Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 6

Ngày đăng: Thứ tư 18/06/2008 12:00:00 (GMT +7)

Người viết xin được trích dẫn ra đây để bạn đọc tham khảo những vấn đề liên quan đến Lạc thư – Hà đồ. Sách Bí ẩn của Bát quái (Nxb Văn hóa Thông tin 1993 – Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường – người dịch Trần Đình Hiến – dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc Nhân dân Quảng Tây xuất bản xã) viết:

“Hà đồ, Lạc thư là gì? Từ xưa đến nay có rất nhiều người thử tìm hiểu mong tìm ra câu giải đáp, đã hình thành môn Hà đồ học, nhưng chưa có ai giải đáp được câu hỏi này.
Trong thư tịch cổ, Thượng thư, Cố mệnh là sách ghi chép sớm nhất về Hà đồ, chép rằng sau khi Văn Vương chết, tại chái nhà phía đông có trưng bày Hà đồ, Cố mệnh truyện gắn Hà đồ với Bát quái; Hà đồ Bát quái; Phục Hi cầm đầu thiên hạ, có con long mã nhô lên mặt nước, do đó phỏng theo văn của nó mà vẽ Bát quái, gọi là Hà đồ. “Xuân thu vĩ” thì tán thưởng: “Hà thông với Càn (trời), nhô lên hoa thần; Lạc chảy vào Khôn (đất), nhả địa phù”. Ngay cả “Chu Dịch. Hệ từ” cũng chép: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân lấy đó làm chuẩn tắc”.
Từ thời Hán đến thời Tống, luôn luôn có những cuộc tranh luận về Hà đồ Lạc thư. Đến khi Chu Hi biên soạn “Dịch học khởi mông”, thì mới có kết luận sơ bộ, còn như thời Tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không, thì vẫn là một câu hỏi.”

Có lẽ cổ thư chữ Hán viết về Lạc thư – Hà đồ rất nhiều, vì Lạc thư – Hà đồ được coi là căn nguyên của kinh Dịch. Ngoài đoạn trích dẫn trên, xin được trích dẫn đoạn sau đây trong Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương (sách đã dẫn, trang 80) để bạn đọc ý niệm về sự bi ẩn của hai đồ hình này.

