Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần II - 7

Ngày đăng: Thứ năm 19/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Nhưng chính sự phát triển liên tục không đứt đoạn lại là sự tự phản bác, vì những mâu thuẫn trong quá trình phát triển và hình thành thuyết Âm dương – Ngũ hành với những vấn đề liên quan trong các cổ thư chữ Hán. Ngoài phần chứng minh tính mâu thuẫn trong sự liên hệ những vấn đề căn bản của kinh Dịch đã trình bày ở trên, thì diễn tiến lịch sử của kinh Dịch cũng chứng tỏ một mâu thuẫn không thể lý giải:
Hiện tượng khó lý giải đầu tiên trong lịch sử kinh Dịch là: Những ký hiệu Bát quái hoàn chỉnh được ra đời vào thời vua Phục Hy; trước những ý niệm căn bản của một học thuyết vũ trụ quan hơn 3000 năm; thực tế xuất hiện của nó lại sau thời điểm ra đời 4000 năm – vào đời Tống.
Như vậy hệ quả (Bát quái) lại là cái có trước ý niệm về Âm dương – được ra đời vào khoảng từ Chu Văn Vương đến Khổng tử. Từ Khổng tử về sau mới xuất hiện Thái cực là gốc của Âm dương. Sự lưu truyền kinh Dịch từ Khổng tử trở về sau, đến đời Hán, được cổ thư Trung Hoa miêu tả là một sự kế thừa liên tục như đã trích dẫn ở trên. Nhưng cho đến tận ngày nay sự phát triển tiếp tục đó lại không hề lý giải được những vấn đề căn bản trong kinh Dịch.
Một mâu thuẫn không thể lý giải nữa là những trước tác khác ngoài kinh Dịch được coi là của chính Khổng tử như: Luận ngữ, kinh Xuân Thu lại không hề để lại dấu ấn nào chứng tỏ sự liên quan đến kinh Dịch và đây là điều vô lý. Chưa hết, thuyết Ngũ hành nếu theo cổ thư chữ Hán thì ra đời trước Âm dương vào thời vua Đại Vũ. Hoặc theo các nhà nghiên cứu hiện đại và lịch sử Trung Hoa qua Sử ký của Tư Mã Thiên: được tổng hợp bởi Trâu Diễn. Nhưng khi được coi như là một học thuyết – mới chỉ dừng lại ở những ý niệm căn bản rất mơ hồ – thì Ngũ hành là hệ quả của sự vận động Âm dương. Nhưng Ngũ hành lại là nội dung chính của Hà đồ, tiền đề của Bát quái. Cái vòng lẩn quẩn này phải chăng đã được ông cha ta đã diễn tả qua bài đồng dao độc đáo sau đây:

“Kỳ đà là cha Cắc ké,
Cắc ké là mẹ Kỳ nhông,
Kỳ nhông là ông Kỳ Đà
Kỳ đà lại là cha Cắc ké ...”(*)

----------------------------------------------
* Chú thích : Trong việc giải thích về nguyên nghĩa chữ Dịch cũng có người bảo Dịch là con thằn lằn thật. Đoạn trích dẫn sau đây trong sách “Kinh Dịch cấu hình tư tưởng Trung Quốc” (sách đã dẫn - trang 15) để bạn đọc tham khảo:
Lê Văn Quán, căn cứ theo Hứa Thận, Lý Thời Trân, Hoàng Tôn Viêm, cho rằng nguồn gốc ngôn ngữ của chữ Dịch là một từ chỉ con thằn lằn hay thay đổi màu sắc, nên cổ nhân đã dùng nó để tượng trưng cho khái niệm biến dịch.(Chú thích trong sách đã dẫn :Lê Văn Quán. Chu Dịch và vũ trụ quan, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 1995, tr.12). Hứa Thận trong Thuyết văn giải tự là người đầu tiên giải thích “dịch “ tức là “con thằn lằn”.

