Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần II - 3

Ngày đăng: Thứ tư 18/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

 

Nếu cấu trúc đồ hình Hậu thiên Bát quái hợp lý, đoạn kinh văn trên rõ ràng thì không có gì để bàn. Nhưng mọi sự phân tích, tìm hiểu về nội dung đoạn kinh văn trên đều khiên cưỡng với nghĩa đen của nó. Để bạn đọc khỏi lật lại trang sách, xin trích lại đoạn kinh văn trong Thuyết quái.

Thuyết quái truyện – Tiết 5:

Đế xuất hồ Chấn; Tề hồ Tốn; Tương kiến hồ Ly; Trí dịch hồ Khôn; Duyệt ngôn hồ Đoài; Chiến hồ Càn; Lao hồ Khảm; Thành ngôn hồ Cấn.

Qua đoạn kinh văn trong Thuyết quái trình bày với bạn đọc ở trên, thì đó chính là trình tự của quái vị Hậu thiên được lưu truyền, bắt đầu từ quái Chấn, thứ tự theo chiều thuận kim đồng hồ. Để bạn đọc khỏi lật lại trang sách xin xem hình minh họa dưới đây:

Nhưng nội dung trực tiếp của nó thì lại hoàn toàn không phải để hướng dẫn sự sắp xếp quái vị Hậu thiên (xin được trình bày rõ hơn ở phần III, trong sách này). Trong đồ hình Bát quái Hậu thiên không có sự đối xứng Âm dương qua tâm so với Bát quái Tiên thiên. Bát quái Tiên thiên – tiền đề của Bát quái Hậu thiên – đã chứng tỏ tính cân đối là nguyên lý căn bản của kinh Dịch. Vì vậy, đã có những nhà nghiên cứu hoài nghi tính chân xác trong cấu trúc phương vị của đồ hình Hậu thiên và đã tìm cách sắp xếp lại quái vị. Nhưng giáo sư tiến sĩ Hoàng Phương đã chứng minh tính hợp lý của đồ hình Hậu thiên Bát quái được coi là của Chu Văn Vương, như đã trình bày trong phần trích dẫn ở trên. Sự chứng minh của giáo sư chưa đủ tính hợp lý bởi nhũng điểm sau đây:
@ Giáo sư cho rằng: có sự vật, sự việc vốn thiếu tính cân đối trong hình thức tồn tại. Đây là một luận điểm rất chân xác (và cũng rất đơn giản) trong việc phản ảnh hiện tượng tự nhiên. Nhưng vấn đề ở đây lại là một học thuyết được hình thành trên cơ sở của tính cân đối ngay từ nguyên lý căn bản của nó. Điều này được chứng tỏ trong cấu trúc Tiên thiên Bát quái là tiền đề của Hậu thiên Bát quái.
Kinh Dịch là học thuyết vũ trụ quan lý giải sự hình thành, biến hoá của sự vật, sự việc trên cơ sở tính cân đối làm căn bản để so sánh tính cân đối hay không cân đối của sự vật hoặc sự việc theo quan điểm của nó. Điều này dã được chứng tỏ bằng thuộc tính của từng quẻ, từng hào do sự vận động của quái hoạch trong 64 quẻ tương ứng trong Hậu thiên Bát quái. Nhưng điều đó không có nghĩa quái vị trong Hậu thiên Bát quái phải sai lệch.

Thí dụ: trong Hào từ – quẻ Tiểu Súc viết :

Cửu tam: Dư thoát bức, phu thê phản mục.
Xe rơi trục, vợ chồng lườm nguýt nhau

Rõ ràng thuộc tính của hào cửu tam là “Xe rơi trục, vợ chồng lườm nguýt nhau” đã phản ảnh tính mất cân đối của sự vật, sự việc.
@ Điểm thứ hai là: với công thức tính toán của giáo sư tuy lý giải được tính cân đối giữa hai phần Âm dương của quái vị (tức là gián tiếp thừa nhận tính cân đối là nguyên lý căn bản), phủ nhận một cách hợp lý sự thay đổi phương vị của quẻ Cấn và Khôn theo lập luận của giáo sư Lê Văn Sửu. Bởi vì, với công thức này thì việc đổi phương vị của quẻ Cấn và Khôn như giả thuyết của giáo sư Lê Văn Sửu sẽ tạo nên sự mất cân bằng Âm dương. Nhưng công thức của giáo sư Hoàng Phương vẫn chưa phủ nhận được sự cần thiết phải thay đổi phương vị của quẻ Tốn và Khôn. Bởi vì, nếu đổi phương vị của hai quẻ này vẫn không làm thay đổi tính cân đối giữa hai phần Âm dương mà giáo sư chứng minh. Hay nói cách khác, với công thức của giáo sư Hoàng Phương, vẫn chưa giải quyết được vấn đề sự sai lệch vị trí của quẻ Tốn và Khôn. Vì sự thay đổi hai quẻ Tốn & Khôn vẫn bảo đảm tính cân đối theo công thức mà giáo sư đưa ra. Xin bạn đọc xem hình minh họa dưới đây chứng tỏ điều này:

Đồ hình của giáo sư Hoàng Phương

Với công thức của giáo sư Hoàng Phương đưa ra thì

Quẻ Ngoại có tổng số là:

2 (Tốn) + 3 (Ly) + 8 (Khôn) + 5 (Đoài) = 18

Quẻ Nội có tổng số là:

1 (Kiền) + 6 (Khảm) + 4 (Cấn) + 7 (Chấn) = 18

Như vậy, trong công thức của giáo sư đưa ra thì quẻ Tốn & Khôn nằm trong tập hợp quẻ Ngoại. Do đó, nếu đổi chỗ hai quẻ Tốn & Khôn cũng không ảnh hưởng gì đến tổng độ số 18. Xin bạn đọc xem hình minh họa dưới đây đã đổi vị trí Tốn & Khôn để chứng tỏ điều này:

Đồ hình Hậu thiên bát quái
đã đổi vị trí hai quẻ Tốn & Khôn

@ Trong đồ hình dẫn chứng của giáo sư chứng tỏ rằng: ông vẫn liên hệ giữa đồ hình Hậu thiên Bát quái với Lạc thư (qua độ số của Lạc thư trên hình). Nhưng sự liên hệ giữa Hậu thiên Bát quái với Lạc thư là không thể lý giải được, như đã chứng minh ở trên.
Điều quan trọng hơn cả là: Nếu không có một ý niệm căn bản về tính cân đối, thì không có cơ sở nào để nói đến sự mất cân đối.
Như vậy, so sánh cấu trúc đồ hình Hậu thiên Bát quái với nguyên lý căn bản của học thuyết Âm dương là tính cân đối – cân bằng Âm dương – thể hiện ở tiền đề của nó là cấu trúc đồ hình Tiên thiên Bát quái có sự mâu thuẫn. Vấn đề được đặt ra sẽ vô nghĩa, nếu như chỉ dừng lại ở tính cân đối hoặc mất cân đối nói chung. Nhưng sự việc lại không đơn giản như vậy: kinh Dịch (tức Chu Dịch ) mà phần căn bản của nó là kết cấu 64 quẻ Hậu thiên Bát quái lại có một cấu trúc chứng tỏ rằng phương vị của Hậu thiên Bát quái được coi là của Chu Văn Vương làm ra là một sai lầm. Sai lầm này sẽ chứng tỏ: Chu Văn Vương không phải là tác giả của Hậu thiên Bát quái, ông không thể phát minh một sự hợp lý từ một cái vô lý. Vấn đề này sẽ được chứng minh rõ hơn ở phần III.
Đến đây, qua hiện tượng có đến ba nhận định gần như đối lập nhau cùng tồn tại trong một vấn đề (và nhiều vấn đề rất căn bản khác cũng trong tình trạng tương tự) – đã chứng tỏ một cách sắc sảo rằng: kinh Dịch trong cổ thư chữ Hán thiếu hẳn môt hệ thống lý thuyết căn bản, để có thể lý giải một cách hợp lý với chính nó trong những hiện tượng liên quan. Hiện tượng này sẽ không thể giải thích được bằng một lập luận đơn giản là tính thất truyền, vì sự mâu thuẫn ở chính ngay trong sự tương quan trong nội dung của vấn đề. Đối với một bộ xương con khủng long có cách đây khoảng 100 triệu năm (tính thất truyền còn cao hơn nhiều), người ta vẫn có thể phục hồi được hình dạng ban đầu, bởi vì sự tương quan hợp lý trong cấu trúc thân thể đã tồn tại trên thực tế. Chúng ta hãy tưởng tượng rằng: Nếu trong cùng một địa điểm khảo cổ, người ta tìm thấy xương đầu của con khủng long Bạo Chúa, xương sườn của con Lôi long, xương chân của con Đơn Giác long, xương đuôi của con Dực long, mà người ta lại chưa biết gì về hình dáng ban đầu của nó thì tình cảnh sẽ bi đát như thế nào.

