Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần II - 8

Ngày đăng: Thứ năm 19/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Thật là tiện lợi! Nếu theo phương pháp giải đoán của ông Thiệu Khang Tiết. Bởi vì, với phương pháp giải đoán này, quả thật là người ta không cần đến hệ thống ký hiệu theo thứ tự của Hậu thiên Bát quái.
Cuốn Kinh Dịch Phục Hy đã phủ nhận tất cả các giả thuyết về mục đích ra đời của hệ thống Hậu thiên từ trước đến nay:
Nếu kinh Dịch là sách bói, sách sử, sách đạo lý... thuần túy như lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ tác dụng của nó từ thời Phục Hy đến trước Chu, thì rõ ràng không cần đến Chu Dịch như Kinh Dịch Phục Hy đã chứng tỏ. Mặc dù trên thực tế, Chu Dịch chính là sự ứng dụng hữu hiệu nhất đã trải qua hàng ngàn năm nay.
Thật là một sự phi lý vĩ đại, nhưng không thể phản bác – nếu không đặt kinh Dịch trong sự liên hệ với những vấn đề liên quan – khi kinh Dịch thiếu hẳn một hệ thống lý luận căn bản của nó.
Mâu thuẫn đối kháng không thể lý giải ở trên qua hiện tượng Kinh Dịch Phục Hy đã dẫn đến hai khả năng:
@ Phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của Chu Dịch .
@ Giữa đồ hình Tiên thiên Bát quái và hệ thống 64 quẻ Tiên thiên với đồ hình Hậu thiên Bát quái và hệ thống 64 quẻ Hậu thiên phải có một sự liên hệ hữu cơ rất chặt chẽ và xuất hiện đồng thời, có tác dụng riêng rẽ trong sự phản ánh thế giới khách quan. Không thể có khoảng cách thời gian gần 3000 năm từ thời Phục Hy đến thời Chu
Văn vương được.
Hiện tượng Kinh Dịch Phục Hy đã chứng tỏ một cách sắc sảo rằng: sự xuất hiện kinh Dịch và những vấn đề liên quan trong cổ thư chữ Hán. chỉ là sự phát hiện rời rạc những di sản của một nền văn minh bị tàn phá. (Tính thống nhất và hoàn chỉnh của kinh Dịch, cùng sự xuất hiện đồng thời của hai hệ thống Tiên thiên và Hậu thiên, xin được chứng tỏ rõ hơn ở phần III: Văn minh Văn Lang và bí ẩn của Bát quái).

Giả thiết về một luận điểm giải bỏ phần nhập dực trong kinh văn chu dịch và mâu thuẫn của nó.

Kinh Dịch đầy những mâu thuẫn đã trình bày ở trên thuộc về những tiền đề căn bản của nó. Đó là những mâu thuẫn không thể lý giải. Nhưng ngay cả khi ứng dụng kinh Dịch với những hiện tượng thuộc phạm trù của nó như thiên văn, y lý, lịch số cũng xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả thực tế với khoảng trống lý thuyết liên hệ. Những mâu thuẫn chủ yếu và cũng là nguyên nhân của sự huyễn ảo xuất phát từ phần Thập dực trong kinh văn (*) của kinh Dịch.

* Chú thích: Trong một số sách liên quan đến kinh Dịch phân biệt phần Kinh gồm: Soán từ, Hào từ- được coi là của Chu Văn Vương, Chu Công; phần Truyện gồm: Thập dực – được coi là của Khổng tử. Trong sách này gọi chung là “kinh văn” gồm: Soán từ, Hào từ, Thập dực; phân biệt với phần ký hiệu trong kinh Dịch gồm: Bát quái và hệ thống quẻ.

Chính từ phần Thập dực – được coi là của Khổng tử sáng tác – và những nhận dịnh bắt đầu từ những nhà nghiên cứu Hán Nho đã tạo nên lịch sử kinh Dịch và nội dung bí ảo của nó. Trong Thập dực thì phần Thuyết quái là phần bí ảo nhất và cũng là phần quan trọng nhất. Nội dung của Thuyết quái cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có người coi thuyết quái có yếu tố sấm vĩ, có người cho nó mang tính bói toán. Đã có học giả coi Thuyết quái là dị đoan, không dịch ra Việt ngữ như trường hợp bản Chu Dịch của Phan Bội Châu. Cũng có học giả bỏ một phần của Thuyết quái như trường hợp cuốn Kinh Dịch – Đạo của người quân tử của học giả Nguyễn Hiến Lê, ông chỉ trích dẫn và dịch một số đoạn ra Việt ngữ. Hoặc cũng có trường hợp không dịch ra Việt ngữ toàn bộ phần Thập dực như trường hợp cuốn Kinh Dịch – Cấu hình tư tưởng Trung Quốc của hai học giả Dương Ngọc Dũng & Lê Anh Minh…
Như phần trên đã trình bày, tác giả của Thập dực cho đến nay vẫn còn là sự bí ẩn, mặc dù những nhà nghiên cứu thời Hán – có sự tiếp nối từ Khổng tử (theo cổ thư truyền lại – đã trích dẫn) – đã khẳng định: thuộc về Khổng tử.
Vì vậy rất có khả năng xuất hiện luận điểm cho rằng: Thập dực không thuộc về kinh văn của kinh Dịch và loại bỏ hoàn toàn phần này, nhằm đơn giản hoá nội dung kinh Dịch. (Trên thực tế xu hướng này đang hình thành khi xuất hiện những nhận định cho rằng: Hà đồ Lạc thư không liên quan đến kinh Dịch. Với nhận định này – đã phủ nhận một tiền đề căn bản của kinh Dịch, được nhắc tới trong Thập dực).
Giả thuyết về khả năng hình thành luận điểm này – sẽ tránh được những mâu thuẫn không thể lý giải, ngay từ những tiền đề căn bản của kinh Dịch – đã trình bày ở trên như sau:
* Không còn vấn đề Hà đồ – Lạc thư
* Không còn vấn đề liên quan giữa Hà đồ và Tiên thiên Bát quái.
* Không còn vấn đề liên quan giữa Lạc thư và Hậu thiên Bát quái.
* Không còn vấn đề quái vị trong Hậu thiên Bát quái.
* Không còn vấn đề mâu thuẫn trong trình tự phát triển và hình thành kinh Dịch v .v...
Bởi vì, lúc đó kinh Dịch chỉ còn ký hiệu 64 quẻ của hệ thống Hậu thiên Bát quái và phần kinh văn chỉ còn lại Soán từ, Hào từ. Đây cũng là phần ổn định nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của kinh Dịch và cũng là phần được coi là xuất hiện một cách nhất quán về không – thời gian lịch sử: thuộc về thời nhà Chu – tức Chu Dịch – mà tác giả là Chu Văn Vương và Chu Công. Qua phần giới thiệu ở trên, thì nội dung chủ yếu của kinh Dịch chính là phần Chu Dịch này.
Giả thuyết nếu có một luận điểm như vậy chính thức đặt ra, thì đây sẽ là một lập luận chặt chẽ về hình thức theo kiểu “lực sĩ Asin không bao giờ đuổi kịp con rùa”. Bài toán đố cổ đó như sau: Lực sĩ Asin (nổi tiếng trong cuộc chiến của liên quân Hy Lạp đánh thành Troa) đứng cách con rùa 100 mét; giả thiết tốc độ của con rùa bằng 1% của Asin. Khi cả hai bắt đầu chạy cùng chiều, thì: Khi Asin chạy được 100 mét, con rùa chạy được 1 mét; Asin chạy 1 mét, con rùa chạy 1 cm… Cứ như vậy, lực sĩ Asin sẽ không thể đuổi được con rùa.
Luận điểm này trên thực tế đã đặt riêng bộ Chu Dịch – đã loại bỏ phần Thập dực – tức là loại bỏ Chu Dịch ra khỏi tất cả mọi vấn đề liên quan đến nó và sẽ đặt ra những vấn đề liên hệ nối tiếp sau đây:
@ Luận điểm này sẽ phủ nhận toàn bộ quá trình lịch sử kinh Dịch và những vấn đề liên quan (như thuyết Âm dương, thuyết Ngũ hành….) ngoại trừ Chu Dịch ; đặc biệt từ thời Hán trở lại đây. Bởi vì tất cả những vấn đề liên quan đến lịch sử kinh Dịch, kể từ khi vua “Phục Hy tắc Hà đồ hoạch quái” – đều bắt đầu từ phần Thập dực này. Sự phủ nhận này sẽ kéo theo hàng loạt sự phủ nhận của các cổ thư chữ Hán – có những hiện tượng và vấn đề liên quan đến Chu Dịch .
@ Chu Dịch sẽ trở thành một cuốn sách vô nghĩa khi bị loại khỏi phần ứng dụng và những vấn đề liên quan đến nó. Ngay cả phần ứng dụng phổ biến là một cuốn sách bói, cũng không có cơ sở niềm tin khi có nhiều hệ thống quẻ với những sự sắp xếp khác nhau và điều này mâu thuẫn với thực tế. Bởi vì, nếu không có phần Thập dực thì Soán từ và Hào từ sẽ rất tối nghĩa; đoạn trích dẫn sau đây trong Kinh Dịch – Đạo của người quân tử (sách đã dẫn, trang 37) chứng tỏ điều này:

Trong khi bị giam ở ngục Dữu Lý, có thể ông (tức Chu Văn Vương) đã làm việc trùng quái và chắc chắn là ông đã đặt tên và tìm nghĩa cho 64 quẻ, rồi viết Thoán từ cũng gọi là Quái từ (trong sách này gọi là Soán từ) cho mỗi quẻ. Nhờ ông mà ý nghĩa mỗi quẻ mới tinh diệu, lời đoán mới tương đối minh bạch, mà công việc đoán cũng nhất trí hơn trước, không còn có cảnh mỗi quan Thái bốc đoán theo ý riêng của mình nữa.
Nhưng lời đoán của ông rất ngắn, mỗi quẻ chỉ được một câu, chẳng hạn:
Quẻ Càn là “Nguyên, hanh, lợi trinh”, nghĩa là quẻ đó có những đức “đầu tiên lớn; thuận, thông, tiện phải bền chặt”.
Quẻ Thái là “Tiểu vãng, đại lai, cát, hanh” nghĩa là: âm qua dương lại tốt lành hanh thông.
Quẻ Ký tế là “Hanh, tiểu, lợi trinh, sơ cát, chung loạn” nghĩa là việc nhỏ thì hanh thông, lợi nhưng phải vững chí. Mới đầu tốt lành, cuối cùng loạn.

Trang 38:

Văn Vương mới chỉ đặt ra Thoán từ để giải nghĩa toàn quẻ. Chu Công đặt thêm Hào từ cho mỗi hào của mỗi quẻ, cộng là 384 hào, để giải nghĩa từng hào một. Chẳng hạn quẻ Càn, dưới Hào sơ (Hào 1), Chu Công viết: “Tiềm long vật dụng”, nghĩa là: rồng còn ẩn náu, không dùng được.
Dưới hào 2 ông viết: “Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân”, nghĩa là: Rồng đã hiện lên cánh đồng, ra mắt kẻ đại nhân thì lợi.

(Lược phần trích dẫn hào 3)

Tới đây Chu Dịch mới thành một cuốn sách có văn từ, nghĩa lý, đời sau gọi là Kinh và chia làm hai thiên: thượng cho 30 quẻ đầu, hạ cho 34 quẻ sau. Nhưng lời thoán và lời hào vẫn quá giản áo, ít ai hiểu nên đời sau phải chú thích làm thêm bảng Thập dực. Thập là 10, Dực là cánh con chim, có ý bảo Thoán từ của Văn Vương, Hào từ của Chu Công đặt ở dưới mỗi quẻ, mỗi hào, là đủ hình con chim rồi, bây giờ thêm Thập dực, là thêm lông cho con chim.

Qua đoạn trích dẫn trên, liên hệ với các đoạn trích dẫn khác trong sách này, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: theo cổ thư chữ Hán thì trước Văn Vương và Chu Công, kinh Dịch chỉ gồm ký hiệu (?), sau đó mới có Soán từ và Hào từ; nhưng nội dung rất khó hiểu. Bởi vậy, cũng theo cổ thư chữ Hán – Khổng tử mới thêm phần Thập dực vào để giảng rõ nghĩa và làm phong phú cho nội dung kinh Dịch. Chính phần Thập dực này làm nên lịch sử kinh Dịch đã trình bày ở trên. Mặc dù lịch sử đó đầy mâu thuẫn, nhưng là linh hồn của kinh Dịch và là cũng là sự ứng dụng sinh động của nó. Nay bỏ Thập dực, Chu Dịch sẽ không nói lên điều gì.
@ Mâu thuẫn giữa thực tế 2000 năm ứng dụng của Chu Dịch liên quan đến thuyết Âm dương Ngũ hành với nội dung Chu Dịch đã bỏ phần Thập dực lại là một vấn đề không lý giải được. (Khi mọi vấn đề liên quan bị phủ nhận, kể cả thuyết Âm dương vì dấu ấn của thuyết Âm dương – lần đầu tiên ghi nhận trong cổ thư chữ Hán – nằm trong phần Thập dực. Như vậy sẽ không có cơ sở nào để cho rằng kinh Dịch là vũ trụ quan cổ Đông phương, cho dù chỉ dừng lại ở trạng thái ý niệm). Và đây cũng là mâu thuẫn lớn nhất của luận điểm này.
Như vậy, với giả thuyết về một luận điểm có khả năng xảy ra cũng không thể làm sáng tỏ thêm về cội nguồn của kinh Dịch. Ngoại trừ cổ thư xưa nhất mà nhân loại phát hiện được liên quan đến kinh Dịch viết bằng chữ Hán và sự khẳng định của các học giả (cũng là quan chức) thời Hán.

Những dấu ấn của xã hội Trung Hoa cổ trong kinh văn Chu dịch?

Trong kinh văn kinh Dịch có những có những dấu ấn của xã hội Trung Hoa cổ. Đây cũng là những hiện tượng trong nội dung cùng với hình thức diễn đạt bằng Hán tự cho những cổ thư liên quan đến kinh Dịch. Có thể coi đó là sự bảo chứng về nguồn gốc kinh Dịch thuộc về văn minh Hoa Hạ. Những dấu ấn này được thể hiện như sau:

@ Trong kinh văn thường xuất hiện chữ “Tử viết”; được coi là chỉ ngài Khổng tử. Thực ra từ này cũng có thể hiểu như sau: “Tử viết” không đủ yếu tố để khẳng định là chỉ ngài Khổng tử, khi trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn cũng nhiều lần dùng từ “Tử viết” hoặc “phu tử”.

@ Hệ từ thượng chương XI – tiết 8:

Thị cố tiên sinh thần vật, thánh nhân tắc chi, thiên địa biến hoá, thánh nhân hiệu chi, thiên thuỳ tượng hiện cát hung, thánh nhân tượng chi, Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi.

Hà được coi là sông Hoàng Hà, Lạc được coi là sông Lạc Thủy, hai địa danh ở miền Bắc Trung Hoa.
Hệ từ hạ chương II – tiết 1, tiết 3, tiết 5 đều có nhắc đến một số từ nhân danh như Bào Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn là những nhân vật được coi là người đứng đầu của xã hội Trung Hoa cổ.

Hệ từ hạ chương II – tiết 5 viết:

Thần Nông thị một, Hoàng Đế , Nghiêu, Thuấn thị tác, thông kỳ biến, sử dân bất quyện, thần nhi hoá chi, sử dân nghi chi. Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu; thị dĩ tự thiên hựu chi, cát vô bất lợi. Hoàng Đế , Nghiêu, Thuấn quải y thường nhi. Thiên hạ trị. Cái thủ chư kiền khôn.

Chương V – tiết 12:

Tử viết: Nhan thị chi tử, kỳ đải thứ cơ hồ, hữu bất thiện vị thường bất tri; tri chi vị thường phục hành dã. Dịch viết: Bất viễn phục, vô chỉ hối, vô cát.

“Nhan thị chi tử” được coi là chỉ ngài Nhan Hồi, một học trò giỏi của Khổng tử.

Chương XI – tiết 1:

Dịch chi hưng dã, kỳ đương Ân chi mạt thế, Chu chi thịnh đức da? Đương Văn Vương dữ Trụ chi sự da? Thị cố kỳ từ nguy. Nguy dã, sử bình, dịch dã sử khuynh. Kỳ đạo thậm đại. Bách vật bất phế, cụ dĩ chung thuỷ, kỳ yếu vô cữu. Thử chi vị Dịch chi đạo dã.

Những từ Ân, Chu chỉ thời đại nhà Ân Thương và nhà Chu. Văn Vương là vua đầu triều Chu và Trụ là vua cuối triều Ân Thương.

Cũng có câu tương tự như trên trong chương VI – tiết 1:

Dịch chi hưng dã, kỳ ư chung cổ hồ? Tác Dịch dã, kỳ hữu ưu hoạn hồ.

Quẻ thái – Hào từ
Lục ngũ: Đế Ất qui muội, dĩ chỉ nguyên cát.
Vua Ất cho em gái về nhà chồng, có phước, rất tốt lành.

Vua Đế Ất nói trên được coi là thời Tổ Ất nhà Ân Thương.
Thời Hùng Vương thứ X của Văn Lang, theo tư liệu sưu tầm của cụ Biệt Lam Trần Huy Bá chép: Chi Ất – Hùng Uy Vương, huý Hoàng Long Lang, sinh năm Giáp Ngọ (1287 tr.CN), lên ngôi khi 37 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Uy Vương, ở ngôi tất cả 90 năm, từ năm Canh Ngọ (1251 tr.CN) đến Kỷ Hợi (1162 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân.

Quẻ tùy
Thượng lục: Câu hệ chi, nãi tùng duy chi, vương dụng hanh vu Tây sơn.
Lòng mình theo mình cấu kết không rời, không trói buộc cũng theo, như dân ấp Mân theo vua chạy nạn qua Tây sơn.

Đất Mân là địa danh ở vùng Phúc Kiến ngày nay. Vào thời Chu, đất Mân không thuộc về Hoa Hạ. Không rõ vua nào trong sử Trung Hoa chạy loạn từ đất Mân, có dân chúng chạy theo qua Tây Sơn. Chữ “hanh” theo giáo sư Bùi Văn Nguyên thì là sự chép nhầm từ chữ “hưởng” - có nghĩa là tế lễ - và chữ “vương” được hiểu là vua Chu Văn Vương.

Quẻ thăng
Lục tứ: Vương dụng hưởng vu kỳ sơn, cát, vô cữu.
Vua dùng để tế núi Kỳ, tốt lành, không lỗi.

Kỳ Sơn là một địa danh của Trung Hoa, ở Tây Bắc sông Dương Tử. Người viết cho rằng nghĩa Hào Lục tứ, quẻ Thăng có thể hiểu như sau: một hòn núi lạ (kỳ sơn – có thể là hòn non bộ làm tặng vua) dâng lên vua dụng hưởng, tốt, không có lỗi.

Quẻ quy muội
Lục ngũ: Đế Ất quy muội, kỳ quân nhi duệ, bất như kỳ đệ chi duệ lương, nguyệt cơ vọnh cát.
Vua Ất gả em gái, áo cưới không sặc sỡ bằng áo của nàng hầu, trăng sắp tròn, tốt lành.
Đế Ất: đã trình bày ở trên

Quẻ ký tế
Cửu tam: Cao Tôn phạt Quỷ phương, tam niên khắc chi, tiểu nhân vật dụng
Vua Cao Tôn đánh dẹp Quỷ phương, ba năm mới thắng chớ dùng tiểu nhân.

Vua Cao Tôn – theo giáo sư Bùi văn Nguyên trong Kinh Dịch Phục Hy – (sách đã dẫn, trang 130) thì vua Cao Tôn nhà Ân Thương tức là vua Vũ Đinh, con Đế tiểu Ất, cháu vua Bàn Canh. Vũ Đinh có đánh dẹp quanh Động Đình Hồ đến vùng Quí Châu (phần đất của Văn Lang, Nam sông Dương Tử – theo truyền thuyết). So sánh với tài liệu của cụ Biệt Lam Trần Huy Bá thì vua Vũ Đinh còn gọi là vua Ốc Đinh; tương đương với thời Hùng Vương thứ 6 của Văn Lang. Tài liệu sưu tầm của cụ Biệt Lam Trần Huy Bá viết:

6. Chi Ly: Hùng Hồn Vương, huý Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr. Tây Lịch), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền hai đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm đều xưng Hùng hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr. Tây lịch) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr. Tây lịch). Ngang với Trung Quốc vào thời Ốc Đinh nhà Thương.

Người viết cho rằng Hào Cửu Tam, quẻ Ký Tế có thể hiểu theo nghĩa sau: Vua Cao Tôn đánh nhau ở vùng Quỷ, sau ba năm bị thua (khắc chi – gãy cành), vì dùng tiểu nhân.
Từ “Quỷ“ xuất hiện rất sớm trong truyền thuyết Việt Nam. Trong Lĩnh Nam Chích Quái – truyện Hồng Bàng thị chép:

Lại phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương để cai trị đất Nam, lấy hiệu là Xích Quỷ.

Sự tổng hợp những dấu ấn liên quan đến lịch sử, địa danh Trung Hoa trong Chu Dịch được trình bày ở trên đã chứng tỏ những dấu ấn đó rất mơ hồ, không đủ sức thuyết phục so với những mâu thuẫn không thể lý giải trong kinh Dịch.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Mâu thuẫn trong việc tìm hiểu mục đích ra đời của kinh Dịch. Chính vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản cho nên ngay cả mục đích ra đời của ...

Chương III: Khoảng trống lý thuyết và sự ứng dụng của kinh dịch. Kể từ thời Hán, bắt đầu từ Hán Vũ Đế (156 – 87 tr.CN) làm theo đối sách của Đổng ...

Chương II:Hoàng đế nội kinh tố vấn. Hà đồ và những vấn đề liên quan: Tính bát hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấnNhư ...

Mâu thuẫn giữa những nhận định liên quan với cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái. Như đã trình bày với bạn đọc ở phần trên – theo lịch sử chính ...

Hà đồ và cấu hình tiên thiên bát quái. Như Phần I đã trình bày với bạn đọc, theo lịch sử kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán ghi lại, Hà đồ là đồ hình đầu ...

Chương I: Mâu thuẫn trong sự tương quan những tiền đề trong kinh dịch. Trong Hệ từ thượng, tiết thứ 5 viết “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc ...

Phần II: Những mâu thuẫn trong kinh dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Đèn cù: Khen ai khéo xếp nên cái đèn cù/ Đèn cù, đèn cù là đèn cù/ ...

Phụ chương: Bàng tóm lược lịch sử kinh dịch và những vấn đề liên quan. Để bạn đọc dễ dàng theo dõi những vấn đề đã trình bày ở Phần I, xin đươc ...

Chương V: Lịch sử thuyết Âm Dương và thuyết ngũ hành theo cổ thư chữ Hán. Như phần trên đã trình bày, cổ thư chữ Hán cho rằng căn nguyên của Bát quái do ...

Nguồn gốc Hà đồ - Lạc thư trong cổ thư chữ HánLạc thư – Hà đồ là hai đồ hình bí ẩn nhất trong lịch sử kinh Dịch cũng như của văn hoá Đông phương ...