Đây chính là điều phi lý và là sự mâu thuẫn lớn nhất giữa nội dung kinh Dịch và lịch sử phát triển được coi là liên tục của nó. Nếu khiên cưỡng mà cho rằng: sự phát triển của nhận thức – cũng như tự nhiên – luôn bắt đầu từ sự đơn giản và điều này lặp lại trong kinh Dịch: Từ những nét vạch tinh giản của hoàng đế Phục Hy; qua sự biến đổi của Chu Văn Vương thành Hậu thiên Bát quái kèm những lời chú giải cô đọng; Chu Công làm rõ nghĩa Hào từ; rồi được Khổng tử tiếp nối bổ sung cho nội dung thêm phong phú. Lời văn cổ thường tinh giản, cô đọng nên khó hiểu… Tính hợp lý hình thức của lập luận này là đã so sánh sự phát triển của nhận thức và tự nhiên với sự phát triển của kinh Dịch; nhưng về nội dung thì đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau:
Trong quá trình phát triển của nhận thức bắt đầu từ sự nhận thức những hiện tượng, đến một tư duy tổng hợp. Sau đó mới trở thành một kinh nghiệm hoăc một sự nhận thức qui luật phổ biến cho những hiện tượng liên quan. Nhưng lịch sử phát triển của kinh Dịch và những vấn đề liên quan theo cổ thư chữ Hán lại là một quá trình ngược, nếu tính từ sau hoàng đế Phục Hy. Trong kinh văn của kinh Dịch đã chứng tỏ quá trình nhận thức từ đơn giản đến phức tạp và sự tổng hợp của họ
Bào Hy. Đoạn trích dẫn sau đây chứng tỏ điều này:

Hệ từ thượng chương IV, tiết 2 viết:

Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh tri cố; nguyên thuỷ phản chung, cố tri sanh tử chi thuyết; tinh khí vi vật, du hồn vi biết, thị cố tri quỷ thần, chi tình trạng.
Ngẩng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của sáng tối. Quay về nguyên thuỷ của vạn vật, theo dõi đến cuối cùng nên biết được bài học về sống chết. Tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật, hồn thoát ra tạo nên biết hóa nên biết được tình trạng của quỷ thần.

Chương VIII – tiết 1:

Thánh nhân hữu dĩ thiên địa chi trách, nhi nghĩ chư kỳ hình dung. Tượng kỳ vật nghi, thị cố chi tượng.
Thánh nhân thấy được cái phức tạp trong thiên hạ; quan sát các hình thể và hiện tượng mà tượng hình, gọi đó là tượng.

Tiết 2

Thánh nhân hữu dĩ kiến thiên hạ chi động, nhi quan kỳ hội thông ,dĩ hành kỳ điển lễ, hệ từ yên dĩ đoán kỳ cát hung,thị cố vị chi hào.
Thánh nhân thấy được cái động trong thiên hạ mà xét cái lẽ hội tụ và tương quan của chúng, tìm ra được qui luật vận chuyển của chúng, rồi đặt ra lời ghép vào (mỗi hào) để luận cát hay hung.Do đó mà gọi là hào.

Hệ Từ Hạ chương II – tiết 1:

Cổ giả Bào Hy thị chi vương thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan thượng ư thiên, phủ tắc quan pháp ư địa; quan điểu thú chi văn, dữ địa chi nghi; cận thủ chư thân, viễn thủ chư vật; Ư thị thuỷ tác Bát quái dĩ thông thần minh chi đức, dĩ loại vạn vận chi tình.
Ngày xưa họ Bào Hy cai trị thiên hạ, ngẩng lên xem tượng trên trời, cúi xuống nhìn vật dưới đất; xem văn vẻ của chim muông cùng sự thích nghi với trời đất; gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở vật; thế rồi làm ra 8 quẻ để thông suốt cái đức của thần minh và phân loại cái tính của vạn vật.

Qua phần trích dẫn ở trên thì bạn đọc cũng thấy rằng: Chính những đoạn kinh văn này đã xác nhận để có được Bát quái, cổ nhân đã tổng hợp các hiện tượng tự nhiên, quán xét đến căn nguyên và qui luật vận động của vũ trụ (Nguyên thuỷ phản chung) mới làm ra Bát quái. Điều này chứng tỏ Bát quái là hệ quả sự tổng hợp của nhận thức vũ trụ quan và qui luật vận động từ khởi nguyên của vũ trụ, đúng như sự phát triển tự nhiên của tư duy: từ đơn giản đến phức tạp. Tất nhiên, không cần phải chờ đến ngót 3000 năm sau để Chu Văn Vương phải bận tâm viết Soán từ; Chu Công Đán viết hào từ; rồi phải chờ đến ngót 700 năm nữa, Khổng tử mới bổ sung thêm Âm dương, Thái cực vào làm gì.
Nếu cho rằng Thập dực là do Khổng tử viết, thì căn cứ vào đâu để ông biết rằng cách đó hơn 3000 năm hoàng đế Phục Hy đã “Ngẩng xem tượng trời, cúi xem tượng đất…” và những vấn đề khác liên quan? Phải chăng cổ nhân đã có bản văn truyền lại? Nếu như vậy thì ông chẳng phải trước tác Thập dực làm gì. Trong Thập dực có những dấu ấn được coi là lịch sử của thời Ân – Thương. Nếu Khổng tử đã rành lịch sử cổ đại như thế thì tại sao trong kinh Xuân thu – một tác phẩm lịch sử Trung Hoa – ông lại chỉ giới hạn từ thời Lỗ Ẩn Công (khoảng 800 năm tr.CN). Chính những mâu thuẫn trong sự tương quan những
tiền đề căn bản của kinh Dịch và nội dung của nó là sự phản bác lập luận này.
Lập luận khiên cưỡng nêu trên, cũng tương tự như cho rằng: công thức E=mc2 ra đời trước thuyết Tương đối để phản ánh qui luật từ đơn giản đến phức tạp.
Hiện tượng những ý niệm căn bản của kinh Dịch ra đời sau hệ quả của nó với khoảng cách thời gian kỷ lục – ít nhất là ngót 700 năm – không khỏi khiến dẫn đến sự liên tưởng từ một câu ca dao được tổ tiên người Việt truyền lại:

Sinh con (Bát quái ) rồi mới sinh cha (Âm dương)
Sinh cháu giữ nhà (Ngũ hành), rồi mới sinh ông (Thái cực).

Những mâu thuẫn không thể lý giải nêu trên, thậm chí đã có những nhà Dịch học phải coi kinh Dịch là sách trời không có chữ.

Từ xưa tới nay, Bát quái được gọi là sách trời không có chữ, đó là vì nó là lý luận của một khoa học thần kỳ nhưng bí ảo, chưa hề có một tiền lệ nào trong lịch sử văn hóa thế giới. Về nguồn gốc của nó, tự cổ chí kim, tuy sự nghiên cứu và khảo sát chưa bao giờ đứt đoạn, nhưng cho đến nay vẫn là “bí ảo”, mỗi người bàn một cách. (*)

* Chú thích: Chu Dịch với dự đoán học, sách đã dẫn, trang 25.

Tất cả những mâu thuẫn không thể lý giải là cơ sở để đặt lại vấn đề cội nguồn thuyết Âm dương - Ngũ hành và kinh Dịch. Chắc chắn Khổng tử chưa bao giờ nói câu: “Phượng điểu bất chí, Hà bất xuất đồ. Ngô dĩ hĩ phù”, vua Phục Hy cũng chưa bao giờ nhìn thấy con Long mã hiện lên ở sông Hoàng Hà, vua Đại Vũ cũng chẳng bao giờ chép Lạc thư từ lưng Rùa thần… và hàng loạt những hiện tượng tương tự khác.

Mâu thuẫn giữa sự liên hệ trong phương pháp bói dịch và khoảng cách thời gian xuất hiện của hai đồ hình Tiên thiên và Hậu thiên bát quái

Theo như phương pháp bói Dịch hiện lưu hành thì người ta sử dụng số thứ tự quẻ của Tiên thiên Bát quái. Nhưng hệ thống Tiên thiên Bát quái cùng với số thư tự của nó lại chỉ xuất hiện từ đời Tống, như đã trình bày ở trên. Do đó, hoàn toàn có cơ sở để cho rằng: trước thời Tống, người ta không thể có phương pháp dự đoán với sự định vị của thời gian, mà chỉ có thể dự đoán bằng cách sử dụng 3 đồng tiền cổ trên đĩa hoặc mai rùa. Còn một phương pháp nữa là bói bằng cỏ thi, hoặc que bói. Với những phương pháp này thì khi có được quẻ, người coi chỉ cần sử dụng sự lý giải trong hệ thống 64 quẻ thuộc Chu Dịch để luận đoán.
Như vậy, trước thời Chu - khi chưa có sự chú giải của Chu Văn Vương (theo lịch sử kinh Dịch từ cổ thư chữ Hán) - người ta không thể bói Dịch vì các quẻ chưa có ý nghĩa của nó. Đây là một sự vô lý (sẽ trình bày rõ hơn ở phần sau).
Phương pháp dự đoán có sự liên hệ giữa Bát quái Tiên thiên và Hậu thiên, là vấn đề đặt ra trong phần này như sau:

Phương pháp tính quẻ theo ngày giờ

I– Cách tính quẻ theo “Mai Hoa Dịch Số “

Bố quái
– Năm :Tý 1;Sửu 2; Dần 3; Mão 4; Thìn 5; Tỵ 6; Ngọ 7; Mùi 8; Thân 9; Dậu 10; Tuất 11; Hợi 12.
– Tháng: tháng giêng 1, tháng hai 2, … tháng chạp 12.
– Ngày: mồng một 1, mồng hai 2… ba mươi 30.
– Giờ: giờ Tý 1, giờ Sửu 2… giờ Hợi 12.
a. Thượng quái
Số năm + số tháng + số ngày = tổng số chia cho 8, lấy số dư là thượng quái (nếu số dư là không thì lấy số 8)
Thí dụ: Năm Sửu, tháng 8, ngày 16 thì cộng 2 + 8 + 16 = 26 : 8 = 3 với số dư là 2; số 2 là quẻ Đoài (tính theo Tiên thiên Bát quái: Kiền 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8).
b. Hạ quái:
Lấy tổng số của thượng quái cộng số của giờ, rồi chia cho 8, số dư làm hạ quái (nếu số dư là 0 thì lấy số 8).
Thí dụ: Ngày tháng như ở thí dụ trên, giờ Thân thì cộng 26 + 9 = 35 : 8 = 4 với số dư là 3, số 3 là quẻ Ly.
c. Hào động
Lấy tổng số năm + tháng + ngày + giờ chia cho 6, số dư làm hào động (nếu số dư là 0 thì lấy số 6).
Với thí dụ trên đây thì ta có tổng số 35 : 6 = 5 với số dư là 5, vậy hào động là hào ngũ.
Tóm lại ta có quẻ Trạch hỏa Cách với hào ngũ động; hỗ quái trên là Kiền, dưới là Tốn; và biến quái là Lôi hỏa Phong (hào ngũ dương biến âm). (*)

* Chú thích: Kinh Dịch và đời sống, sách đã dẫn, trang 459.

Như vậy, với phương pháp độn quẻ như trên chúng ta nhận thấy rằng:
@ Thượng quái: Do độ số ngày – tháng – năm không đổi, nên quái thượng trong ngày sẽ không đổi.
@ Hạ quái: do một ngày âm lịch chỉ có 12 giờ bắt đầu từ giờ Tý (1) cho đến giờ Hợi (12); như vậy hạ quái trong ngày sẽ lần lượt bắt đầu từ quái có độ số kế quái thượng (do cộng 1 bắt đầu từ giờ Tý), sau 8 giờ thì sẽ lặp lại 4 quẻ đầu (do một ngày Âm lịch có 12 giờ).
@ Quẻ: Từ hai tiền đề trên thì quẻ tìm được trong một ngày luôn luôn có Thượng quái cố định; còn Hạ quái sẽ qua một chu kỳ của Bát quái Tiên thiên và sẽ có bốn quẻ lặp lại trùng với bốn quẻ đầu trong ngày vào giờ thứ 9 đến 12.
Bây giờ chúng ta xét đến thứ tự các quẻ liên tiếp trong ngày so với hệ thống 64 quẻ Hy Dịch đã trình bày ở phần trên:
Do nguyên tắc kết hợp của 64 quẻ Hy Dịch theo thứ tự từ quái thứ nhất (Càn) làm Hạ quái, tuần tự kết hợp với 8 quái cũng theo thứ tự từ 1 đến 8. Từ đó chúng ta nhận thấy rằng: thứ tự của Hạ quái trong Hy Dịch chính là thứ tự của Thượng quái trong cách độn quẻ. Vì vậy 2 quẻ
kế tiếp nhau trong ngày sẽ cách nhau đúng 8 quẻ trong hệ thống Hy Dịch; còn nếu đổi vị trí thượng, hạ của hai quẻ kế tiếp trong ngày, thì đó chính là thứ tự liên tiếp của hệ thống này– nếu bắt đầu từ quẻ thuần Càn là quẻ thứ nhất. (Như vậy độ số của Leibnitz chính là thứ tự đảo ngược, nếu tính theo chiều thuận bắt đầu từ quẻ thuần Càn của hệ thống Hy dịch).
Điều chúng ta cần lưu ý ở đây là: khi bốc quẻ thì chúng ta phải theo độ số của Bát quái Tiên thiên và sẽ tìm được ký hiệu của quẻ theo phương pháp trên. Nhưng để luận đoán chúng ta phải căn cứ vào phần kinh văn của chính quẻ đó trong Chu Dịch (tức hệ thống 64 quẻ Hậu thiên). Như vậy, chứng tỏ rằng:
Cấu trúc của hệ thống 64 quẻ Hậu thiên – để có lời chú giải – và hệ thống 64 quẻ Tiên thiên phải có một sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Không có cấu trúc 64 quẻ Hậu thiên và lời chú giải thì sẽ không thể nào có cơ sở tìm ra nội dung của quẻ. Tức là lời kinh văn trong Chu Dịch được diễn đạt do tính chất cấu trúc của hệ thống này (thứ tự 64 quẻ Chu Dịch được bảo chứng bằng Tự Quái truyện).
Sự mâu thuẫn ở đây là: Phương pháp tính quẻ và luận quẻ theo ngày, giờ, tháng, năm bằng sự kết hợp giữa hệ thống Hy dịch và hệ thống Chu Dịch đã được chứng nghiệm trên thực tế đã hàng ngàn năm, kể từ thời Tống đến nay. Nhưng khoảng cách sự phát hiện giữa hai hệ thống này cũng cả hàng ngàn năm (ngót 3000 năm, nếu tính tới thời Chu; hơn 4000 năm nếu tính đến thời Tống) cho dù là một sự phát hiện thuận chiều: Tiên thiên có trước và Hậu thiên có sau thì cũng đã là điều phi lý. Huống chi với khoảng cách ấy, lại là một thứ tự bị đảo ngược: Hậu thiên có trước, Tiên thiên có sau. Trong khi độ số quái vị của Tiên thiên lại là tiền đề của sự luận đoán trong Hậu thiên – do ngài Thiệu Khang Tiết phát hiện? Đây rõ ràng là điều cực phi lý.
Hiện tượng liên quan chặt chẽ giữa hệ thống Tiên thiên & Hậu thiên đã đặt ra những vấn đề sau đây:
@ Khi chưa có hệ thống 64 quẻ Hậu thiên ra đời, trong khoảng thời gian ngót 3000 năm tr.CN, người ta không thể xem bói bằng ký hiệu Bát quái. Bởi vì lúc đó chưa có lời chú giải của Chu Văn Vương và Chu Công.
@ Nếu cho rằng: Ký hiệu của quẻ tự nó đã nói lên nội dung vấn đề, thì ký hiệu của quẻ tìm được trong Tiên thiên, cũng chính là ký hiệu của quẻ trong Hậu thiên, tức là ý nghĩa như nhau (Được chứng tỏ trong phương pháp đoán quẻ của ông Thiệu Khang Tiết). Vậy phải chăng ngài Chu Văn Vương đã làm một việc thừa khi sắp xếp lại hệ thống 64 quẻ Tiên thiên thành hệ thống Hậu thiên?
@ Việc ngài chú giải quẻ sẽ không phải là một sự sáng tạo mà chỉ là kiết tập lời giải đoán có sẵn. Nếu vậy thì không cần đến thiên tài xuát hiện muộn mằn của ông sau gần 3000 năm phải sắp lại hệ thống Tiên thiên thành Hậu thiên để làm gì.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Mâu thuẫn trong việc tìm hiểu mục đích ra đời của kinh Dịch. Chính vì thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản cho nên ngay cả mục đích ra đời của ...

Chương III: Khoảng trống lý thuyết và sự ứng dụng của kinh dịch. Kể từ thời Hán, bắt đầu từ Hán Vũ Đế (156 – 87 tr.CN) làm theo đối sách của Đổng ...

Chương II:Hoàng đế nội kinh tố vấn. Hà đồ và những vấn đề liên quan: Tính bát hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấnNhư ...

Mâu thuẫn giữa những nhận định liên quan với cấu trúc phương vị hậu thiên bát quái. Như đã trình bày với bạn đọc ở phần trên – theo lịch sử chính ...

Hà đồ và cấu hình tiên thiên bát quái. Như Phần I đã trình bày với bạn đọc, theo lịch sử kinh Dịch mà cổ thư chữ Hán ghi lại, Hà đồ là đồ hình đầu ...

Chương I: Mâu thuẫn trong sự tương quan những tiền đề trong kinh dịch. Trong Hệ từ thượng, tiết thứ 5 viết “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc ...

Phần II: Những mâu thuẫn trong kinh dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Đèn cù: Khen ai khéo xếp nên cái đèn cù/ Đèn cù, đèn cù là đèn cù/ ...

Phụ chương: Bàng tóm lược lịch sử kinh dịch và những vấn đề liên quan. Để bạn đọc dễ dàng theo dõi những vấn đề đã trình bày ở Phần I, xin đươc ...

Chương V: Lịch sử thuyết Âm Dương và thuyết ngũ hành theo cổ thư chữ Hán. Như phần trên đã trình bày, cổ thư chữ Hán cho rằng căn nguyên của Bát quái do ...

Nguồn gốc Hà đồ - Lạc thư trong cổ thư chữ HánLạc thư – Hà đồ là hai đồ hình bí ẩn nhất trong lịch sử kinh Dịch cũng như của văn hoá Đông phương ...