“Long mã là một con ngựa giống như rồng. Nói mã đồ tức là nói chuyện con long mã mang tấm đồ xuất hiện trên sông Hà thời Phục Hi. Về sau, khi Đế Nghiêu lên ngôi, long mã lại xuất hiện, mình xanh mà vằn đỏ, có mang sắc mệnh của trời ban cho nhà vua để trị thiên hạ, trong đó ghi rõ việc hưng vong (Từ Nguyên – theo sách Thượng thư trung hậu). Linh qui là con rùa thiêng; thiêng vì người xưa thường dùng nó vào việc bói toán có tính cách thiêng liêng huyền nhiệm. Và qui thư tức là Lạc thư. Theo sách Kỳ môn ngữ tổng qui thì con long mã cao tám thước năm tấc (thước Tàu), xương cổ dài, cánh bên phải nhúng xuống nước mà không ướt, trên đó thánh nhân để bức cổ đồ (tấm đồ xưa). Long mã xuất hiện trên sông Mạnh Hà còn gọi là Mạnh Độc thuộc huyện Vũ Tiến, tỉnh Giang Tô, Trung Hoa.
Những tài liệu của Từ Nguyên trên đây tỏ ra khá tỉ mỉ, khá đầy đủ và rõ ràng. Nhưng, thực ra xuất xứ của Đồ Thư vẫn bao trùm bí mật và hoài nghi. Bởi vậy nhiều cuộc bàn cãi sôi động của tiên nho càng ngày càng gây thêm hào hứng. Nhiều bộ sách cổ từ đời xửa đời xưa được lôi ra để chứng minh những xuất xứ lạ kỳ quái đản. Mâu thuẫn càng tăng, dị biệt càng lắm, thì bí mật càng thêm bí mật.
Sách Tống thư Phù Thuỵ Chí kể rằng: “Khi vua Vũ quan sát sông Hà để trị thuỷ, thấy một người mình cá rất dài xuất hiện. Người này nói; ta là Hà tinh đây! Nói xong, trao Hà đồ cho vua Vũ, bàn việc trị thuỷ xong, bèn lui xuống vực sâu”.
Sách Vĩ thư phần Xuân Thu, thiên Nguyên Mạnh Bào lại kể khác: “Vua Nghiêu ra chơi hai sông Hà, Lạc thấy một con rồng đỏ mang tấm đồ xuất hiện. Sách Thương thư Trung hậu không bảo vua Nghiêu, vua Vũ, mà lại bảo: vua Thuấn đến Hạ Tắc thì thấy con rồng vàng mang đồ xuất hiện. Sách Luận ngữ sấm ngôn trái lại bảo: khi cả vua Nghiêu và Thuấn cùng đi chơi tới sông Hà và núi Thủ thì thấy năm ông lão báo cáo cái ngày con long mã ngậm tấm đồ xuất hiện. Đến sách Hà đồ, Thiên đính tả phụ thì Nghiêu, Thuấn, Vũ đều không phải cả mà lại là Hoàng Đế. Sách này nói Thiên Lão (tên một vị quan) tâu với Hoàng Đế: sông Hà có long đồ, sông Lạc có qui thư. Nhà vua nghe lời, ra chơi sông Thuỵ Quỉ thấy một con cá lớn xuất hiện. Khi cá lặn thì tấm đồ hiện ra.
Sách Trúc Thư kỷ niên còn ghi trường hợp Thiên Lão còn tâu với Hoàng Đế như sau: “Năm thứ 50, đời vua Hoàng Đế sương mù dày đặc. Nhà vua hỏi thì Thiên Lão thưa: trời muốn cho Ngài những điều huấn giáo quan trọng, Ngài chớ nên phạm. Trời bỗng mưa lớn Hoàng Đế được đồ thư. Vì tích này nên Lý bạch mới viết câu: Thiên Lão trưởng đồ trong bài Đại Lạp phú.
Nhưng phải đến Sơn Hải kinh của Quách Phác thì sự ngạc nhiên của chúng ta mới lên tới cùng độ. Sách này ghi rằng ở cả 3 đời Phục Hy, Hoàng Đế, và Liệt Sơn thị (tức Thần Nông) đều có Hà đồ xuất hiện cả. Vì vậy, Lý Quá trong Tây Khê dịch thuyết mới cho biết mỗi khi thánh nhân ra đời thì Hà đồ xuất hiện, chứ chẳng riêng gì đời Phục Hy. Ông nói: “Căn cứ theo Sơn Hải kinh, ta thấy Phục Hy được Hà đồ thì Hạ Hậu nhân đó nói Liên Sơn; Hoàng Đế được Hà đồ thì người Chu nhân đó nói Chu dịch. Như vậy, Hà đồ không phải đặc xuất ở đời Phục Hy. Đức Khổng tử nói: “Chẳng thấy tấm đồ xuất hiện trên sông Hà thì đời ta hết rồi”. Câu nói đó có nghĩa là cứ hễ thánh nhân ra đời thì Hà đồ xuất hiện. Bởi thế nên Phục Hy, Hoàng Đế và Liệt Sơn thị đều được Hà đồ mà làm Dịch”.
Thật là loạn! Hậu thế chẳng biết sở cứ vào đâu! Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn đều là những vì vua thời thái cổ. Chữ nghĩa lúc đó chưa có, biết lấy gì ghi chép thành sách để tin dùng? Do đó, hậu thế viết sách bất quá chỉ nghe truyền thuyết. Mà truyền thuyết thì mỗi nơi một khác, chẳng ai giống ai, nhất là thời xa xưa đó, còn ở thời man rợ, loài người sống thành bộ lạc, tri thức nông cạn, chỉ ham mê vu nghiên ma thuật, thì làm sao mà Đồ, Thư có một xuất xứ rõ ràng đích xác được, đó là lẽ tất nhiên!
Duy có một điều gây thắc mắc cho chúng ta ngày nay là đứng trước sự hỗn loạn của những truyền thuyết đó, tại sao Hán nho như Khổng An Quốc, Lưu Hâm, v.v… lại dám quả quyết Đồ xuất hiện ở sông Hà đời Phục Hy; Thư xuất hiện ở sông Lạc, đời Đại Vũ. Chính sự võ đoán nho gia đầu tiên phát huy Dịch thuyết này đã gây nên những cuộc bàn cãi sôi nổi, những lời phê bình chỉ trích kịch liệt về sau, nhất là khi hậu thế không thể tin ở truyền thuyết mà chỉ biết căn cứ vào lời của Khổng tử trong Dịch Hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà, Thư xuất hiện ở sông Lạc, đấng thánh nhân bắc chước theo và đem ứng dụng”.
Hán nho có phải là người đầu tiên đã quả quyết như trên khiến hậu thế có người – Tiền Nghĩa Phương đời Nguyên – lên án họ là tội nhân của Dịch mà người đầu tiên chính là Khổng An Quốc (Khổng An Quốc thành Dịch chi tội nhân).
Phải hay không, ta chỉ cần xem chú giải của Từ Nguyên qua hai chữ Hà đồ và Lạc thư thì rõ ngay.
Đây chú giải chữ Hà đồ: “Khi Phục Hy làm vua thiên hạ, thấy con long mã mang tấm đồ xuất hiện trên sông Hà bèn bắt chước những vằn nét của nó để vạch ra Bát quái. Vằn nét của nó thì 1 và 6 ở dưới, 2 và 7 ở trên, 3 và 8 ở bên tả, 4 và 9 ở bên hữu, còn 5 và 10 ở giữa. Hà đồ còn là tên của một bộ sách ghi những lời sấm truyền đời xưa, do người đời Minh biên tập trong sách cổ vĩ thư. Sách này còn có nhiều thiên: Quát Địa tượng, Thủy Khai quan, Giáng tượng, Kế Hạ câu, Đế Lãm hi, Đĩnh Tá phụ, Hà đồ ngọc bản, Long Ngư Hà đồ v.v… Lại còn có Lạc thư sấm gồm những thiên: Linh Hoài thỉnh, Trích Lục tích, Lục Vân pháp, v.v… Sách này cùng với sách Hà đồ phụ tá lẫn nhau, cho nên đời mới gọi là sách Hà Lạc đồ sấm. Sách này đã mất từ lâu. Có người cố sưu tầm lại, nhưng còn thiếu sót rất nhiều. Tùy thư Kinh tịch chí chép Hà đồ 20 quyển, Hà đồ long văn một quyển. Đời Lương, Hà đồ, Lạc thư có 24 quyển, mục lục 1 quyển. Cả hai đều nói: những sách đó xuất hiện từ đời Tiền Hán, có Hà đồ 9 thiên, Lạc thư 6 thiên; rồi từ Hoàng Đế đến Chu Văn Vương lại có thêm 30 thiên khác nữa. Hai sách trên còn nói: từ lúc sơ khởi đến Khổng tử, những lời thêm pha vào lời 9 bậc thánh được bọn tục nho lấy làm chuộng đem ra học hỏi khảo sát cho nên thiên, mục càng ngày càng nhiều mãi. Đời Tống, đời Lương mới bắt đầu cấm. Tùy Dạng đế còn cho tìm sách đốt đi; nếu ai phạm pháp sẽ bị xử tử. Từ đó những sách này mới không ai học nữa”.