Mâu thuẫn trong sự lý giài căn nguyên của Hậu thiên bát quái

Cho đến ngày hôm nay, một sự bí mật vẫn bao trùm lên căn nguyên của Hậu thiên Bát quái. Dựa trên cơ sở nào Chu Văn Vương đã thay đổi quái vị Tiên thiên thành Hậu thiên?
Có nhiều cách giải thích về vấn đề này. Đoạn trích dẫn sau đây trong sách Chu Dịch và dự đoán học (sách đã dẫn – trang 17) để bạn đọc tham khảo :

Hình Tiên thiên Bát quái mà ngày nay ta nhìn thấy là từ hình Tiên thiên của Thiệu Ung đời Tống mà ra. Còn hình Hậu thiên Bát quái là từ “thuyết Quái”, người đời Tống cho là do Văn Vương tạo ra. Ngày nay rất nhiều học giả đưa ra nhiều cách phỏng đoán, vì sao Văn Vương đã sửa Tiên thiên Bát quái thành Hậu thiên Bát quái. Họ cho rằng: Thời nhà Hạ băng tuyết tan, nước biển dâng lên, ngập chìm những khoảng đất lớn, khắp nơi bị ngập nước. Đến đời nhà Chu, hoàn cảnh tự nhiên thay đổi, vận khí trời đất không còn thống nhất với Tiên thiên Bát quái nữa. Cho nên Chu Văn Vương đã sửa Tiên thiên Bát quái thành Hậu thiên Bát quái.

Một cách giải thích nữa cũng khá phổ biến cho rằng: Sở dĩ Chu Văn Vương đổi quái vị đưa quẻ Càn (Trời) về phía Tây Bắc – vì đó là nơi phát tích của nhà Chu – nhằm lôi kéo quần chúng ủng hộ ông trong việc khởi nghĩa chống lại nhà Ân Thương. Đoạn sau đây trích dẫn trong sách Kinh Dich Phục Hy (sách đã dẫn – trang 14) để bạn đọc tham khảo:

Trong Bát quái đồ Phục Hy, quẻ Kiền ở phương chính nam, nhưng trong Bát quái đồ của nhà Chu, quẻ Kiền lại thay quẻ Cấn ở Tây bắc, nơi phát tích nhà Chu, ứng với đất Kỳ Sơn (Thiểm tây, Trung Quốc), mặc dù Tây bắc không phải là phương chính, mà lại là phương chéo.
Quả nhiên, danh từ riêng Kỳ Sơn đã được ghi vào hào Lục tứ của quẻ Thăng (trên Khôn, dưới Tốn):
“Vương dụng hanh vu Kỳ Sơn, cát vô cữu” (Nghĩa: Vua được dùng thông suốt ở Kỳ Sơn. Tốt, không có lỗi)

Trang18 – sách đã dẫn

Việc cha con Chu Văn Vương âm mưu sửa chữa từ BÁT QUÁI ĐỒ truyền thống đến BÁT QUÁI ĐỒ tân đính chắc hẳn muốn tạo ra một tâm lý để lôi kéo, thuyết phục lòng người căm thù vua Trụ hoang dâm, hưởng lạc vô độ khiến dân khổ, hãy ủng hộ nhà Chu sớm ổn định ngôi vàng để cuộc sống được yên lành. Nhà Chu lên cầm chính quyền, thay đổi một số chế độ, lễ nghi theo ký hiệu nhà Chu, như Chu lễ, Chu nhạc, Chu quan, Chu thư, Chu Dịch . Lấy Chu Dịch thay cho Hy dịch mà về sau, có thể từ đời Tống, các nhà lý học gọi BÁT QUÁI ĐỒ – PHỤC HY là TIÊN THIÊN, để phân biệt với BÁT QUÁI ĐỒ của nhà Chu là HẬU THIÊN.

Cách giải thích về căn nguyên của Hậu thiên Bát quái nói trên sai lầm ở những điểm rất căn bản như sau:
@Trong cách giải thích thứ nhất chứng tỏ rằng: căn bản của quái vị nói chung chính là điều kiện thiên nhiên của vùng địa lý sinh sống của người Hoa Hạ. Đến đời Chu, điều kiện thiên nhiên, địa lý khác thời Hạ thì quái vị phải thay đổi. Nếu vậy, thì từ đời Chu đến Hán điều kiện thiên nhiên, địa lý thay đổi rất nhiều. Nhưng cho đến tận bây giờ, sau Hán hơn 2000 năm, quái vị vẫn không thay đổi. Ngược lại Chu Dịch khi được phổ biến khắp thế giới, ở những vùng địa lý khác nhau, vẫn chứng tỏ tính bao quát của nó. Đoạn trích dẫn dưới đây trong sách Kinh Dịch – Đạo của người quân tử (sách đã dẫn, trang 81) chứng tỏ tính bao quát trong sự ứng dụng của Chu Dịch :

Raymond de Becker trong lời giới thiệu bản dịch kinh Dịch của Charles de Harley (lần tái bản năm 1970) cũng nghĩ như Jung. Nếu người xin quẻ thật tĩnh tâm, tập trung tư tưởng vào điều mình muốn hỏi, thì quẻ cho biết được sự diễn biến của tình thế từ trước tới sau có thể sẽ ra sao, và tự mình lựa lấy một thái độ trong mỗi tình thế, tuỳ thái độ đó mà có thể thay đổi một phần nào sự diễn biến của tình thế được. Đó là cái ích lợi của bói Dịch về sự tìm hiểu tâm lý bề sâu (psychologie des profondeurs), tức là tìm hiểu cõi tièm thức.

Như vậy là ở tận bên Tây, hoàn cảnh địa lý khác hẳn, Chu Dịch vẫn chứng nghiệm tính bao trùm trong sự ứng dụng của nó. Điều này chứng minh rằng căn bản của Chu Dịch không lệ thuộc vào vùng địa lý sinh sống của người Hoa Hạ.
@ Trong cách giải thích thứ hai chứng tỏ rằng: căn nguyên của quái vị lệ thuọc vào nơi phát tích của bậc đế vương Hoa Hạ (?). Nếu cứ theo cổ thư chữ Hán thì nhà Hạ có Liên Sơn Dịch, nhà Ân có Qui Tàng Dịch, nhà Chu có Chu Dịch . Nhưng từ Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh sao lại không có các đồ hình Dịch của riêng các triều đại đó?
Với những cách giải thích trên tự thân đã phủ nhận kinh Dịch là một hệ thống vũ trụ quan, mà phải gọi chính xác là: Hoa Hạ địa lý quan, nếu theo cách giải thích thứ nhất; hoặc Chu đế quan, nếu theo cách giải thích thứ hai. Còn nếu vẫn được gọi là vũ trụ quan thì mặc nhiên thừa nhận địa bàn cư trú của người Hoa Hạ (hoặc nơi phát tích của nhà Chu) là trung tâm của sự vận động vũ trụ? Sự lúng túng trong cách giải thích căn nguyên của Bát quái Hậu thiên của các nhà Lý học, một lần nữa lại chứng tỏ rằng: kinh Dịch thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết bản căn. Sự giải thích mơ hồ cho hầu hết mọi vấn đề có tính tiền đề của kinh Dịch trong hơn 2000 năm qua, là cơ sở để đặt lại vấn đề về cội nguồn và nội dung của kinh Dịch. Người viết cho rằng:
Ký hiệu trong kinh Dịch thực chất chỉ là hệ quả của một học thuyết vũ trụ quan cổ. kinh Dịch ra đời nhằm lý giải ảnh hưởng sự vận động của vũ trụ đến cuộc sống, xã hội và con người; từ sự nhận thức  qui luật vận động đó – qua kinh Dịch, con người tìm cách ứng sử phù hợp với qui luật của vũ trụ, hoà nhập với thiên nhiên.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 7
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Chương IV: Một số ý kiến của các học giả cổ kim về những vấn đề căn nguyên trong kinh dịch. Hậu thiên bát quái và hệ thống 64 quẻ chu dịch. Căn nguyên ...

Chương III: Một số quan điểm khác nhau về thời điểm xuất xứ và tác giả của kinh Dịch. Như phần trên đã trình bày, mặc dù hầu hết các học giả khi ...

Chương II: Tóm tắt nội dung và những ký hiệu căn bản của kinh dịch trong cổ thư chữ Hán. Kinh Dịch được truyền lại từ đời Hán là bản Chu dịch, gồm có ...

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...