Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần II - 4

Ngày đăng: Thứ tư 18/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Qua những đoạn trích dẫn ở trong mục “Hoàng Đế nội kinh tố vấn và lịch sử thuyết Âm dương Ngũ hành” ở Phần I. Bạn đọc có thể tìm thấy sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương – Ngũ hành trong toàn bộ cuốn sách nói trên (kể cả sự ứng dụng Âm dương lịch, mà ở đó đã có sự phối hợp Can Chi). Như vậy, thuyết Âm dương – Ngũ hành đã hoàn chỉnh, nhất quán và được ứng dụng trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn trước cả Lạc thư do vua Đại Vũ phát hiện cả ngàn năm (Niên đại của Hoàng Đế ước tính khoảng 3000 năm tr.CN – Vua Đại Vũ khoảng 2205 năm tr.CN). Rõ ràng đây là một điều cực vô lý.
Nếu như chúng ta tin vào tính chính xác của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn thì sẽ phủ nhận toàn bộ những tác giả Trung Hoa được coi là sáng lập ra thuyết Âm dương và Ngũ hành sau đó. Vậy thì trước Hoàng Đế ai là người sáng tạo thuyết Âm dương – Ngũ hành, khi chính cuốn Hoàng Đế Nội kinh tố vấn chỉ thể hiện sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương – Ngũ hành, chứ không phải thể hiện nội dung của học thuyết đó?
Có lẽ nhận thấy được điều phi lý này – trên quan niệm thuyết Âm dương Ngũ hành thuộc về văn minh Hoa Hạ – nên các nhà nghiên cứu hiện đại đã có sự cố gắng tìm một thời điểm lịch sử hợp lý cho sự ra đời của cuốn sách Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
@ Nhận định đầu tiên cho rằng: Cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được viết vào thời Xuân thu Chiến quốc?! (Đã trích dẫn).
Nếu nhận định của các nhà lý học hiện đại đúng, thì đây là sự phủ nhận tác giả của cuốn sách là Hoàng Đế và Kỳ Bá. Như vậy tại sao lại có sự gán ghép này và ai là tác giả đích thực của nó? Trong khi sách Đông y cũng như sách bói không phải đối tượng phá hủy vào thời Tần Thủy Hoàng. Hơn nữa y học là một nhu cầu cần thiết và phổ biến trong đời sống xã hội; trên từ vua chúa, dưới đến thứ dân. Tại sao một cuốn y lý căn bản sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương – Ngũ hành, lại không hề được nhắc đến trong bất cứ một cuốn cổ thư nào của các học giả nổi tiếng trước thời Hán?
Thời Xuân thu Chiến quốc là một thời đại xuất hiện rất nhiều nhà tư tưởng lớn như Khổng tử, Mạnh tử, Tuân tử, Hàn Phi tử… họ để lại rất nhiều trước tác. Nếu hệ thống vũ trụ quan Âm dương – Ngũ hành với giá trị tuyệt vời của nó, được thể hiện trong sự ứng dụng ở ngay trong một nhu cầu không thể thiếu và phổ biến là y học, mà sao lại không được các học giả lưu danh hàng thiên niên kỷ quan tâm đến như: Khổng tử thời Xuân Thu; Mạnh tử, Trang tử thời Chiến quốc? Một điều đáng lưu ý nữa là: Sau các học giả nổi tiếng thời Xuân thu – Chiến quốc hàng nửa thiên niên kỷ – trong Sử ký của Tư Mã Thiên cũng không hề một lần nhắc đến cuốn Hoàng Đế Nội kinh tố vấn; mặc dù ông lại nói đến Trâu Diễn (350 – 270 tr.CN), như là một người nếu không phải là sáng lập thì cũng là người đầu tiên tổng hợp thuyết Âm dương – Ngũ hành trở thành một học thuyết thống nhất. Đây thật sự là một điều vô lý. Vấn đề này đã được đặt ra trong cuốn Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp (Nxb VHTT 2002).
@ Giả thuyết thứ hai cho rằng: Hoàng Đế nội kinh tố vấn là do các phương sĩ kiết tập, tổng hợp vào đời Hán. Giả thuyết này giải thích được sự vô lý đã phân tích ở trên. Nhưng ngay cả trong trường hợp như vậy cũng không thể thực hiện được. Bởi vì: để viết cuốn sách này thì cần phải có một kiến thức hoàn chỉnh về thuyết Âm dương – Ngũ hành. Nhưng học thuyết này – theo các nhà nghiên cứu hiện đại – vào thời Hán mới đang từng bước hoàn chỉnh. Do đó, không có cơ sở nào để có một sự ứng dụng một học thuyết – cho đến ngày hôm nay, khi bạn đang đọc cuốn sách này – vẫn chưa hoàn chỉnh, để có một sự ứng dụng hoàn chỉnh cho nó. Huống chi, trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn còn có rất nhiều vấn đề bí ẩn và phức tạp hơn cả kinh Dịch, vẫn chưa có sự lý giải; người ta không thể kiết tập những cái mà người ta không hiểu gì cả. Cho rằng đây là sự kiết tập, thì mặc nhiên thừa nhận: những nội dung của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn dã có trước Hán; tức là thuyết Âm dương – Ngũ hành đã hoàn chỉnh trước đó và vấn đề tiếp tục lặp lại như giả thuyết trên.
@ Giả thuyết thứ ba cho rằng: Cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được kiết tập vào đời Minh (?!).
Giả thuyết này chỉ có sự hợp lý hình thức, mặc dù nó lý giải được dấu ấn của Hà đồ (chỉ thực sự xuất hiện vào đời Tống – trước Minh). Nhưng với giả thuyết này thì – ngoài những mâu thuẫn chung với các giả thuyết trên – nó lại gặp những mâu thuẫn không lý giải được sau đây:
* Sự liên hệ giữa lịch sử thời Minh (thế kỷ XIV) với thời Hoàng Đế gần 3000 năm tr.CN, thể hiện trong nội dung cuốn sách.
* Vào thế kỷ 14 sau CN, là lúc sự ứng dụng của thuyết Âm dương Ngũ hành đã rất phổ biến. Do đó, càng không thể có sự kiết tập những cái mà cho đến tận bây giờ ngưới ta vẫn không thể lý giải.
* Vào thời Minh, lịch sử cũng đã rõ ràng. Không thể có một cuốn sách vào hàng kỳ thư và được ứng dụng trong một nhu cầu phổ biến, mà người ta không thể chỉ ra chính xác thời điểm ra đời hoặc tác giả của nó. Một vấn đề được đặt ra là cấu trúc ngôn ngữ trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn hoàn toàn không phải là cấu trúc ngôn ngữ của thời nhà Minh. Chỉ còn một cách duy nhất là viết lại cuốn sách này. Điều này rõ ràng không thể thực hiện được, khi cho đến tận bây giờ, thuyết Âm dương Ngũ hành và những vấn đề liên quan đến nó vẫn còn là sự bí ẩn.
Trong ba giả thuyết trên, thì giả thuyết thứ hai và thứ ba là do tham khảo ý kiến bạn đọc gần gũi, không có tài liệu công bố chính thức.
@ Mâu thuẫn lớn nhất cần phải lý giải là: Hoàng Đế nội kinh tố vấn là cuốn sách lý luận căn bản của Đông y, được phát triển từ một hệ thống lý luận căn bản là học thuyết Âm dương Ngũ hành. Do đó, nó chỉ có thể được thực hiện khi người ta đã có một kiến thức hoàn chỉnh về học thuyết này. Nhưng cho đến ngày hôm nay, thuyết Âm dương Ngũ hành vẫn chỉ để lại những dấu ấn mơ hồ. Thật là phi lý, khi người ta lại có thể sáng tác ra một cuốn sách lý luận, dựa trên một lý thuyết căn bản mà người ta hoàn toàn mơ hồ về nó. Hiện tượng này có thể ví như một học sinh không cần học thuộc bài, nhưng vẫn giải được toán. Cho dù có có khiên cưỡng ứng dụng phương pháp luận siêu hình để phản bác, cho là học sinh đó kiếp trước vốn là nhà thông thái; thì ít nhất kiếp trước nó đã học bài.
Bởi vậy, ngoài những mâu thuẫn với những hiện tượng liên quan đến nó, thì đây chính là điều căn bản để cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn khó có thể đặt vào một thời điểm lịch sử nào đó của nền văn minh Hoa Hạ.
Hơn nữa, cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn với nội dung ứng dụng thuyết Âm dương Ngũ hành trong Đông y, cũng chỉ là một hiện tượng trong sự ứng dụng phổ biến của học thuyết này. Do đó, khi nguồn cội của học thuyết Âm dương Ngũ hành được minh chứng, thì cuốn Hoàng Đế nội kinh cũng xác định được nguồn gốc của nó.