Điều đặc biệt đáng lưu ý ở đây là: trong kinh Dịch lưu truyền từ đời Hán không hề có một chữ nói đến Ngũ hành, tuy có nói đến Lạc thư – Hà đồ. Nhưng khi các nhà lý học thời Tống công bố đồ hình Lạc thư – Hà đồ thì lại cho rằng Lạc thư – Hà đồ có liên quan đến Ngũ hành. Đoạn sau đây được trích trong phần “Lời bàn của Tiên Nho” trong cuốn Kinh Dịch (Nxb T/p Hồ Chí Minh 1992, bản dịch của Ngô Tất Tố) chứng tỏ điều này:

“Thiệu Ung nói rằng: Tròn là hình sao, số của lịch kỷ có lẽ gây từ đó chăng? Vuông là hình đất, những cách chia châu, đặt “tỉnh” có lẽ phỏng theo đó chăng?
Bởi vì tròn là số của Hà đồ, vuông là nét của Lạc thư, cho nên vua Hy, vua Văn, nhân đó mà làm kinh Dịch, vua Vũ, ông Cơ, theo đó mà làm ra thiên Hồng phạm.
Chu Hy nói rằng: Trong khoảng trời đất, chỉ có một vật là khí: chia ra làm hai, thì là Âm, Dương; năm hành gây dựng, muôn vật trước sau, đều bị cai quản ở đó. Cho nên ngôi của Hà đồ, một và sáu cùng tông mà ở về Bắc, hai và bảy làm bạn mà ở về Nam, ba và tám đồng đạo mà ở về Đông, bốn với chín thành lứa mà ở về Tây, năm và mười giữ lẫn cho nhau mà ở chính giữa. Nghiã là cái số của nó, chẳng qua chỉ có một Âm, một Dương, một lẻ, một chẵn, để làm gấp đôi năm hành mà thôi.
Gọi là trời, tức là khí dương nhẹ trong, ngôi ở bên trên; gọi là đất, tức là khí Âm nặng đục, ngôi ở phía dưới. Số dương lẻ, cho nên một, ba, năm, bảy, chín, đều thuộc trời, đó là số của trời có năm. Số Âm chẵn, cho nên hai, bốn, sáu, tám, mười, đều thuộc về đất, đó là số của đất có năm. Số của trời và số của đất, đàng nào theo loại đàng ấy, mà cũng tìm nhau. Ngôi “Năm” tương đắc với nhau là thế.
Trời lấy số một mà sinh hành Thủy, đất lấy số sáu mà làm cho thành; đất lấy số hai mà sinh hành Hỏa, trời lấy số bảy mà làm cho thành; trời lấy số ba mà sinh hành mộc, đất lấy số tám mà làm cho thành; đất lấy số bốn mà sinh hành Kim, trời lấy số chín mà làm cho thành, trời lấy số năm mà sinh hành Thổ, đất lấy số mười mà làm cho thành. Đó là các số đều có hợp nhau”.

