Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần II - 5

Ngày đăng: Thứ tư 18/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Điều này cho thấy phạm trù của kinh Dịch bao trùm khắp sự vận động của vũ trụ và những vấn đề liên quan đến con người. Nhưng kinh Dịch chỉ có thể coi là hệ quả của một hệ thống lý thuyết vũ trụ quan mà những ý niệm căn bản của nó chỉ được thể hiện bằng những khái niệm rất mơ hồ. Trong kinh văn của kinh Dịch có những dấu ấn chứng tỏ điều này:

* Chú thích: Bạn dọc lưu ý – năm sinh của Đổng Trọng Thư trùng khớp với năm Âu Lạc mất nước – theo cái nhìn mới của một số các nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại.

Hệ Từ thượng truyện, viết :

Chương I

Tiết 1: Thiên tôn địa ty, Kiền Khôn định hỹ; ty cao dĩ trần, quý tiện vị hỹ; động tĩnh hữu thường,cương nhu đoán hỹ; phương dĩ loại tụ,vật dĩ quần phân,cát hung sinh hỹ; tại thiên thành tượng,tại địa thành hình, biến hoá hiện hỹ.
Trời cao đất thấp thì Kiền Khôn đã định. Thấp cao bày ra thì sang hèn chia thành ngôi. Động tĩnh có thường thì cứng mềm phân biệt. Các loại tự tùng phương, các vật chia thành bầy thì tốt xấu sinh ra.Trên trời biến thành tượng; dưới đất hoá thành hình thì biến hoá hiện ra vậy.
Tiết 2: Thị cố, cương nhu tương ma, Bát quái tương đảng.
Cho nên cứng mềm dời đổi nhau,tám quẻ luân phiên nối tiếp nhau.
Tiết 3: Cổ chi dĩ lôi đình, nhuận chi dĩ phong vũ, nhật nguyệt vận hành, nhất hàn nhất thử.
Kích động bằng sấm sét, thấm nhuần bằng gió mưa, mặt trời và mặt trăng vận hành lúc nóng lúc lạnh.
Tiết 4: Kiền đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ.
Đạo Kiền làm nên con trai. Đạo Khôn làm nên con gái.
Tiết 5: Kiền tri thái thuỷ, Khôn tác thành vật.
Kiền tạo ra cái bắt đầu lớn lao, Khôn làm thành các vật.
Tiết 6: Kiền dĩ dị tri, Khôn dĩ giản năng.
Kiền biết qua cái dễ dãi, Khôn làm qua cái giản dị.
Tiết 7: Dị, tắc dị tri; giản, tắc dị tòng; dị tri, tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công; hữu thân tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại; khả cửu tắc hiền nhân chi đức, khả đại tắc hiền nhân chi nghiệp.
Dễ dãi thì dễ biết, đơn giản thì dễ theo. Dễ biết tất được thân thiết, dễ theo tất có công. Thân thiết thì lâu bền, có công thì trở nên lớn lao. Lâu bền là đức của người hiền, lớn lao là nghiệp của người hiền.
Tiết 8: Dị giản nhi thiên hạ chi lý đắc hỹ, thiên hạ chi lý đắc, nhi thành vị hồ kỳ trung hỹ.
Nhờ giản dị mà biết được cái lẽ của thiên hạ. Biết dược cái lẽ của thiên hạ mà trọn vẹn cái ngôi của người trong trời đất vậy.

Chương II:
Tiết 2:
Cương nhu tương thôi, nhi sinh biến hoá.
Cứng mềm dời đẩy nhau, mà sinh ra biến hoá.
Tiết 4: Biến hoá giả, tấn thoái chi tượng dã, cương nhu giả, chú dạ chi tượng dã, lục hào chi động, tam cực chi đạo dã.
Biến hoá là hào âm biến thành hào dương, có nghĩa là tiến; hào dương biến thành hào âm có nghĩa là thoái. hào dương tượng ánh sáng, hào âm tượng tối tăm, sáu hào trong quẻ được chia ra tam tài: trời, đất và người. Hai hào thấp nhất là hào địa, hai hào giữa là hào nhân, hai hào trên cùng là hào thiên. Đoạn này chỉ rõ phạm vi nội dung kinh Dịch mô phỏng tình trạng thế gian.
(Đoạn này tác giả không dịch mà chỉ chú thích như trên. Người viết xin mạn phép diễn tả như sau: Sự biến hóa tìm thấy hình tượng ở tiến lui; cứng mềm tìm thấy hình tượng ở sáng tối. Sáu hào vận động trong ba cực của Đạo).

Chương IV:
Tiết 1:
Dịch, dữ thiên địa chuẩn, cố năng di luân thiên địa chi đạo.
kinh Dịch chứa đựng mực thước của trời đất, nên cho ta hiểu đạo và trật tự của trời đất.
Tiết 2: Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố chi u minh chi cố; nguyên thuỷ phản chung, cố chi tử sanh chi thuyết; tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố chi quỷ thần chi tình trạng.
Ngưỡng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của sáng tối; quay về nguyên thuỷ của vạn vật, theo dõi đến cuối cùng, nên biết được bài học về sống chết. Tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật, hồn thoát ra tạo nên biến hoá, nên biết được tình trạng của quỷ thần.
Tiết 4: Phạm vi thiên địa chi hoá, nhi bất quá; khúc thành vạn vật, nhi bất di; thông hồ chú dạ chi đạo, nhi tri; cố thần vô phương, nhi Dịch vô thể.
Gồm cả khuôn khổ biến hoá của trời đất, nên không có gì thoát khỏi. Hoàn thành mọi vật mà không bỏ sót vật gì. Thâm nhập vào đạo ngày đêm mà biết hết, cái thần không bị hạn chế nơi nào cả, kinh Dịch cũng không bị giới hạn trong bất cứ hình thể nào.

Chương V:
Tiết 1:
Nhất Âm nhất Dương vị chi Đạo
Một Âm một Dương gọi là Đạo

Chương V:
Tiết 6:
Sinh sinh chi vị Dịch
Sinh ra, sinh ra mãi gọi là Dịch.
Tiết 7: Thành tượng chi vị Kiền, hiệu phát chi vị Khôn.
Hoàn thành hình tượng sơ khởi, gọi là Kiền; trình bày ra khuôn khổ thực tế gọi là Khôn.
Tiết 9: Âm dương bất trắc, chi vị thần.
Không lường được Âm dương gọi là thần.

Chương VI
Tiết 1:
Phù Dịch quảng hỹ, đại hỹ; dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngữ; dĩ ngôn hồ nhĩ tắc tĩnh nhi chính; dĩ ngôn hồ thiên địa chi gian tắc bị hỹ.
Dịch lớn thay! Rộng thay! Nói về xa thì không giới hạn; Nói về gần thì tĩnh mà chính; Nói về khoảng giữa trời đất thì bao trùm tất cả.
Tiết 2: Phù Kiền, kỳ tĩnh dã chuyên, kỳ động dã trực, thị dĩ đại sinh yên. Phù Không, kỳ tĩnh dã hấp, kỳ động dã tịch, thị dĩ quảng sinh yên.
Kiền lúc tĩnh thì chuyên nhất, lúc động thì thẳng, cho nên sinh ra cái to lớn. Khôn lúc tĩnh thì đóng lại, lúc động thì mở ra, cho nên sinh ra cái bao la vậy.
Tiết 3: Quảng đại phối thiên địa. Biến thông phối tứ thời. Âm dương chi nghĩa phối nhật nguyệt. Dị giản chi thiện phối chí đức.
Nhời rộng lớn nên phối hợp với trời đất. Nhờ biến thông nên phối hợp với bốn mùa. Nhờ ý nghĩa Âm dương nên phối hợp với mặt trời, mặt trăng. Nhờ hay về giản dị nên phối hợp với đức cao tột.

Chương XI
Tiết 5:
Thị cố Dịch hữu Thái cực ,thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh Tứ tượng ,Tứ tượng sinh Bát quái.
Cho nên Dịch có Thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh Tứ tượng , Tứ tượng sinh Bát quái.
Tiết 8: Thị cố thiên sinh thần vật, thánh nhân tắc chi, thiên địa biến hóa, thánh nhân hiệu chi, thiên thùy tượng hiện cát hung, thánh nhân tượng chi, hà xuất đồ, lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi.
Cho nên, trời sinh ra thần vật, thì thánh nhân lấy đó làm khuôn mẫu. Trời đất biến hóa thì thánh nhân bắt chước. Trời bày ra tượng, hiện ra tốt xấu, thì thánh nhân mô phỏng theo. Ở sông Hà hiện ra Hà đồ, sông Lạc hiện ra thư, thì thánh nhân lấy đó mà áp dụng.
Tiết 9: Dịch hữu Tứ tượng , sở dĩ thĩ dã, hệ từ yên, sở dĩ cáo dã, định chi dĩ cát hung, sở dĩ đoán dã.
Dịch có Tứ tượng để cho thấy; có hệ từ để giải thích; định tốt xấu để quyết đoán.(*)

* Chú thích: Kinh Dịch với đời sống, sách đã dẫn, trang 94.

Qua phần trích dẫn ở trên chứng tỏ rằng: Ngay cả khi cho đó là những ý niệm căn bản của một học thuyết vũ trụ quan cũng là rất khiên cưỡng vì chỉ còn một nửa cái tên của nó: Thuyết Âm dương. Trong suốt phần kinh văn của kinh Dịch, không thể nào cho rằng đó là một hệ thống lý thuyết Vũ trụ quan hoàn chỉnh. Bởi vậy, trải hàng ngàn năm, các nhà nghiên cứu đã tìm mọi cách lý giải kinh Dịch , nhưng vẫn không thể nào tìm được một sự lý giải thỏa đáng.
Qua những đoạn trích dẫn trong sách này đã chứng tỏ với bạn đọc rằng: cho đến tận ngày hôm nay, kinh Dịch cũng như thuyết Âm dương – Ngũ hành nói chung, thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản. Phần tiếp theo là một khoảng trống lý thuyết cho sự liên hệ từ một hệ thống lý thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh đến những phương pháp luận thể hiện trong sự ứng dụng trên thực tế.
Trải hơn 2000 năm, các nhà lý học đã cố gắng lấp khoảng trống nói trên. Nhưng sự ngay cả lý giải của những nhà Lý học nổi tiếng mà sự ảnh hưởng của họ là rất lớn trong nhận thức và lịch sử kinh Dịch, cũng chứng tỏ những mâu thuẫn ngay trong nội dung của nó. Những đoạn trích dẫn sau đây có nội dung thể hiện sự cố gắng khám phá bức màn huyễn ảo của kinh Dịch và những mâu thuẫn được trình bày kèm theo, chứng tỏ điều này:

Lý giải về Đạo
@ Chu Hy giải thích cho đó là “Sự sinh hoá của trời đất. Cái gì qua, qua đi; cái gì đến, đến tiếp; không có cái gì ngừng nghỉ một giây phút; đấy chính là tính chất bản nhiên của Đạo thể”(Thiên địa chi hoá. Vãng già quá, lai giả tục, vô nhất tức chi đình, nãi đạo thể chi bản nhiên dã). Trình Tử cùng quan điểm với Chu Hy, cũng cho rằng: “Đó là Đạo thể. Trời chuyển vận không ngừng: ngày qua thì tháng lại, lạnh qua thì nóng tới, nước chảy mãi chẳng ngừng, vật sinh mãi chẳng thôi; tất cả đều lấy Đạo làm thể, vận hành suốt ngày đêm, chưa tưng ngừng nghỉ”... Thử đạo thể dã. Thiên vận nhi bất dĩ, nhật vãng tắc nguyệt lai, hàn vãng tắc thử lai, thuỷ lưu nhi bất tức, vật sinh nhi bất cùng; giai dữ đạo vi thể, vận hồ trú dạ, vị thường dĩ dã”
Nếu những hiện tượng vừa kể trên chỉ là cái thể của Đạo, vậy thì Đạo là cái gì?
Từ Anh, tác giả quyển Luận ngữ hội tiên, quyết rằng Đạo đó là Đạo Dịch. Ông nói:
“Đấy là Phu tử (Đức Khổng tử) thể hiện bản chất sâu kín của đạo Dịch… Kìa đạo Dịch biến động chẳng ngừng, chảy khắp sáu cõi (tức khắp vũ trụ), khi trên lúc dưới vô thường, duy chỉ có biến động là thích hợp. Phật nói: Năm đã biến đổi thì tháng cũng biến đổi; mà tháng đã biến đổi thì ngày há lại không biến đổi? Song le, trong cái biến thiên (thay đổi chỗ) có cái không biến thiên; trong cái biến dịch (thay đổi hình sắc) có cái không biến dịch. Dịch vốn là cái Đức, mà bất dịch (không đổi) chỉ là cái Lý. Đấng thánh nhân thấy ở đấy cái Đạo sinh rồi lại sinh, sinh sinh chẳng ngừng”.
Thử Phu tử thể Dịch đạo chi thâm dã… Phù dịch biến động bất cư, chu lưu lục hư, thiên hạ vô thường, duy biến sở thích. Phật thuyết: Niên biến diệc kiêm nguyệt hoá; hà trực nguyệt hoá, kiêm diệc nhật thiện? Nhiên thiên lưu chi trung hữu bất thiên yên; biến dịch chi trung hữu bất dịch yên. Phù Dịch giả, kỳ đức dã; nhi bất dịch giã, lý dã. Thánh nhân ư thử kiến sinh sinh bất tức chi Đạo yên! (*).

