Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 7

Ngày đăng: Thứ tư 18/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Điều kỳ lạ là Hà đồ lại gắn liền với sự vận động của Ngũ hành như đã trình bày ở trên, mà trong kinh văn của kinh Dịch lại không hề có đoạn nào nhắc tới Ngũ hành. Lịch sử thuyết Âm dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán là một vấn đề quan trọng liên quan đến giả thuyết được trình bày trong sách này. Bởi vậy, không thể không giới thiệu với bạn đọc lịch sử của thuyết Âm dương Ngũ hành theo cổ thư chữ Hán và cái nhìn của các nhà nghiên cứu hiện đại về học thuyết này.

Những vấn đề lịch sử của thuyết Âm Dương – Ngũ hành

Khi nghiên cứu về thuyết Âm dương Ngũ hành, hầu hết các nhà lý học hiện đại đều cho rằng: Âm dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt không liên quan với nhau được phát hiện ở hai thời kỳ khác nhau. Sở dĩ có hiện tượng này bởi những cổ thư chữ Hán chưa hề có một bản văn nào được coi là xuất hiện ở trước thời Tần Hán, thể hiện một cách hoàn chỉnh phương pháp ứng dụng của thuyết Âm dương Ngũ hành, mà chỉ là sự phát hiện rời rạc từng mảng của học thuyết đó, ngoại trừ cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn mà nội dung của nó ghi nhận có xuất xứ từ thời Hoàng Đế (khoảng 3000 năm trước CN).
Quan niệm về lịch sử hình thành thuyết Âm dương & Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán cũng được các học giả nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, quan niệm phổ biến cho rằng: thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt, được chứng tỏ trong đoạn trích dẫn sau đây trong sách Chu Dịch Vũ trụ quan (Giáo sư Lê Văn Quán, Nxb Giáo dục Hà Nội 1995):

Ngũ hành là chỉ năm loại vật chất: mộc, hoả, thổ, kim, thuỷ. Theo hệ thống phân loại sắp xếp của vũ trụ quan truyền thống, thì đây là năm nguyên tố cơ bản cấu tạo thành muôn vật. Nhưng vận dụng quan niệm về Ngũ hành lại đặt chúng ở mối quan hệ giữa năm nguyên tố. Đó là mối quan hệ tương sinh tương thắng (khắc). Vì vậy, người xưa lấy mối quan hệ này làm cơ sở giải thích những hiện tượng biến đổi trong vũ trụ: tự nhiên, nhân sinh, xã hội, chính trị v.v…
Qua các tài liệu “Tả truyện”, “Quốc ngữ”, ở thời đại Xuân Thu, Ngũ hành chỉ năm loại vật chất không thể thiếu trong sinh hoạt. Tư tưởng Ngũ hành đầu tiên lưu hành ở hai nơi Yên, Tề miền biển phía đông Trung Quốc, thời đại nảy sinh sớm nhất không trước Trâu Diễn một thế kỷ, vào thế kỷ thứ V trước CN. Thời đại sinh thời của Trâu Diễn khoảng 350 đến 270 trước CN. Nếu ông ta không phải là người duy nhất khai sáng ra thuyết Ngũ hành, thì ít nhấ cũng là người hệ thống hoá và cố định thêm những tư tưởng có liên quan đến loại này.
Trong sách Thượng Thư, thiên Hồng Phạm cũng đề cập đến Ngũ hành, nhưng không thể ra đời sớm hơn thời đại Trâu Diễn. Sách “Thượng Thư, thiên Hồng Phạm” viết:
“Ngũ hành: nhất viết hoả, nhị viết thuỷ, tam viết mộc, tứ viết kim, ngũ viết thổ. Thuỷ viết nhuận hạ, hoả viết viêm thượng, mộc viết khúc trực, kim viết tòng cách, thổ viên giá sắc. Nhuận hạ tắc hàm, viêm thượng tác khổ, khúc trực tác toan, tòng cách tác tân, giá sắc tác cam”.
(Ngũ hành: một là nước, hai là lửa, ba là gỗ, bốn là kim loại, năm là đất. (Nói về tính) nước thấm xuống dưới, lửa bốc lên trên, gỗ có cong có thẳng, đồ kim khí tuỳ tay người thợ mà đổi hình, đất để cấy lúa và gặt lúa. Nước thấm xuống dưới làm vị mặn; lửa bốc lên trên là vị đắng; gỗ cong hay thẳng là vị chua; đồ kim khí tuỳ tay người thợ đổi hình, vị cay; lúa cấy gặt vị ngọt”.
Quan niệm về Ngũ hành mà sách Hồng Phạm đề cập không thuần tuý dừng lại ở năm loại vất chất cơ bản. Nó đặc biệt chú ý đến mối quan hệ và các thuộc tính của Ngũ hành. Xuất phát từ quan điểm đó, người xưa phân chia Ngũ hành thành năm loại, đó là lý luận nguyên thủy về Ngũ hành. Ngay ở thiên “Hồng Phạm” cũng đã phản ánh thuộc tính có liên quan với Ngũ hành: thuỷ, nhuận hạ tác hàm; hoả, viêm thượng tác khổ; mộc, khúc trực tác toàn; kim, tòng cách tân; thổ, giá sắc tác cam.
(Nước thấm xuống dưới, vị mặn; lửa bốc lên trên, vị đắng; gỗ cong hay thẳng, vị chua; đồ kim khí tuỳ tay người thợ đổi hình, vị cay; đất, lúa cấy gặt, vị ngọt)

Thuyết Âm Dương ngũ hành dung hòa

Thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành phát triển đến thời Tần Hán đã có sự phân biệt khá rõ rệt: Thuyết Âm dương thiên về nguyên lý sinh thành vũ trụ. Thuyết Ngũ hành thiên về phân loại hiện tượng sự vật trong vũ trụ và hệ thống quan hệ giữa những thuộc tính. Hai cái đó hoà vào nhau và trở thành hệ thống giải thích hiện tượng sinh thành vũ trụ, cuối cùng hoàn thành từng bước ở đời Hán.
Thuyết Âm dương Ngũ hành ở thời lưỡng Hán kế thừa tư tưởng thời Tiên Tần, dung hoà và phát triển rộng tạo thành hệ thống giải thích vũ trụ hoàn chỉnh. Các trước tác viết về tư tưởng này có rất nhiều, lưu lại đến ngày nay tương đối đầy đủ và có giá trị, như: Lễ Ký, Hoài Nam Tử, Xuân Thu phồn lộ…v..v…

Qua đoạn trích dẫn trên, xin bạn đọc lưu ý: thiên Hồng phạm trong sách Thượng thư được giáo sư Lê Văn Quán nhắc tới ở trên chính là nói đến Hồng phạm cửu trù mà Khổng An Quốc nói tới. Xin độc giả tiếp tục xem đoạn trích dẫn dưới đây từ trong sách Đại cương triết học sử Trung Quốc (Phùng Hữu Lan, Nxb Thanh Niên 1999, người dịch Nguyễn Văn Dương):

Tại Trung quốc xưa có hai luồng tư tưởng đã cố giải thích cấu tạo và nguồn gốc vũ trụ. Một luồng tư tưởng dựa trên những trứ tác của Âm dương gia, và luồng tư tưởng kia dựa trên vài phần trong “Dịch truyện” do các nhà nho khuyết danh đưa phụ vào bản kinh Dịch nguyên thủy. Hình như hai luồng tư tưởng ấy đã tiến triển độc lập, không liên quan với nhau. Trong thiên “Hồng phạm” và thiên “Nguyệt lệnh” mà ta sẽ xét, Ngũ hành được đề cập mà thấy không nói tới Âm dương; trong “Dịch truyện”,trái lại,chỉ thấy nói tới Âm dương mà không nói tới Ngũ hành. Nhưng về sau, hai luồng tư tưởng ấy hợp làm một. Sự hợp nhất ấy đã thấy vào thời Tư Mã Đàm (chết năm 110 tr.C.N.), khiến cho ông đã gom lại trong bộ Sử ký, dưới tên Âm dương gia.

Âm Dương gia và vũ trụ luận
Nguyên thủy tại Trung Quốc

Trong chương III sách này, tôi có nói rằng Âm dương gia vốn gốc ở những nhà thuật số. Những thuật số gia này ngày xưa được biết đến dưới tên “phương sĩ”. Trong phần “Nghệ văn chí” (quyển 30) của sách Tiền Hán thư, được lập theo bộ Thất lược của Lưu Hâm, những ngành thuật số ấy được gom vào 6 loại.

Sáu ngành thuật số

Ngành thứ nhất là thiên văn. “Thiên văn, theo “Hán thư nghệ văn chí”, là sắp thứ tự hai mươi tám sao, ghi chép sự vận chuyển của năm hành tinh, của mặt trời mặt trăng để ghi những biến tượng lành dữ.”
Ngành thứ hai là lịch phổ. “Lịch phổ, theo thiên ấy, là xếp đặt vị trí bốn mùa, chia đúng các tiết, hiểu giờ của mặt trời mặt trăng của năm hành tinh, để khảo sát lạnh nóng, sống chết... Nhờ luật này. Điều lo về tai ách, điều vui vẻ tốt lành đều biết được rõ rang.”
Ngành thứ ba là về Ngũ hành. “Phép đó, theo “Nghệ văn chí”, cũng bắt đầu từ sự vận chuyển của ngũ đức (năm nguyên tố), suy cho cùng cực thì không có gì là không thấu.”
Ngành thứ tư là bói bằng cỏ thi, và bằng mai rùa, xương bò. Đó là những phép bói chính ở Trung Quốc xưa. Về cách bói sau, thì những thầy bói đục lỗ ở trong vỏ rùa hay trong miếng xương phẳng, rồi đem hơ vào lửa nóng, trên chiếc đũa bằng kim loại, để làm thành những đường nứt phát ra chung quanh lỗ. Thầy bói giải thích những đường nứt ấy theo hình trạng chúng, để trả lời câu hỏi nêu ra. Theo phép thứ nhất, thì thầy bói trộn các nhánh cỏ thi làm thành những tổ hợp về số để có thể giải thích theo Kinh Dịch. Mục đích chính của phần kinh nguyên thủy của sách này là để giải thích như vừa nói.
Ngành thứ năm là ngành tạp chiêm và ngành thứ sáu là hình pháp. Ngành sau này gồm ngành xem tướng và ngành mà về sau người ta gọi là “phong thuỷ”. Phong thuỷ được căn cứ vào khái niệm con người là sản vật của vũ trụ. Do đó, nhà cửa hay mồ mả phải được bài trí theo cách nào cho hợp với những lực thiên nhiên, nghĩa là với “gió nước”.

Ngũ hành theo Thiên Hồng Phạm

Từ ngữ “Ngũ hành” thường được dịch là: năm yếu tố. Nhưng ta không nên coi chúng là những yếu tố tĩnh, mà nên coi là năm thế lực động có ảnh hưởng trên nhau. Từ “hành”, hoạt động”; cho nên từ ngữ Ngũ hành theo nghĩa đen, có nghĩa là năm hoạt động hay năm tác nhân. Người ta cũng gọi là “ngũ đức”, có nghĩa là năm thế lực.
Từ ngữ Ngũ hành đã có trong một bản văn theo truyền thuyết được viết vào thế kỷ thứ XX tr.C.N (xem kinh Thư phần III, quyển II, thiên I, 3.) Ta không thể chứng minh sự chân thực của bản văn ấy, nhưng dầu có thật, ta cũng không thể chắc chắn rằng từ ngữ Ngũ hành trong ấy có cùng nghĩa với trong các bản văn khác, mà thời đại được định rõ hơn. Sự đề cập đầu tiên thật chính xác về Ngũ hành được thấy trong đoạn khác của kinh Thư (phần V, quyển IV), dưới tên “Hồng phạm”, nghĩa là “khuôn lớn”. Truyền thuyết cho biết rằng thiên “Hồng phạm” thuật lại lời Cơ tử cáo với vua Vũ nhà Chu; Cơ tử là một vương hầu nhà Thương bị vua Vũ lật đổ vào cuối thế kỷ thứ XII tr. C.N. Trong bài cáo, Cơ tử cho những ý của mình là của vua Vũ, người sáng lập nhà Hạ, theo truyền thuyết sống vào thế kỷ thứ XXII tr.C.N. Chúng tôi nêu truyền thuyết này là coi như ví dụ về thể thức theo đó tác giả Kinh Thư đã thử mang lại sự trọng yếu của thuyết Ngũ hành. Về thời đại thật của thiên “Hồng phạm”, thì khoa học hiện đại có ý đặt vào thế kỷ thứ IV hay III.
Trong thiên “Hồng phạm”, ta thấy bản “Cửu trù”, “Thứ nhất trong Cửu trù là Ngũ hành. Thứ nhất trong Ngũ hành là thuỷ, nhì là hỏa; ba là mộc; tư là kim; năm là thổ. (Tính) thuỷ là ướt và xuống; hỏa là cháy và lên; mộc là cong và thẳng; kim là theo và đổi; thổ là để gieo mạ làm mùa….
Trong thiên “Hồng phạm, ta thấy ý niệm Ngũ hành còn ở trong giai đoạn chưa hoàn thành. Tác giả đang còn tư tưởng bằng từ ngữ vật thể có thật như nước, lửa...v.v…, thay vì tư tưởng bằng từ ngữ những lực trừu tượng mang các tên ấy như Ngũ hành được quan niệm về sau. Tác giả cũng cho ta biết rằng nhân gian và tạo vật có liên hệ với nhau; cách cai trị sai lầm của ông vua sẽ tạo ra những hiện tượng bất thường trong trời đất. Lý thuyết này được triển khai đầy đủ về sau bởi Âm dương gia: người ta gọi là thuyết “thiên nhân tương dữ”.
Hai lý thuyết được đưa ra để giải thích lý do của sự hỗ tương ảnh hưởng nói trên. Thuyết thứ nhất thuộc về mục đích luận. Theo thuyết này, thì cách cư xử sai lầm của ông vua làm cho Trời nổi giận. Sự giận của Trời gây ra những hiện tượng bất thường trong tự nhiên, tức là Trời báo trước cho vua biết. Thuyết thứ hai thuộc về thuyết cơ giới. Theo thuyết này, thì cách cư xử sai lầm của vua sẽ tự nhiên gây rối loạn trong trời đất và do đó những hiện tượng bất thường cũng xảy ra một cách máy móc. Toàn thể vũ trụ là một cơ giới. Khi một phần cơ giới ra khỏi trật tự, thì những phần khác cũng bị tổn thương. Thuyết này biểu thị cho tinh thần khoa học của Âm dương gia, còn thuyết thứ nhất phản ánh những nguồn gốc huyền bí.

Nguyệt lệnh

Sau thiên “ Hồng phạm”, tài liệu trọng yếu nhất của Âm dương gia là thiên “nguyệt lệnh”. Thiên này trước hết được thấy chép trong sách Lã thị xuân thu, tác phẩm vào cuối thế kỷ thứ III tr.C.N. Về sau, thiên ấy được đưa vào sách Lễ ký. “Nguyệt lệnh” có tên ấy, vì vốn là quyển sách lịch nhỏ trình bày cho vua và mọi người nói chung, những bổn phận phải làm hàng tháng, để hợp với thời trời. Cách cấu tạo vũ trụ trong thiên này được diễn tả bằng từ ngữ của Âm dương gia. Cách cấu tạo này có tính chất vũ trụ, nghĩa là liên quan tới thời gian và không gian. Người Trung quốc xưa ở về bắc bán cầu, tất phải coi phương nam là phương của sức nóng và phương Bắc là phương của khí lạnh. Vì lý do ấy, Âm dương gia đưa ra sự tương quan giữa bốn mùa và bốn phương. Mùa hè có tương quan với phương nam; mùa đông, phương bắc; mùa xuân, phương đông; mùa thu phương Tây, vì mặt trời ở phương Tây. Phái này cũng coi sự thay đổi của ngày đêm như biểu thị sự thay đổi của bốn mùa trong năm, vào một tỉ lệ nhỏ. Cho nên buổi sáng là tượng trưng cho mùa xuân; buổi trưa mùa hè; buổi chiều mùa thu; buổi tối mùa đông.
Phương Nam và mùa hè thì nóng, vì phương Nam là phương và mùa hè là lúc mà hành hoả mạnh hơn cả. Phương Bắc và mùa đông thì lạnh, vì phương Bắc là phương và mùa đông là lúc mà hành thuỷ mạnh hơn cả; nước lại liên quan tới nước đá và tuyết là vật lạnh. Cũng vậy, mộc là hành mạnh ở phương Đông và mùa xuân, bởi vì mùa xuân là mùa mà cỏ bắt đầu mọc, và vì phương Đông có liên quan tới mùa xuân. Hành kim mạnh ở phương Tây và mùa thu, bởi vì kim khí được coi là cứng và thô, vì mùa thu là gió, cây cỏ hết mùa, và vì phương Tây có liên quan tới mùa thu. Như vậy, bốn trong năm hành đã được cắt nghĩa. Chỉ còn hành thổ là chưa có vị trí mùa. Nhưng theo thiên “Nguyệt lệnh”, thổ là hành chính của Ngũ hành, vì vậy nó được vị trí trung ương của bốn mùa. Lúc mà thổ mạnh là vào một khoảng ngắn giữa mùa hè và mùa thu.
Do lý thuyết vũ trụ ấy, Âm dương gia đã cố giải thích những hiện tượng tự nhiên bằng những từ ngữ vừa thời gian vừa không gian, và còn chủ trương rằng những hiện tượng ấy còn liên quan tới tâm tính con người. Vì vậy, như đã nói ở trên, thiên “nguyệt lệnh” đưa ra những điều qui định mà ông vua phải theo từng tháng, do đó mà có tên “Nguyệt lệnh”.
Vì vậy, người ta nói: “Tháng giêng mùa xuân, gió xuân thổi tan hơi lạnh. Sinh vật nằm im trong mùa đông bắt đầu vùng dậy... Đó là mùa khí trời toả xuống, khí đất dâng lên. Trời đất hoà hợp nhau, cây cỏ đâm chồi nảy lộc.” (Lễ ký, thiên 4)
Bởi vì cách cư xử của người phải hoà hợp với đạo trời trong tháng đó, cho nên “(vua) sai công khanh đại phu ban bố đạo đức, điều hoà mệnh lệnh để làm điều vui, thi ơn cho triều dân... Cấm chặt cây, không được lật tổ... Trong tháng đó, không thể dấy binh; dấy binh ắt bị hoạ Trời. Không dấy binh nghĩa là ta không khởi sự trước.”
Nếu, trong một tháng, ông vua không làm theo khuôn phép tháng đó, mà lại theo quy tắc cư xử hợp cho tháng khác, thì những hiện
tượng bất thường ngoài tự nhiên sẽ xảy ra. “Tháng mạnh xuân mà thi hành mệnh lệnh mùa hè, thì mưa không hợp thời, cây cỏ khô héo, quốc gia luôn có điều sợ. Nếu thi hành lệnh mùa thu, thì dân có bệnh dịch lớn. Gió dữ mưa mạnh sẽ tới... Nếu thi hành lệnh mùa đông, thì nước lụt sẽ làm hại, tuyết sương rơi nhiều.”

Trâu diễn

Trâu Diễn là một nhân vật trọng yếu của Âm dương gia vào thế kỷ thứ III tr.C.N. Theo bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, thì Trâu Diễn là người nước Tề, ở vùng giữa tỉnh Sơn Đông bây giờ. “Viết sách trên mười vạn lời.” Thảy đều thất tán. Nhưng trong bộ Sử ký, Tư Mã Thiên thuật lại khá kỹ lý thuyết của Trâu Diễn.
Theo sách ấy (quyển 74), thì phương pháp của Trâu Diễn là “trước hết thì nghiệm các vật nhỏ mà suy rộng ra cho tới vô hạn”. Hình như chủ điểm của ông là địa lý và sử ký.
Về địa lý, Tư mã Thiên viết: “Trước hết sắp đặt danh sơn của Trung quốc, sông lớn, thung lũng liền nhau; cầm thú, sản vật của sông bãi, món quý của vật loại; từ đó mà suy ra cho đến hải ngoại, ít người thấy được... Bảo rằng nho giả gọi là Trung quốc thì chiếm một phần trong tám mươi một phần của thiên hạ. Gọi Trung quốc là Xích huyện Thần châu... Ngoài Trung quốc, như Xích huyện Thần châu thì có chín châu... Mỗi châu có biển hẹp bao bọc bên ngoài, nhân dân cầm thú không thể qua lại với nhau. Những châu ấy họp lại thành khu. Quanh chín châu, có biển lớn bọc ngoài, tức là nơi trời đất giáp nhau.”
Về quan niệm của Trâu Diễn đối với sử ký, Tư mã Thiên viết: “Trước hết kể việc nay trở lên tới Hoàng Đế, học giả ai cũng thuật. Cùng theo thịnh suy của đời, mà chép điềm tốt xấu, chế độ, suy xa hơn, cho tới khi trời đất chưa sinh, tới chỗ tối tăm mờ mịt chưa có thể khảo tới gốc được... Cho đến khi trời đất phân, thì nói sự vận chuyển biến hoá của Ngũ hành, (những lề lối khác nhau của) chính trị, mọi điềm ứng với mỗi hành.”

Đoạn trích dẫn tiếp theo đây, bạn đọc tham khảo về nguồn gốc của thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành qua tài liệu và nhận xét của ông Thiệu Vĩ Hoa trong cuốn Dự đoán theo Tứ trụ (*):

* Chú thích: Dự đoán theo tứ trụ, Thiệu Vĩ Hoa, Nxb Văn Hóa Thông Tin 1996, trang 38.

1) Khởi nguồn của học thuyết Âm dương:

Sự ra đời của học thuyết Âm dương, từ đời Hạ xa xưa đã hình thành. Điều đó có thể được chứng thực bằng sự xuất hiện hào Dương, hào Âm trong Bát quái của Kinh Dịch. Hào Âm – và hào Dương – trong Bát quái xuất hiện trong sách cổ “Liên sơn” của đời nhà Hạ Trung Quốc, cho nên trong “Sơn hải kinh” có câu: “Phục Hy được Hà đồ, người Hạ nhân đó nói là “Liên sơn”; Hoàng đế được Hà đồ nên người Chu gọi là “Chu dịch”. Tức là nói ở đời Hạ đã có quyển sách về Bát quái liên sơn này, còn Bát quái lại do hai hào cơ bản nhất: Âm và dương cấu thành. Cho nên học thuyết Âm dương bắt nguồn từ nhà Hạ là điều tin được.
Nhân đây muốn nói thêm rằng: giới học thuật ngày nay đối với mối quan hệ của học thuyết Âm dương, Ngũ hành và Bát quái, cũng như sự khởi nguồn và quá trình sự diễn biến của nó, vẫn có những kiến giải khác nhau. Nhà sử học Bàng Phác trong bài “Nghiên cứu về nguồn gốc Âm dương Ngũ hành” (đăng ở mục “bàn về lịch sử văn hoá cổ đại Trung Quốc”, do tạp chí Đại học Bắc kinh xuất bản năm 1986) có nêu: Nguồn gốc của quan niệm Ngũ hành là ở quy bốc của dân tộc Khương, nguồn gốc quan niệm Âm dương là mai bốc là của dân tộc Ngô Việt ở phương nam (tức ở trong “Sở từ” gọi là “Diên bạc”). Bát quái thì bắt nguồn ở Phệ chiêm của dân tộc Chu, tức là trong sách cổ có ghi là lục nhâm mà về sau phát triển thành sáu hào). Do đó ngài Bàng Phác đã căn cứ vào tích Thù Ty Mã ở trong sách cổ mà suy đoán, cho rằng các dân tộc ở phương Bắc và phương Nam thời kỳ cổ đại của Trung Quốc (chủ yếu là nhà Thương, nhà Chu và Việt Sở) do sự thâm nhập văn hoá mà thành, đến thời Chiến quốc do các nhà nho như Khổng tử, Trâu Diễn đã hoà trộn ba nền văn hoá lớn lại với nhau. Đến đời Đổng Trọng Thư nhà Hán mới tập hợp thành học thuyết Âm dương Ngũ hành và cùng với thuật số Bát quái của Chu dịch kết hợp thành học thuyết âm dương Ngũ hành và thành một công trình vĩ đại. Các bài viết của ngài Bàng Phác cách chứng minh chặt chẽ, có giá trị là tác phẩm diễn giải độc đáo. Nhưng giới khảo cổ ngày nay và giới sử học đối với văn hoá cổ đại của đời nhà Hạ, với Liên sơn, Quy tàng vẫn chưa có ý kiến nhất trí trong kết quả nghiên cứu của mình. Các tài liệu và chứng vật cũng không đầy đủ, do đó ở quyển sách này cũng chỉ có thể dựa theo cách nói truyền thống để xác định khởi nguồn của thuyết Âm dương vào thời kỳ nhà Hạ. Nếu sau này phát hiện được những chứng cứ mới đủ để bác bỏ cách nói truyền thống này, cho rằng khởi nguồn của học thuyết Âm dương ở thời đại về sau hơn thì chúng tôi cũng sẽ tuân theo chân lý mà không sửa đổi những luận điểm trong sách này

Đoạn trích dẫn dưới đây trong sách Chu Dịch với dự đoán học (sách đã dẫn, trang 94). Bạn đọc tham khảo những ý kiến khác nhau về xuất xứ của thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành.

Khởi nguồn của học thuyết ngũ hành

Sự ra đời của học thuyết Ngũ hành, trong giới học thuật vẫn còn là một vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Ba loại ý kiến rất đối lập nhau như sau:
Giới Dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết Âm dương. Nhưng giới sử học lại cho rằng người đầu tiên sáng lập ra học thuyết Ngũ hành là Mạnh tử. Trong cuốn “Trung Quốc thông sử giản biên” của Phạm Văn Lan đã nói: “Mạnh tử là người đầu tiên sáng lập ra học thuyết Ngũ hành, Mạnh tử nói năm trăm năm tất có vương giả hưng, từ Nghiêu Thuấn đến Vu Thang là hơn năm trăm năm... Từ Văn Vương đến Khổng tử lại hơn năm trăm năm... Hầu như đã có cách nói tính toán về Ngũ hành. Sau Mạnh tử một ít, Trâu Diễn đã mở rộng thuyết Ngũ hành trở thành nhà Âm dương Ngũ hành”. Nói học thuyết Ngũ hành do Mạnh tử phát minh là không có chứng cứ xác thực. Điều này chính Phạm Văn Lan đã tự phủ định mình. Trong cùng một chương của cuốn sách trên ông đã nói: “Mặc (*) tử không tin Ngũ hành, bác bỏ thuật chiêm bốc dùng ngũ sắc thanh long để định cát hung, điều đó đủ thấy thời Đông Chu thuyết Ngũ hành đã thông dụng rồi, đến Trâu Diễn đặc biệt phát huy”. Mạnh tử là người nuớc Lỗ thời Chiến Quốc mà thòi Đông Chu đã có Ngũ hành rồi, rõ ràng không phải là Mạnh tử phát minh ra Ngũ hành. Có những sách sử nói, học thuyết Âm dương Ngũ hành là Đổng Trọng Thư đời Hán sáng lập ra, điều đó càng không đúng.

* Chú thích: có lẽ sách in sai, có thể là chữ Mạnh.

Giới triết học như Vu Bạch Huệ, Vương Dung thì cho rằng: “Bản văn công khai của Ngũ hành có thể thấy trong sách “Thượng thư” của Hồng Phạm (tương truyền văn tự những năm đầu thời Tây Chu, theo những khảo chứng của người cận đại có thể là thời chiến quốc). Ngũ hành, một thuỷ, hai hoả, ba mộc, bốn kim, năm thổ; thuỷ nhuận dưới, hoả nóng trên, mộc cong thẳng, kim là cắt đứt, thổ là nông gia trồng trọt” (xem “Ảnh hưởng của học thuyết Âm dương Ngũ hành với khoa học truyền thống Trung Quốc”). Qua đó có thấy vấn đề nguồn gốc học thuyết Ngũ hành vẫn là điều chưa sáng tỏ.

Qua những đoạn trích dẫn ở trên, chắc bạn đọc cũng nhận thấy: giữa thời điểm xuất xứ được ghi nhận trong cổ thư với nhận xét của các nhà nghiên cứu có khoảng chênh lệch đáng kể. Khoảng chênh lệch này không phải vài chục, vài trăm năm, mà là vài thiên niên kỷ? Một hiện tượng cần ghi nhận liên quan đến học thuyết Âm dương & Ngũ hành, nhưng ít dược các nhà nghiên cứu nhắc tới trong các sách liên quan đến kinh Dịch. Đó là cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Sự tương quan về nội dung bản văn, không – thời gian lịch sử của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn với giả thuyết được trình bày trong sách này có môt vị trí quan trọng. Bởi vậy, phần tiếp theo đây xin được trình bày với bạn đọc nội dung cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn và những vấn đề liên quan.

Hoàng đế nội kinh tố vấn và lịch sử thuyết Âm Dương – Ngũ hành

Về cổ thư liên quan đến thuyết Âm dương và Ngũ hành còn được nói tới trong một cuốn sách Đông y nổi tiếng, đó là cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Nội dung cuốn sách này diễn tả những cuộc đối thoại giữa Hoàng Đế (*) với Kỳ Bá – là đại thần của ngài – cho thấy một sự ứng dụng thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành vào việc phòng bệnh, chữa bệnh ở thời thượng cổ. Về giá trị của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được những nhà nghiên cứu Trung Hoa ca ngợi như sau:

“Trên thực tế, Hoàng Đế Nội Kinh trong lịch sử Trung Quốc đối với văn hóa Hán Học có ảnh hưởng sâu sắc không thể mất đi, nó cấu thành một truyền thống văn hóa Trung Hoa. Nếu như truyền thống văn hóa thiếu khuyết phần này, chúng ta không thể tưởng tượng tình cảnh của nó vô lý đến mức nào.
Thậm chí ở Trung Quốc cổ đại, người ta còn đem Hoàng Đế Nội Kinh với Đạo Đức kinh của Lão tử, Nam Hoa kinh của Trang tử, Chu Dịch ra so sánh với nhau, mọi người không chỉ xem nó là một cuốn sách y học bình thường.
Người xưa xem Hoàng Đế Nội Kinh là: “Thượng cùng ở Trời, hạ cực ở Đất, xa xét vạn vật, gần nắm bản thân, biến đổi khó lường”. Cơ hồ như mọi việc trời đất không gì là không bao lấy”. (**)

* Chú thích: Hoàng Đế - vị vua truyền thuyết vào thời tối cổ của Trung Quốc, có niên đại ước tính khoảng 3000 trước CN sau Phục Hy, Thần Nông, trước vua Đại Vũ khoảng I000 năm.
** Chú thích: Hoàng Đế Nội Kinh với suy đoán vận khí, Đàm Hiền Mậu biên soạn, Nxb Văn hóa Thông tin 1998.

Trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn hoàn toàn sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương – Ngũ hành. Để chứng tỏ điều này, xin bạn đọc xem đoạn sau đây trong phần Lục Nguyên chính kỷ đại luận:

“Trước lập năm ấy, lấy tỏ khí ấy,số của vận hành của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ hóa của lạnh, nóng, khô, ẩm, gió, hỏa đến ngự, thì đạo trời có thể thấy, dân khí có thể điều, Âm dương co duỗi, gần mà không cảm, có thể đếm số ấy.”

Bạn đọc có thể tìm thấy dấu ấn của thuyết Âm dương và Ngũ hành trong khắp cuốn sách, tự thân nội dung của nó đã chứng tỏ thuyết Âm dương – Ngũ hành đã được ứng dụng từ thời Hoàng đế (khoảng 3000 năm trước CN). Nhưng những nhà nghiên cứu hiện đại lại cho rằng cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn ra đời vào thời Xuân thu Chiến quốc (?). Đoạn sau đây được trích trong cuốn Hoàng Đế Nội Kinh với suy đoán vận khí (sách đã dẫn).

Hoàng Đế Nội Kinh được viết thành sách vào khoảng thời kỳ Xuân thu Chiến quốc, nên trong sách tư tưởng chỉ là chủ nghĩa duy vật cổ đại, xuất phát từ quan niệm chỉnh thể và tổng kết của người xưa qua kinh nghiệm phong phú đấu tranh với bệnh tật, xây dựng nên cơ sở lý luận của y học Trung Quốc”.

Như vậy, qua các đoạn trích dẫn trên bạn đọc cũng nhận thấy rằng: nội dung của cuốn Hoàng đế nội kinh tố vấn là sự ứng dụng của thuyết Âm dương - Ngũ hành đã có từ thời Hoàng đế; tức là trước thời vua Đại Vũ phát hiện ra Lạc thư trên lưng rùa ghi dấu ấn của Ngũ hành hơn 1000 năm. Các nhà nghiên cứu đã đặt thời điểm xuất hiện của cuốn sách này vào thời Xuân thu Chiến quốc, tức là sau đó hơn 2000 năm so với thời điểm nội dung của nó.
Đây là một hiện tượng mong được bạn đọc lưu ý vì những vấn đề liên quan ở phần sau.

 

Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời giới thiệu
  2. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  4. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - 6
  10. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần I - Phụ chương
  11. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II
  12. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 1
  13. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 2
  14. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 3
  15. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 4
  16. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 5
  17. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 6
  18. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 7
  19. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - 8
  20. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần II - Lời kết
  21. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III
  22. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 1
  23. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 2
  24. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 3
  25. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 4
  26. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 5
  27. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 6
  28. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - 7
  29. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần III - Phụ chương
  30. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV
  31. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 1
  32. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 2
  33. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 3
  34. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 4
  35. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 5
  36. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 6
  37. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 7
  38. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 8
  39. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 9
  40. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 10
  41. Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - Phần IV - 11

Bài viết cùng chuyên mục

Chương IV: Một số ý kiến của các học giả cổ kim về những vấn đề căn nguyên trong kinh dịch. Hậu thiên bát quái và hệ thống 64 quẻ chu dịch. Căn nguyên ...

Chương III: Một số quan điểm khác nhau về thời điểm xuất xứ và tác giả của kinh Dịch. Như phần trên đã trình bày, mặc dù hầu hết các học giả khi ...

Chương II: Tóm tắt nội dung và những ký hiệu căn bản của kinh dịch trong cổ thư chữ Hán. Kinh Dịch được truyền lại từ đời Hán là bản Chu dịch, gồm có ...

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...