Dấu ấn Hà đồ trong cổ thư chữ Hán trước Tần

Sách Chu Dịch dự đoán học - Thiệu Vĩ Hoa viết:

Thuyết “Hà đồ” “Lạc đồ” trong cuốn “Thượng thư” của Tiên Tần, “Luận ngữ” của Mạnh tử và trong “Hệ từ” đều có ghi lại. Nhưng “Đồ” và “Thư” thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến. Trước đời Tống, không ít “Dịch” gia khi viết về “Dịch”, rất ít nói đến “Hà đồ”, “Lạc đồ”, một vài người có nói đến thì cũng chỉ lướt qua. Phong trào nói đến “Hà đồ”, “Lạc thư” vào những năm Thái bình hưng quốc (niên hiệu Tống Thái Tôn).

Sách Bí ẩn của Bát quái - Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường - viết:

“... Thời Tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không vẫn là một câu hỏi.”

Dấu ấn Hà đồ trong “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”

Trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương – Ngũ hành để lý giải các hiện tượng của sự vận động vũ trụ và ảnh hưởng của nó đến trái đất với đời sống con người. Nhưng nội dung của nó lại góp phần tạo nên sự bí ẩn của lịch sử thuyết Âm dương – Ngũ hành và cũng là đề tài tranh luận qua nhiều thế hệ. Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn cũng để lại rất nhiều những khái niệm bí ẩn khác, mà cho đến tận ngày nay đã không biết bao nhiêu học giả tốn rất nhiều công sức vẫn chưa lý giải được. Thí dụ như những khái niệm về lục khí, ngũ vận ứng dụng trong y lý… Nhưng một hiện tượng đặc biệt rất đáng lưu ý là: trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn, một cuốn sách được các nhà nghiên cứu cho là xuất hiện vào thời Xuân thu Chiến quốc - tức là tiên Tần - lại ghi nhận dấu ấn của Hà đồ, khi lý giải những vấn đề cơ sở lý luận ứng dụng trong Đông y. Đoạn sau đây được trích trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn toàn tập (Nhà thuốc Hồng Khê xuất bản 1954 – Dịch giả Nguyễn Tử Siêu) được trích dẫn trong phần “Kim quỷ chân ngôn luận”:

Hoàng đế hỏi:
– Năm tàng ứng với bốn mùa, vậy có sự thâu thu gí không?
Kỳ Bá thưa:
Đông phương sắc xanh, thông vào Can, khai khiếu lên mắt, tàng Tinh ở Can. Phát ra bệnh thành chứng kinh sợ. Về vị là chua, thuộc về loài thảo mộc, thuộc về lục súc là gà, thuộc về ngũ cốc là lúa mạch, thuộc về bốn mùa trên ứng với tuế tinh; xuân khí thuộc về bộ phận đầu; thuộc về Âm là tiếng Giác; thuộc về số là số 8; thuộc về mùi là mùi hôi. Do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở gân.
Nam phương sắc đỏ, thông vào với Tâm khai khiếu lên tai, tàng Tinh ở Tâm. Bệnh phát sinh ở cả năm tàng, về vị là đắng và thuộc về Hỏa; thuộc về lục súc là dê; thuộc về ngũ cốc là thử; thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Huỳnh hoặc; thuộc về Âm là tiếng Chủy; thuộc về số là số 7; thuộc về mùi là mùi hắc; do đó biết là thường sinh bệnh ở mạch.
Trung ương sắc vàng, thông vào với Tỳ, khai khiếu lên miệng. Tàng Tinh ở Tỳ. Bệnh phát sinh ở cuống lưỡi, về vị là ngọt, và thuộc về Thổ; thuộc về lục súc là bò; thuộc về ngũ cốc là tắc; thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Chấn; thuộc về Âm là Cung, thuộc về số là số 5; thuộc về mùi là mùi thơm; do đó, biết là thường sinh bệnh tại thịt.
Tây phương sắc trắng, thông vào với Phế, khai khiếu ở mũi, tàng Tinh ở Phế; bệnh phát sinh ở vai; về vị là cay và thuộc về Kim; thuộc về lục súc là ngựa; thuộc về ngũ cốc là đạo; thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thái bạch; thuộc về Âm là Thương; thuộc về số là số . 9; do đó biết là thường sinh bệnh tại bì mao.
Bắc phương sắc đen, thông vào với Thận, thông khiếu ở nhị Âm; tàng Tinh ở Thận; bệnh phát sinh ở Khê; về vị là mặn và thuộc về Thủy; thuộc về lục súc là lợn; thuộc về ngũ cốc là đậu, thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Thần, thuộc về Âm là Vũ, thuộc về số là số 6, thuộc về mùi là mùi húc mục, do đó biết là thường sinh bệnh ở xương.

Qua phần trích dẫn trên, chúng ta chắt lọc độ số của Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ (phần in đậm) với phương vị được ghi nhận của Ngũ hành và so sánh với đồ hình Hà đồ, chúng hoàn toàn có sự trùng khớp. Hà đồ vốn được coi là căn nguyên của nền Lý học Đông phương. Do đó, sự trùng khớp nói trên không thể coi là hiện tượng ngẫu nhiên. Điều này chứng tỏ rằng: khi hình thành cuốn sách này, tác giả của nó đã biết đến Hà đồ. Xin xem hình vẽ sau:

Đồ hình minh họa sự tương ứng phương vị
ngũ hành của Hà đồ trong Hoàng Đế nội kinh

Qua đồ hình trên, bạn đọc cũng nhận thấy sự liên hệ trùng khớp độ số và phương vị Ngũ hành trong Hoàng Đế nội kinh với Hà đồ. Sự liên hệ này cho thấy: Hà đồ là một thực tế đã tồn tại (và đã được ứng dụng) trước thời điểm hình thành cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.

Lã thị Xuân thu và dấu ấn của Hà đồ

Trong các cổ thư chữ Hán được coi là trước Tần, ngoài Hoàng đế nội kinh tố vấn, dấu ấn của Hà đồ còn được ghi nhận ở Lã thị Xuân thu, một tác phẩm được coi là của Lã Bất Vi viết vào thời kỳ đầu của đế chế Tần. Lời giới thiệu trong sách Lã thị Xuân thu do Phan Văn Các dịch - Nxb Văn học & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản 1999, viết:

“Lã Bất Vi bèn sai các thực khách của mình viết ra những điều nghe biết, tập hợp lại làm thành “Bát lãm” và “Lục luận”, “Thập nhị kỷ” cộng hơn hai mươi vạn chữ, coi là có đủ “thiên địa vạn vật cổ kim chi sự”, đặt tên là Lã thị Xuân thu, và “đặt ở cổng chợ Hàm Dương, treo ngàn lạng vàng trên đó, mời du sĩ tân khách chư hầu ai thêm bớt được một chữ thì thưởng ngàn lạng vàng”…
“Hán thư Nghệ văn chí đã coi đó là tác phẩm tiêu biểu của “tạp gia”, đánh giá rằng về học thuật, sách ấy “kiêm Nho Mặc, hợp Danh Pháp (gồm cả Nho gia lẫn Mặc gia, ghép cả Danh gia với Pháp gia).
Ở thời hiện đại, Hầu Ngoại Lư cho đó là khởi nguồn của Tạp gia, là sự nhào trộn “kiệm thính tạp học” không có tinh thần tinh thần sáng tạo. Nhiều học giả chỉ thừa nhận giá trị sử liệu của nó mà thôi.
Nhưng nhà sử học Phùng Hữu Lan cho rằng: ”Sách này không đặt tên Lã Tử, mà đặt tên Lã thị Xuân thu, hẳn là Văn Tín Hầu vốn đã coi sách của mình là sử, Sử kí nói rằng Lã Bất Vi coi sách của mình chứa đủ muôn vật trong trời đất cùng mọi việc xưa nay, đặt tên là Lã thị Xuân thu cũng đã coi đó là sử. Tựa Niên biểu mười hai chư hầu trong Sử kí đặt ngang hàng Lã thị Xuân thu với Tả thị Xuân thu và Ngu thị Xuân thu, chứng tỏ Sử công cũng coi sách đó là sử rồi”

Trong nội dung của sách Lã thị Xuân thu có nói đến sự vận hành có tính qui luật của thời tiết từng tháng trong năm và sự ứng sử của các bậc đế vương thuận theo tự nhiên để điều hành đất nước. Phần này được chia làm 12 Kỷ.

Mười hai kỷ sắp xếp theo trình tự bốn mùa, mỗi mùa có ba kỷ: mạnh, trọng, quý. Kỷ thủ là nguyệt lệnh của tháng. Xuân chủ sinh, hạ chủ trưởng, thu chủ thu, đông chủ tàng (*).

* Chú thích trong sách đã dẫn: Thập nhị kỷ chính là thiên Nguyệt lệnh trong sách Lễ ký, mười hai tháng sắp xếp làm mười hai thiên, sau mỗi thiên đều chen thêm bốn thiên khác. Bốn kỷ xuân hạ thu đông, xuân nói về sinh, hạ nói về trưởng, thu nói về thu (hoạch), đông nói về cất giấu. Bốn thiên phụ vào mỗi kỷ cũng đều phối hợp theo trình tự xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng mà trình bày các quan điểm về phép tồn sinh, thể thích mà tăng trưởng, vạn vật thu gom, chết đích đáng; chết có giá trị. Bản mẫu của thiên đầu mỗi kỷ trong thập nhị kỷ và Hạ tiểu chinh đều là sách nông lưu hành trong dân gian. Mạnh xuân là tháng đầu trong lịch nhà Hạ, tức tháng Giêng. Đây là thiên Mạnh xuân, không phải kỷ, các “kỷ” ở sau đều như vậy.

Trong nội dung cuốn sách, dấu ấn mang nội dung của Hà đồ thể hiện trong các đoạn tiêu biểu được trích dẫn sau đây:

Mạnh Xuân kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu xuân: Mặt trời ở vị trí sao Doanh thất. Buổi chiều hôm, sao Sâm ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vĩ ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Giáp Ất (phương đông). Vị đế vương tương ứng với tháng này là Thái Cao thị (dựa vào Mộc đức mà xưng vương), vị thần đối ứng tháng này là Mộc thần Câu mang, động vật tiêu biểu của tháng này là loài có vảy; thanh âm tháng này lấy âm giốc (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu, âm luật tháng này phù hợp với Thái Thốc (một trong lục luật). Con số đối ứng với tháng này là 8 (số của Thiếu dương), vị đối ứng của tháng này là vị chua; mùi đối ứng với tháng này là mùi tanh.

Mạnh Hạ kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa hạ: Mặt trời ở vị trí của sao Tất. Buổi chiều hôm sao Dực ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vụ Nữ ở phương Bính Đinh (phương Nam). Vị đế vương tương ứng tháng này là Viêm Đế (dựa vào Hỏa đức mà xưng vương). Vị thần đối ứng tháng này là Hỏa thần Chúc Dung. Động vật tiêu biểu tháng này là loài chim có lông vũ. Thanh âm tháng này lấy âm Chủy (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Trọng Lữ. Con số đối ứng tháng này là 7. Đặc điểm của tháng này là lễ tiết. Sự việc tháng này là xem.

Mạnh Thu kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa thu: Mặt Trời ở vị trí của sao Dực. Buổi chiều hôm sao Đẩu ở phương chính Nam. Mặt Trời tháng này ở phương Canh Tân ( phương tây). Vị đế vương ứng với tháng này là họ Thiếu Hão (lấy đức Kim mà xưng vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Kim thần Nhục Thu (tên là Cai). Động vật tiêu biểu tháng này là loài thú có lông mao. Thanh âm tháng này lấy Thương làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Di Tắc (một trong lục luật). Con số đối ứng tháng này là 9 (số của Thiếu âm). Vị tương ứng tháng này là vị cay. Mùi tương ứng tháng này là mùi tanh. Tế tự tháng này ở cửa.

Mạnh Đông kỷ

Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa đông: Mặt trời ở vị trí của sao Vĩ. Buổi chiều hôm sao Nguy ở phương chính nam, buổi sáng sớm Thất tinh ở phương chính nam. Mặt Trời tháng này ở phương Nhâm Quý (phương bắc). Vị đế vương ứng với tháng này là Chuyên Húc (lấy đức Thủy mà xưng vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Huyền Minh (Thủy thần). Động vật tiêu biểu tháng này là loài giáp giới (đại biểu là Rùa). Thanh âm tháng này là Vũ (một trong ngũ âm). Âm luật tháng này hợp với tháng này hợp với Ứng Chung (một trong lục lã). Con số của tháng này là 6. Vị tương ứng tháng này là vị mặn. Mùi tương ứng tháng này là mùi mục. Tháng này tế tự đất trong cửa. Lúc tế tự, trước phải dâng thận. Tháng này, nước bắt đầu đóng băng, đất bắt đầu đông giá. Gà rừng xuống nước biến thành con sò. Cầu vồng ẩn náu không xuất hiện. Tháng này Thiên tử ở trong phòng đầu tây của nhà hướng bắc, ngồi xe đen, thắng xe bằng ngựa đen, trên xe có cờ đen, mặc áo đen, đeo ngọc đen làm đồ trang sức. An kê nếp và thịt lợn. Đồ tế khí to mà chúm miệng..

Nếu như trong sách Thượng thư - thiên Cổ mệnh chỉ nhắc đến Hà đồ được vẽ ở vách cung điện nhà Chu một cách mơ hồ, thì Hoàng Đế nội kinh và Lã thị Xuân thu ghi lại những dấu ấn liên quan đến nội dung của nó. Bạn đọc có thể liên hệ các con số, phương vị của Ngũ hành (phần in nghiêng chữ đậm) với hình Hà đồ được trình bày sau đây:

Đồ hình minh họa dấu ấn Hà đồ
trong Lã Thị Xuân Thu

Phần chứng minh trên đây đã chứng tỏ với bạn đọc rằng: Học thuyết Quái khí ứng với 4 mùa được coi là của Kinh Phòng, Mạnh Hỉ phát minh vào đời Hán, thực chất chỉ là sự lặp lại và diễn đạt dưới một hình thức khác những phát kiến đã có từ trước đó. Như vậy, cũng chứng tỏ Hà đồ đã được phát hiện từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông phương và đã được ứng dụng trên thực tế. Nếu cuốn Hoàng Đế nội kinh vấn có một xuất xứ mơ hồ, người ta có thể dựa vào cớ thất truyền để giải thích sự vắng mặt của Hà đồ trải hàng ngàn năm, kể từ đời Hán đến Tống. Nhưng với Lã Thị Xuân Thu là một tác phẩm được coi là của chính vị tể tướng đời Tần- mà khoảng cách thời gian không quá 14 năm cho sự bắt đầu của đời Hán - thì thật là một sự vô lý không thể lý giải nổi bằng tính thất truyền. Hơn nữa, trên thực tế 12 kỷ trong Lã thị Xuân Thu cũng chính là thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ ; tức là dấu ấn của Hà đồ cũng nằm ở bộ sách này.
Như vậy, cả ba cuốn sách Hoàng đế nội kinh, Lã thị Xuân thuLễ ký đều mang dấu ấn của Hà đồ lưu truyền từ thời Hán cho đến Tống - là thời điểm Hà đồ được công bố. Nhưng trong cả ba cuốn sách nói trên không hề có sự liên hệ lý giải tính ứng dụng của nó và cho đến nay Hà đồ vẫn còn là điều bí ẩn. Dấu ấn của Hà đồ trong những chứng minh ở trên đã chứng tỏ sự ứng dụng của nó ở những cổ thư trước Tần. Nhưng kể từ thời Hán cho đến ngày hôm nay, người ta vẫn cho rằng: “...thời tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không vẫn là một câu hỏi”. Điều này đã chứng tỏ rằng: không hề có tính kế thừa là một điều kiện cần thiết để chứng tỏ tính phát triển liên tục của một nền văn minh. Nó cũng chứng tỏ tính công bố và phát hiện của các học giả thời Tống về đồ hình Hà đồ, khi dấu ấn sự ứng dụng của Hà đồ đã có ở những cổ thư trước Tần.
Đến đây, xin lưu ý bạn đọc về hiện tượng ứng dụng của Hà đồ sẽ liên quan đến một số vấn đề được chứng minh ở phần sau trong sách này là:
@ Về những độ số được ứng dụng: Ở hai hành Kim và Hỏa lấy độ số Dương- số lẻ (Hỏa 7, Kim 9, thể hiện bằng màu đỏ); ở hai hành Thủy và Mộc lấy độ số Âm - số chẵn (Thủy 6, Mộc 8, thể hiện bằng màu đen).
@ Hà đồ chính là căn nguyên của sự ứng dụng liên quan đến Địa cầu thể hiện ở thời tiết và sự liên quan đến con người.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Chương IV: Một số ý kiến của các học giả cổ kim về những vấn đề căn nguyên trong kinh dịch. Hậu thiên bát quái và hệ thống 64 quẻ chu dịch. Căn nguyên ...

Chương III: Một số quan điểm khác nhau về thời điểm xuất xứ và tác giả của kinh Dịch. Như phần trên đã trình bày, mặc dù hầu hết các học giả khi ...

Chương II: Tóm tắt nội dung và những ký hiệu căn bản của kinh dịch trong cổ thư chữ Hán. Kinh Dịch được truyền lại từ đời Hán là bản Chu dịch, gồm có ...

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...