* Chú thích: Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông Phương, sách đã dẫn, trang 31.

@ Nếu cách lý giải về bản thể của Đạo như trên là đúng, thì nó mâu thuẫn với câu trong Hệ từ đã trích dẫn ở trên: “Sinh sinh chi vị Dịch”. Như vậy Đạo tức là Dịch (!?); theo Từ Anh thì đó là “đạo Dịch”“Dịch vốn là cái Đức” và “bất Dịch chỉ là cái Lý”. Tức là ta có thể hiểu như sau: Đạo tức Dịch; tức đạo Dịch; tức đạo đức; đạo đức và lý là hai trạng thái phân biệt; đạo đức và lý là nội dung của Đạo; Đạo tức Dịch; tức đạo Dịch; tức đạo đức… Cứ như thế “mồm bò chẳng phải mồm bò, nhưng lại là mồm bò”.

Lý giải về Thái cực – Âm dương – Ngũ hành

Con đường diễn tiến của vũ trụ dài dằng dặc ấy được Châu Liêm Khê mô tả trong Thái cực đồ thuyết của ông như sau :

Vô cực mà là Thái cực. Thái cực động thì sinh Dương; động cực thì tĩnh; tĩnh thì sinh Âm; tĩnh cực lại động; một động một tĩnh, cùng làm căn bản cho nhau. Rồi khi đã phân chia ra Âm dương thì Lưỡng nghi thành lập. Và đến lúc Dương biến, Âm hợp thì Thuỷ, Hoả, Mộc, Kim, Thổ, sinh ra. Năm khí đó nếu được xếp đặt thuận hợp với nhau thì bốn mùa sẽ vận hành đều đặn.
Ngũ hành nếu hợp nhất thì thành Âm dương. Âm và Dương nếu hợp nhất thì thành Thái cực. Thái cực có gốc là vô cực. Ngũ hành sinh hoá đều có tính chất duy nhất. Cái Chân không của vô cực, cái tính chất của Âm dương và Ngũ hành, tất cả phối hợp một cách kỳ diệu và kết tụ lại với nhau. Thế rồi Đạo Kiền làm thành trai, Đạo Khôn làm thành gái; hai khí giao cảm mà sinh ra muôn vật; muôn vật sinh, rồi lại sinh, sinh sinh mãi và biến hoá vô cùng”.
Vô cực nhi Thái cực. Thái cực động nhi sinh Dương; động cực nhi tĩnh; tĩnh nhi sinh Âm; tĩnh cực phục động; nhất động nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn. Phân Âm phân Dương, Lưỡng nghi lập yên. Dương biến Âm hợp nhi sinh Thuỷ, Hoả, Mộc, Kim, Thổ, Ngũ khí thuận bố, tứ thời hành yên. Ngũ hành, nhất, Âm dương dã. Âm dương, nhất, Thái cực dã. Thái cực bản vô cực dã. Ngũ hành chi sinh dã, các nhất kỳ tính. Vô cực chi chân, nhị ngũ chi tinh, diệu hợp nhi ngưng. Kiền đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ; nhị khí giao cảm, hoá sinh vạn vật; vạn vật sinh, sinh nhi biến hoá vô cùng yên). (*)

* Chú thích: Kinh Dịch với Vũ trụ quan Đông phương, sách đã dẫn, trang 32.

@ Trong kinh văn chỉ thấy nói đến Thái cực là thể bản nguyên của vũ trụ. Từ đời Hán đến đời Tống cũng nhiều nhà Lý học lý giải Thái cực. Người bảo Thái cực là Thái hư, người bảo Thái cực là Thái nhất… Những cách lý giải này đều bị phản bác, chỉ có cách lý giải của ông Chu Hy được coi là đúng nhất và lưu truyền đến nay. Nhưng với cách lý giải của ông Chu Hy, ta có một hình ảnh sau: trước hết ông thêm Vô cực vào, ông bảo Vô cực là Thái cực (Vô cực nhi Thái cực); Thái cực là thuộc tính, là căn bản của Vô cực (Thái cực bản Vô cực dã); như vậy tự nó đã phân Âm dương – nhưng ông lại cẩn thận lấy Thái cực thái đôi làm Âm dương, rồi lại trộn Âm với Dương chia làm năm để tạo Ngũ hành (Dương biến Âm hợp nhi sinh Thủy, Hoả, Mộc, Kim, Thổ). Đã gần 1000 năm trôi qua, có nhiều người hiểu; nhưng cũng có nhiều người không. Thế là ông lại trộn Ngũ hành vào với nhau, thái đôi (Ngũ hành nhất, Âm dương dã).??? Vo Âm dương lại: Thái cực!(Âm dương nhất Thái cực dã)(??). Ông quăng cục Thái cực đi. (Thái cực bản vô cực dã). Còn cái Vô cực của ông? Nó chẳng là cái gì cả(Vô cực chi chân – cái chân không của vô cực)!
Tính phi lý của ông Chu Hy được thể hiện trong biểu đồ dưới đây:

Như vậy, qua bảng trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Khi đưa Vô cực vào (dù chỉ dừng lại ở ý niệm, không nhằm phản ánh một thực tế) là sai lầm đầu tiên. Thái cực và Vô cực sẽ trở thành hai trạng thái phân biệt. Như vậy, nó sẽ nằm trong phạm trù của Âm dương, đây là sai lầm ngay từ khi đặt vấn đề. Sai lầm càng lớn và rõ hơn khi ông Chu Hy phân biệt Thái cực với Âm dương, lúc này Âm dương trở thành một vế của chính nó.

Lý giải về Hà đồ – Lạc thư

Lời bàn của tiên nho về Hà đồ – Lạc thư:

Khổng An Quốc nói rằng: “Hà đồ là khi họ Phục Hy làm vua thiên hạ, có con long mã hiện ở sông Hà, họ ấy bèn bắt chước cái vằn của nó để vạch ra tám quẻ. Lạc thư là khi vua Vũ chữa được nước lụt, có con rùa thần đội vằn, trên lưng có số tới chín, vua Vũ nhân đó mà xếp thứ tự thành ra chín loài.
Lưu Hâm nói rằng: họ Phục Hy nối trời làm vua, nhận đồ sông Hà mà vạch ra nét, đó là tám quẻ. Vua Vũ chữa được nước lụt, trời ban cho thư sông Lạc, vua ấy bắt chước thư đó xếp thành từng loại. Đó là chín trù.
Quan Lãng nói rằng: nét của Hà đồ: bảy trước, sáu sau, tám ở tả, chín ở hữu. Nét của Lạc thư: chín trước, một sau, ba ở tả, bảy ở hữu, bốn ở phía tả đàng trước, hai ở phía hữu đàng trước, tám ở phía tả đàng sau, sáu ở phía hữu đàng sau.
Thiệu Ung nói rằng: tròn là hình sao, số của lịch kỷ có lẽ gây từ đó chăng? Vuông là hình đất, những cách chia châu, đặt “tỉnh” có lẽ phỏng theo đó chăng?
Bởi vì tròn là số của Hà đồ, vuông là nét của Lạc thư, cho nên vua Hy, vua Văn nhân đó mà làm kinh Dịch, vua Vũ, ông Cơ, theo đó mà làm ra thiên Hồng phạm.
@ Chu Hy nói rằng: trong khoảng trời đất, chỉ có một vật là khí:
chia làm hai, thì là âm, dương; năm hành gây dựng, muôn vật trước sau, đều bị cai quản ở đó. Cho nên ngôi của Hà đồ, một và sáu cùng tông mà ở về Bắc, hai và bảy làm bạn mà ở về Nam, ba và tám đồng đạo mà ở về Đông, bốn với chín thành lứa mà ở về Tây, năm và mười giữ lẫn cho nhau mà ở chính giữa. Nghĩa là cái số của nó, chẳng qua chỉ có một âm, một dương, một lẻ, một chẳn, để làm gấp đôi năm hành mà thôi.
Gọi là trời, tức là khí dương nhẹ trong, ngôi ở bên trên; gọi là đất, tức là khí âm nặng đục, ngôi ở phía dưới. Số dương lẻ, cho nên một, ba, năm, bảy, chín, đều thuộc về trời, đó là số của trời có năm. Số âm chẵn, cho nên hai, bốn, sáu, tám, mười, đều thuộc về đất, đó là số của đất có năm. Số của trời và số của đất, đằng nào theo loại đằng ấy, mà cùng tìm nhau. Ngôi “năm” tương đắc với nhau là thế.
Trời lấy số một mà sinh hành Thuỷ, đất lấy số sáu mà làm cho thành; đất lấy số hai mà sinh hành Hoả, trời lấy số bảy mà làm cho thành; trời lấy số ba mà sinh hành Mộc, đất lấy số tám mà làm cho thành; đất lấy số bốn mà sinh hành Kim, trời lấy số chín mà làm cho thành; trời lấy số năm mà sinh hành Thổ, đất lấy số mười mà làm cho thành. Đó là “các số đều có hợp nhau”.
Chất năm số lẻ thành hai nhăm, chất năm số chẵn thành ra ba mươi. Hợp cả hai số thành ra năm mươi nhăm, tức là toàn số của đồ sông Hà. Đó là Ý của Phu tử và thuyết của chư nho.
Đến như Lạc thư, tuy là Phu tử chưa từng nói tới, nhưng tượng và thuyết của nó đã có đủ ở trên đây.
Có người hỏi rằng: tại sao ngôi và số của Hà đồ – Lạc thư lại không giống nhau?
Đáp rằng: Hà đồ dùng năm số Sinh tóm năm số thành cùng ở một phương, ấy là nêu cái toàn hình để bảo người ta mà nói về thể của số thường. Lạc thư dùng năm số lẻ tóm bốn số chẵn, mà số nào ở riêng chỗ của số ấy, đó là chủ về “Dương để tóm Âm” mà gây cái dụng của số biến.
Lại hỏi: tại sao Hà đồ – Lạc thư lại có số năm ở giữa?
Đáp rằng: các số lúc đầu chỉ là một âm một dương mà thôi. Tượng của dương tròn, tròn thì đường kính một phần, chu vi ba phần; tượng của âm vuông, vuông thì đường kính một phần, chu vi bốn phần. Chu vi ba phần thì lấy số một làm “một”, cho nên nhân với một dương mà thành ra ba. Chu vi bốn phần thì lấy số hai làm “một” cho nên nhân với một âm mà thành ra hai. Đó là nhân ba với trời, nhân hai với đất vậy. Hai và ba hợp lại thành ra năm, vì vậy Hà đồ – Lạc thư đều lấy số năm ở giữa. Nhưng mà Hà đồ thì lấy số sinh làm chủ, cho nên ở giữa phải năm, cho đủ tượng của năm số sinh; một chấm ở dưới là tượng số một của trời, một chấm ở trên là tượng số hai của đất, một chấm phía tả là tượng số ba của trời, một chấm phía hữu là tượng số bốn của đất, một chấm chính giữa là tượng số năm của trời. Lạc thư thì lấy số lẻ làm chủ, cho nên ở giữa phải năm, cho đủ các tượng của năm số lẻ: một chấm ở dưới, cũng tượng số một của trời, một chấm phía tả cũng tượng số ba của trời, một chấm chính giữa cũng tượng số năm của trời, một chấm phía hữu là tượng số bảy của trời, một chấm ở trên thì tượng số chín của trời. Số và ngôi của hai thứ đó ba chỗ giống nhau, hai chỗ khác nhau, là vì dương không thể đổi mà âm thì có thể đổi, số “thành” tuy thuộc về dương nhưng cũng là âm của số “Sinh”. (*)

* Chú thích: Kinh Dịch, Nxb T/p Hồ Chí Minh 1992, người dịch Ngô Tất Tố.

@ Như vậy, qua những đoạn trích dẫn trên bạn đọc cũng thấy rằng: cách lý giải về Hà đồ – Lạc thư của ông Chu Hy thì chỉ là một việc thấy thế nào nói như vậy, vấn đề không hề sáng sủa hơn cho đến tận ngày hôm nay, tức là gần 1000 năm sau đó. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là: Không biết ông căn cứ vào đâu để bảo rằng 1 – 6 là hành Thuỷ; 2 – 7 là hành Hoả; 3 – 8 là hành Mộc; 4 – 9 là hành  Kim? Từ đó chúng ta có thể giả thuyết rằng: Phải có một thư tịch cổ còn sót lại nói điều này, nhưng không có sự lý giải. Thư tịch này được phát hiện vào khoảng đời Tống, căn cứ trên thư tịch đó các nhà Lý học đời Tống đã công bố. Nhưng chính họ cũng chẳng hiểu tại sao. Bởi vậy, đành phải thừa nhận nó thuộc về cổ nhân là Phục Hy và Đại Vũ, tức là được phát hiện trên lưng Rùa và Long mã. “Trời (ai) bảo sao thì bào hao làm vậy”.
Qua việc trình bày ở trên đã chứng tỏ rằng: Mặc dù dã hết sức cố gắng trên 2000 năm qua, các nhà lý học Hán Nho cũng không thể nào phục hồi dược chỉ phần nào những luận điểm căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành. Nhưng những phương pháp luận của học thuyết này lại phổ biến một cách rộng rãi trên khắp mọi lĩnh vực.
@ Nếu khiên cưỡng mà cho rằng: Những sự ứng dụng liên quan đến phương pháp luận của học thuyết Vũ trụ quan Âm dương – Ngũ hành chỉ là những kinh nghiệm được đúc kết từ thực tế. Sau đó, thuyết Âm dương Ngũ hành mới được sử dụng để lý giải. Lập luận như vậy sai lầm từ căn bản khi đặt vấn đề. Bởi vì, với lập luận này, mặc nhiên thừa nhận sự hoàn chỉnh và tính chính thống của học thuyết Âm dương Ngũ hành. Điều này chưa bao giờ xảy ra trong xã hội phong kiến Trung Hoa cho đến khi nó kết thúc với vị hoàng đế cuối cùng của triều đại Mãn Thanh. Nếu cho rằng: Nho giáo được độc tôn chứng tỏ tính chính thống, thì mới chỉ chứng minh được một nửa vấn đề: trong nội dung kinh điển của Nho giáo – được coi là trước tác của ngài Khổng tử chỉ thấy nói đến Âm dương mà không thấy nói đến Ngũ hành. Sai lầm căn bản của lập luận này là sự mâu thuẫn với thực tế, khi ngay bây giờ người ta mới chỉ đặt vấn đề cho tính nhất quán và chưa chứng minh được sự hoàn chỉnh của học thuyết này.
Như vậy, không có cơ sở nào để giải thích cho lập luận nêu trên; khi mà những sách cổ lại chứng tỏ trên thực tế sự ứng dụng những phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành như là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh. Đây cũng là nguyên nhân để giới nghiên cứu Dịch học cho rằng thuyết Ngũ hành rất có khả năng xuất hiện đồng thời với thuyết Âm dương. (Sự minh chứng sẽ trình bày rõ hơn ở phần III: Văn minh Văn Lang & bí ẩn của Bát quái).
Những ý niệm bản nguyên của thuyết Âm dương – Ngũ hành cho đến tận ngày hôm nay, không thể coi là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh. Phần kinh văn của kinh Dịch chỉ cho biết những thuộc tính và sự ứng dụng của quẻ và hào; không hề có một luận thuyết lý giải sự liên hệ giữa những ý niệm căn bản của một thuyết Vũ trụ quan ghi dấu ấn trong kinh Dịch với những thuộc tính của các ký hiệu trong sự ứng dụng của nó. Cho đến tận đời Tống, tức là vào khoảng hơn 1000 năm sau, mới xuất hiện hệ thống 64 quẻ Tiên thiên Bát quái và đồ hình ký hiệu căn bản của nó. Chính những nhà lý học đời Tống – một thời kỳ được coi là sự phát triển rực rỡ của Dịch lý – đã cố gắng tiếp nối những nhà lý học tiền bối để lấp khoảng trống lý thuyết nói trên. Cuốn Chu Dịch bản nghĩa (Ông Ngô Tất Tố dịch) do Trịnh Khang Thành, Chu Hy trước tác, được coi như là một thành tựu trong việc hoàn chỉnh kinh Dịch. Nhưng cho đến tận ngày hôm nay, khi bạn đọc đang xem cuốn sách này – kinh Dịch vẫn là một bộ sách bí ẩn. Điều này đã chứng tỏ rằng mọi sự cố gắng của các nhà nghiên cứu nhằm lấp khoảng trống của lý thuyết nói trên đã không được như ý. Qua những đoạn trích dẫn ở phần I và sự phân tích những mâu thuẫn giữa các mối tương quan trong nội dung kinh Dịch ngay trong chương này đã chứng tỏ điều đó. Những kiến giải của các nhà nghiên cứu kinh Dịch trong vấn đề rất căn bản của kinh Dịch, đôi khi trái ngược nhau, đã cho thấy khoảng trống rất lớn về lý thuyết cần có để lý giải nội dung kinh Dịch liên hệ với những ý niệm căn bản của học thuyết Âm dương– Ngũ hành thể hiện trong Hà đồ Lạc thư. Đây chính là một mâu thuẫn lớn nhất khiến cho người ta phải hoài nghi về tính phát triển liên tục của kinh Dịch từ thời tối cổ như lịch sử chính thống của kinh Dịch được nói đến trong cổ thư chữ Hán.

Mâu thuẫn trong sự tương quan khái niệm “Tứ tượng” trong kinh Dịch & thuyết Âm dương - Ngũ hành

Hệ từ hạ, chương XI, tiết 5 viết :

Thị cố Dịch hữu Thái cực. Thái cực sinh Lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng.

Từ trước đến nay Tứ tượng vẫn được hiểu là Thiếu dương (biểu thị bằng một vạch liền), Thiếu âm (biểu tượng bằng một vạch đứt), Thái dương (biểu tượng bằng hai vạch liền); Thái âm (biểu tượng bằng hai vạch đứt). Cứ theo cách hiểu này thì đương nhiên quẻ Càn trên thực tế gọi là thuần Dương; quẻ Khôn trên thực tế gọi là thuần Âm. Như vậy, nếu theo kinh văn của kinh Dịch thì Âm dương sinh Bát quái, điều này sẽ không lý giải được khi Càn là thuần Âm, Khôn là thuần Dương vì với khái niệm này thì quẻ Càn và Khôn sẽ lại tiếp tục sinh ra chính nó. Trong kinh văn của kinh Dịch chưa bao giờ nói quẻ Càn là thuần Âm, quẻ Khôn là thuần Dương, mà chỉ dùng từ Trời để chỉ quẻ Càn, Đất để chỉ quẻ Khôn. Trời Đất chỉ là những thuộc tính của Âm dương. Nếu coi Tứ tượng là những trạng thái phân biệt của Âm dương, thì ít nhất về lý thuyết sẽ không lý giải được sự tồn tại của Ngũ hành trong Âm dương. Bởi vì, khi Âm dương có 4 trạng thái phân biệt là Tứ tượng theo cách hiểu từ trước đến nay thì:
@ Hoặc là Ngũ hành là sự phân biệt của một trong 4 trạng thái.
@ Hoặc là Ngũ hành là sự thể hiện trạng thái Tứ tượng.
@ Hoặc là Ngũ hành và Tứ tượng đều là những trạng thái phân biệt đồng đẳng của Âm dương.
Tất cả các trường hợp đều không lý giải được, khi Âm dương Ngũ hành chứng tỏ sự thống nhất và hoàn chỉnh trên thực tế ứng dụng. Điều này chứng tỏ rằng: việc coi Tứ tượng là Thái âm, Thái dương và Thiếu âm, Thiếu dương là do người đời sau đặt ra, theo cách hiểu chủ quan và là một sai lầm.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Chương IV: Một số ý kiến của các học giả cổ kim về những vấn đề căn nguyên trong kinh dịch. Hậu thiên bát quái và hệ thống 64 quẻ chu dịch. Căn nguyên ...

Chương III: Một số quan điểm khác nhau về thời điểm xuất xứ và tác giả của kinh Dịch. Như phần trên đã trình bày, mặc dù hầu hết các học giả khi ...

Chương II: Tóm tắt nội dung và những ký hiệu căn bản của kinh dịch trong cổ thư chữ Hán. Kinh Dịch được truyền lại từ đời Hán là bản Chu dịch, gồm có ...

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...