Trong cuốn Mai Hoa Dịch (Thiệu Khang Tiết – Nxb Văn hóa Thông tin 1995, người dịch Ông Văn Tùng, dịch từ nguyên bản do Nxb Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc xuất bản) phần chú thích – phần này do các nhà nghiên cứu hiện đại của Trung Quốc phụ trách – cũng viết:

Do đó Dịch Hệ từ thượng nói: số trời có 5 số. Số đất có 5 số. 5 ngôi cùng tương đắc mà hợp với nhau, số trời là 25, số đất là 30, tổng số trời đất là 55. Các số ấy tạo nên sự biến hoá và điều hành quỷ thần. Theo Chu Hy 5 ngôi tương đắc mà đều hợp với nhau trong Dịch Hệ từ thượng ở trên là chỉ sự xếp đặt 5 cặp số của Hà đồ, cứ một số trời hợp với một số đất, 1 với 6 ở dưới 2 và 7 ở trên, 3 với 8 ở bên trái, 4 với 9 ở bên phải, 5 với 10 ở trung ương (xem hình vẽ).
Hà đồ là bức đồ đầu tiên của kinh Dịch, sự vận hành của nó theo chiều Ngũ hành tương sinh mã Ngũ hành (3 chữ in đậm có lẽ sách in thừa - người viết) vì Ngũ hành có tương sinh thì muôn vật mới luôn luôn tiến hoá biểu hiện sự sinh sinh nối tiếp nhau không ngừng của đạo Dịch.

Qua phần trích dẫn ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy Hà đồ liên quan đến thuyết Ngũ hành. Như vậy, nếu coi Hà đồ là căn nguyên của Bát quái thì thuyết Ngũ hành lại chính là căn nguyên của Hà đồ. Về thuyết Âm dương Ngũ hành liên quan đến Lạc thư – Hà đồ và kinh Dịch, xin được trình bày rõ hơn ở phần III: “Văn minh Văn Lang và bí ẩn của Bát quái”. Nhưng bắt đầu từ sự liên quan bí ẩn này, bạn đọc tiếp tục tìm hiểu lịch sử thuyết Âm dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán qua những đoạn trích dẫn trong các sách nghiên cứu của các học giả ở chương tiếp theo đây.

Hình minh họa Hà đổ cửu cung
Tương quan ngũ hành

Ghi Chú: Dấu (+) biểu thị độ số Dương, tương quan với số vòng tròn trắng trên Hà đồ. Dấu (-) biểu thị độ số Âm, tương quan với vòng tròn đen trên Hà đồ.


Mời xem các bài khác:

  1. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần dẫn nhập
  2. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Lời nói đầu
  3. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Lời giới thiệu
  4. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 1
  5. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 2
  6. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 3
  7. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 4
  8. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 5
  9. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - 7
  10. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần I - Phụ chương

Bài viết cùng chuyên mục

Chương IV: Một số ý kiến của các học giả cổ kim về những vấn đề căn nguyên trong kinh dịch. Hậu thiên bát quái và hệ thống 64 quẻ chu dịch. Căn nguyên ...

Chương III: Một số quan điểm khác nhau về thời điểm xuất xứ và tác giả của kinh Dịch. Như phần trên đã trình bày, mặc dù hầu hết các học giả khi ...

Chương II: Tóm tắt nội dung và những ký hiệu căn bản của kinh dịch trong cổ thư chữ Hán. Kinh Dịch được truyền lại từ đời Hán là bản Chu dịch, gồm có ...

Phần I: Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán và những vấn đề liên quan. Chương I: Tóm lược lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán Tương truyền vào thời ...

Phần dẫn nhập: Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến nay qua cổ thư chữ ...

Lời nói đầu: Trong những sách cổ của nền văn minh Đông phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng dụng được thực hiện với một thời gian ...

Lời giới thiệu: Say sưa miệt mài trên con đường tìm hiểu về nền văn hóa Á Đông, từ tác phẩm “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” rồi ...

Bài viết này tôi tóm lược lại những điểm chính yếu trong tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tôi (phát hành vào dịp Tết Đinh Hợi). Ở đây tôi ráng ...

Kinh Dịch là thành tựu văn hóa kiệt xuất của phương Đông. Từ hơn 2000 năm nay, thế giới thừa nhận đó là sản phẩm của người Trung Hoa. Khoảng 30 năm lại ...

Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu ...