Hà đồ có sau trên cơ sở phương vị Lạc thư, là do người viết thực hiện. Sự liên hệ giữa Lạc thư và Hà đồ đã được thể hiện trong hình tượng ông Hổ vàng trong tranh Đông Hồ ngoái đầu nhìn sang một bên. Chòm sao phía trên trong tranh thờ Ngũ Hổ chính là chòm sao Tiểu Hung Tinh, tức là chòm sao thiên cực Bắc, để định vị chuẩn cho sự vận động của hành tinh trong Thái dương hệ làm nên độ số Ngũ hành trong nội dung Hà đồ. Chòm sao này đã chứng tỏ tranh Ngũ Hổ không thể xuất xứ từ văn minh Hoa Hạ, mà đã tồn tại từ rất lâu trong nền văn minh Lạc Việt. Tất cả giá trị những mật ngữ nói trên, mặc dù xuất phát từ những suy luận chủ quan, nhưng lại hoàn toàn trùng khớp với những vấn đề liên quan được đề cập tới trong toàn bộ cuốn sách này. Tục thờ “Ông ba mươi” mà tranh thờ phổ biến là tranh Ngũ Hổ Hàng Trống lại là một mật ngữ cao cấp cho thấy: chính sự vận động của Hà đồ là căn nguyên chủ yếu những bí ẩn của nền văn hóa Đông phương mà sự thể hiện ở siêu công thức Hậu thiên Bát quái. Đây cũng là một điều mà cổ thư chữ Hán – trong ngót 5000 tựa sách, trải dài trên hai thiên niên kỷ – đã hoàn toàn sai lầm khi cho rằng: Hà đồ là căn nguyên của Tiên thiên Bát quái, Lạc thư là căn nguyên của Hậu thiên Bát quái. Vấn đề này sẽ được chứng minh trong những chương tiếp theo đây.

Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của thập thiên can

Trong các cổ thư chữ Hán liên quan đến thuyết Âm dương Ngũ hành chúng ta thường thấy một tiền đề sau đây:

Giáp ( Mộc) hợp Kỷ (Thổ)
Bính (Hỏa) hợp Tân (Kim)
Mậu (Thổ) hợp Quí (Thủy)
Canh (Kim) hợp Ất (Mộc)
Nhâm (Thủy) hợp Đinh (Hỏa).

Đây cũng là một tiền đề của qui tắc lập cục trong Tử vi đẩu số và cũng là một tiền đề quan trọng của lý học cổ Đông phương được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực: y lý, lịch số, dự đoán… Tiền đề này chưa có sự lý giải và cũng là sự bí ẩn đã trải hàng thiên niên kỷ trong các cổ thư chữ Hán lưu truyền. Chính vì sự bí ẩn này khiến cho những nhà nghiên cứu và những người tìm hiểu về lý học Đông phương phải chấp nhận một cách khiên cưỡng tiền đề nói trên : Mộc khắc Thổ (lý tương khắc của Ngũ hành). Nhưng trong tiền đề nói trên thì Giáp – Mộc lại hợp Kỷ – Thổ; thật khó hiểu! Chưa hết, trong các sách ứng dụng phương pháp luận Âm dương – Ngũ hành vào các lĩnh vực đông y, lý học hoặc dự đoán tương lai, thường gặp những định đề cũng không có sự lý giải mà bắt buộc phải học thuộc lòng sau đây: Giáp hợp Kỷ phá Ất xung Canh; hoặc Mậu hợp Quí phá Giáp khắc Kỷ…
Tuy nhiên với vấn đề được đặt ra là: Lạc thư – Hà đồ là tiền đề của khoa Thiên văn học Đông phương và là sự ứng dụng những hệ luận của thuyết Âm dương – Ngũ hành thì tiền đề trên sẽ được lý giải như sau:
Chúng ta sắp xếp thập Thiên can theo lý Âm dương và Ngũ hành tương sinh, đánh số thứ tự từ 1 đến 10 từ Giáp đến Quí, ta sẽ được một bảng sau:

Qua bảng trên bạn đọc cũng nhận thấy: tất cả các số của thập Thiên can đều là những số có trên Hà đồ. Sự trùng hợp này chắc chắn không phải là một sự ngẫu nhiên khi chúng là những nền tảng căn bản của một học thuyết nhất quán. Vì vậy, khi sắp xếp thập Thiên can, trên cơ sở độ số theo thứ tự của ở bảng trên vào vị trí có độ số tương ứng của Cửu cung Hà đồ ta được bảng sau:

Như vậy, trên cơ sở độ số của Thiên can tương ứng với độ số của cửu cung Hà đồ, ta sẽ có sự tương hợp bởi cùng hành như sau:

Giáp (1) hợp Kỷ (6) trong hành Thủy;
Bính (3) hợp Tân (8) trong hành Mộc;
Mậu (5) hợp Quí (10) trong hành Thổ;
Canh (7) hợp Ất (2) trong hành Hỏa;
Nhâm (9) hợp Đinh (4) trong hành Kim.

Như vậy mỗi một hành trên Hà đồ đi liền với hai Thiên can một Âm một Dương.
Điều này cũng lý giải một bài phú truyền bí ẩn có nội dung như sau:

Nhất lục cộng tông (Một – Sáu cùng họ);
Nhị thất đồng đạo (Hai – Bảy cùng đi một đường);
Tam bát vi bằng (Ba – Tám như nhau);
Tứ cửu vi hữu (Bốn – Chín là bạn bè);
Ngũ thập đồng đồ (Năm – Mười cùng một loại).

Với đồ hình đã trình bày ở trên. Chúng ta có thể lý giải những trường hợp bí ẩn như: Giáp hợp Kỷ phá Ất xung Canh và những trường hợp tương tự như sau:
Giáp (1) nằm ở vị trí Dương Thủy, khắc Ất (2) Canh (7) nằm ở vị trí Âm – Dương Hỏa theo lý tương khắc của Ngũ hành; hoặc Mậu (5) nằm ở vị trí Dương Thổ khắc Giáp (1) Kỷ (6) nằm ở vị trí Âm dương Thủy. Từ đó suy ra một số định đề bí ẩn khác như: Bính là quí nhân của Kỷ vì độ số của Bính (3) và độ số của Kỷ (6) nằm trên cung tương sinh của Ngũ hành – Thủy sinh Mộc trên Hà đồ v.v…
Sự liên hệ Thiên can với Hà đồ là bổ đề cho sự chứng minh giả thuyết đã nêu trong sách này ở phần sau.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Lời kết: Một điều kỳ lạ là trong khi kinh Dịch và những vấn đề liên quan qua cổ thư chữ Hán – được các học giả trên thế giới quan tâm đến – có ...

“Kinh Dịch Phục Hy” Sự phủ nhận hệ thống Hậu thiên. Chính từ mâu thuẫn này đã làm nẩy sinh một hiện tượng trong lịch sử nghiên cứu kinh Dịch, đó là ...

Chương IV: Mâu thuẫn trong trình tự thời gian hình thành nội dung kinh Dịch. Lịch sử chính thống của kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ rằng: kinh ...

Mâu thuẫn trong việc tìm hiểu mục đích ra đời của kinh Dịch. Chính vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản cho nên ngay cả mục đích ra đời của ...

Chương III: Khoảng trống lý thuyết và sự ứng dụng của kinh dịch. Kể từ thời Hán, bắt đầu từ Hán Vũ Đế (156 – 87 tr.CN) làm theo đối sách của Đổng ...

Chương II:Hoàng đế nội kinh tố vấn. Hà đồ và những vấn đề liên quan: Tính bát hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấnNhư ...

Mâu thuẫn giữa những nhận định liên quan với cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái. Như đã trình bày với bạn đọc ở phần trên – theo lịch sử chính ...

Hà đồ và cấu hình tiên thiên bát quái. Như Phần I đã trình bày với bạn đọc, theo lịch sử kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán ghi lại, Hà đồ là đồ hình đầu ...

Chương I: Mâu thuẫn trong sự tương quan những tiền đề trong kinh dịch. Trong Hệ từ thượng, tiết thứ 5 viết “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc ...

Phần II: Những mâu thuẫn trong kinh dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Đèn cù: Khen ai khéo xếp nên cái đèn cù/ Đèn cù, đèn cù là đèn cù/ ...